Người theo dõi

Thứ Tư, 16 tháng 4, 2025

Di tích lịch sử văn hóa Đền Suối Thầu xã Bản Luốc

 


Đền Suối Thầu xã Bản Luốc cùng với đền Vinh Quang là một trong hai ngôi đền hiếm hoi được xây dựng trên địa bàn huyện Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang nằm cách trung tâm huyện lỵ Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang 16km. Đền tọa lạc trên sườn một quả núi thuộc thôn Suôi Thầu xã Bản Luốc với tổng diện tích xây dựng là 47m2, xung quanh có những thửa ruộng bậc thang bạt ngàn uốn lượn thuộc khu vực vùng lõi của danh thắng di tích Quốc gia ruộng bậc thang của xã Bản Luốc.

 

Theo những hồ sơ tài liệu và sổ sách ghi chép mà Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Hoàng Su Phì sưu tầm khảo cứu cũng như những truyền thuyết kể rằng: Vào thời điểm trước khi xây dựng đền, tại khu vực thôn Suối Thầu lúc đó có một nhóm hộ gia đình dân tộc Dao áo dài (còn gọi là Dao Tiểu bản) từ thôn Bản Luốc của xã Bản Luốc hiện nay đến lập nghiệp. Khi đó, rừng núi còn hoang vu, cuộc sống người dân gặp nhiều khó khăn, do bệnh tật, sâu bọ phá hoại mùa màng, dã thú hoành hành… Quan trấn thủ địa phương lúc đó là ông Đặng Minh Đông (bí danh Đặng Diễn) đã cho người tìm thầy cúng, thợ, nghệ nhân xây dựng đền và đắp 13 pho tượng thờ các thần linh, cầu cho nhân dân sức khoẻ, mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt, tai qua nạn khỏi, cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Đồng thời, cùng với việc dựng đền đắp tượng, ông Đặng Minh Đông còn hướng dẫn các gia đình người Dao khai hoang làm ruộng bậc thang trồng lúa nước và làm nương dẫy, vì vậy đời sống của các hộ gia đình dần ổn định. Sau khi ông mất, nhân dân trong làng vô cùng tiếc thương, để ghi nhớ công ơn bà con đã đắp thêm pho tượng ông và lập bát hương đưa vào thờ tại đền.

Từ khi được xây dựng đến nay, đền đã qua nhiều lần trùng tu song vẫn giữ nguyên dáng vẻ ban đầu. Hiện nay trong đền còn giữ được cây xà nóc (thượng nương), ngoài hai chữ Phúc và chữ Lộc bằng chữ Hán ở hai đầu, cây xà nóc còn ghi năm xây dựng ngôi đền, phiên âm như sau:

 "Đại Nam quốc, Minh Mệnh tam niên Tuế, thứ Nhâm Ngọ mạnh đông nguyệt, hoàng đạo nhật lập vị..."

Dịch nghĩa: Nước Đại Nam, vào năm Nhâm Ngọ, niên hiệu Minh Mệnh thứ 3 (1822), ngày tốt lập nên... 

Đền có tổng diện tích xây dựng trên 70m2 gồm các hạng mục: Đền và bếp. Qua lời kể của các cụ cao tuổi và các tài liệu còn ghi chép được thì ngôi đền xưa kia tường thưng bằng gỗ, có các hàng chân cột, vì, sà làm bằng gỗ, mái lợp gianh. Trải qua thời gian cũng như biến cố lịch sử nên ngôi đền đã bị hư hỏng và sửa chữa nhiều lần. Năm 2006, nhân dân trong vùng đã trùng tu tôn tạo lại đền trên nền đất cũ, chất liệu chủ yếu bằng đất, gỗ và gạch, gồm có 1 gian với tộng diện tích 33m2, dài 7,5m, rộng 4,4m. Đền có kiến trúc chữ nhất, phía trong có ban thờ đắp bằng đất, phía trên có 14 pho tượng gồm:

+ Tượng bên phải (nhìn từ trong ra) là Ngọc Hoàng (Nhùi Vương – tiếng dân tộc Dao), đầu đội mũ bình thiên, mắt mở to, sống mũi thẳng, miệng tươi cười, mặt đỏ, mặc áo hoàng bào màu vàng, hai tay để trong lòng bụng đỡ gương thần soi chúng sinh. Tượng trong tư thế ngồi trên ngai vàng, cao 1m;

+ Tượng bên trái (trong nhìn ra) là Diêm Vương, đầu đội mũ, lông mày rậm, mắt mở to, sống mũi thẳng, khuôn mặt hồng, áo màu đỏ, xanh và đen, tay phải để úp trên đầu gối, tay trái để ngửa trên đầu gối. Tượng trong tư thế ngồi, cao 95cm.

+ Tượng Ngọc Nữ (đứng bên phải cạnh Ngọc Hoàng), tóc búi tó hai bên, mắt mở to, miệng tươi cười, mặc áo màu xanh, 2 tay dâng tấu sớ trước ngực. Tượng trong tư thế đứng, cao 30cm.

+ Tượng Kim Đồng (đứng bên trái cạnh Diêm Vương), mắt mở to, miệng tươi cười, sống mũi thẳng, mặc áo màu đỏ, xanh, hai tay dâng tấu sớ trước ngực. Tượng trong tư thế đứng, cao 30cm.

+ Ban thờ góc trong bên trái (trong nhìn ra) có 3 pho tượng (tượng Quan Thế Âm toạ ở giữa và 2 tượng hầu cận):

- Tượng Quan Thế Âm, đầu đội bảo quan, mặt trái soan, mắt mở to, sống mũi thẳng, miệng hé mở, tay phải đặt trên đầu gối, tay trái cầm lọ cam lồ trước bụng, chân trái khoanh tròn, chân phải để chống. Tượng cao 70cm, toạ trên ban thờ (cao 30cm, dài 70cm, rộng 55cm), phía trước của ban thờ được gắn ngói mũi hài tạo thành cánh sen màu đỏ.

- Tượng Thiện Tài Đồng Tử, cắt tóc ngắn, mắt mở to, sống mũi thẳng, miệng tươi cười, hai tay chắp trước ngực, mặc áo đỏ, quần xanh. Tượng trong tư thế đứng, cao 35cm.

+ Tượng Thiện Tài Long Nữ, tóc để dài chấm vai, mắt mở to, sống mũi thẳng, miệng hé mở, hai tay chắp trước bụng, mặc áo màu xanh, quần đỏ. Tượng trong tư thế đứng, cao 40cm.

+ Ban thờ góc trong bên phải (nhìn từ trong ra) có 3 pho tượng:

- Tượng thần Sấm Sét (Lôi Thần), có khuôn mặt đen dữ tợn, đầu đội mũ, mắt mở trắng, mũi to, miệng như đang quát tháo, mặc quần áo xanh, cổ áo và đai lưng màu đỏ, tay phải cầm 1 cây huyền trượng giơ ngang vai, tay trái cầm 1 lệnh bài từa tựa thánh giá ngang bụng. Tượng trong tư thế cưỡi mây, cao 81cm.

- Hai tượng hầu cận Lôi Thần đứng 2 bên. Tượng bên trái đầu đội mũ, mắt mở to, miệng hé mở, mặc quần áo xanh, cổ áo và viền ống tay màu vàng đỏ, tay phải cầm cây truỳ, tay trái đặt ngang bụng; tượng bên phải đầu đội mũ, mắt mở to, mặt trái xoan, sống mãi thẳng, mặc áo đỏ, cổ áo viên xanh, quần màu đen đỏ, 2 tay chắp trước ngực. Tượng cao 65cm.

+ Phía ngoài của ban thờ thần Sấm Sét là ban thờ và tượng thần thổ Địa và ông Đặng Minh Đông. Thần Thổ Địa toạ trên bệ, đầu đội mũ, mắt nhìn xuống, mặt đen, miệng tươi cười, mặc áo màu xanh, cổ áo và ống tay áo được viền màu vàng, xanh, đen, quần màu vàng, tay trái đặt úp trên gối, tay phải cầm đính bạc để ngửa trên gối.

+ Đối diện với ban thờ Thổ Địa, ông Đặng Minh Đông là ban thờ Quan Âm và Mẫu. Phía ngoài là tượng Quan Âm ngồi trên lưng hổ, đội bảo quan, mắt mở to, mặt trái xoan, tai vểnh về phía trước, sống mũi thẳng, tay trái để áp vào lòng bụng, tay phải đặt úp lên gối phải, mặc thiên y màu xanh, đỏ, vàng, diên mạo rất đoan nghiêm. Toạ bên cạnh tượng Quán Âm là tượng Mẫu trong tư thế ngồi, mắt hơi nhìn xuống, tai to hơi vểnh về phía trước, ngực để trần, áo và quần màu xanh, 2 tay bế đứa trẻ đang cho bú, có một đứa trẻ ôm chân phải.

 Với người Dao ở khu vực Bản Luốc huyện Hoàng Su Phì luôn coi ông Đặng Minh Đông (hay còn gọi là Đặng Diễn) là vị thần - có vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh của họ để bảo vệ mùa màng và cuộc sống yên lành của dân bản trong vùng, tương tự như Thành Hoàng làng của người Việt ở vùng đồng bằng Bắc bộ. Hàng năm đến ngày 15 tháng 7 âm lịch, nhân dân các thôn thuộc xã Bản Luốc mang lễ vật đến cúng tại đền. Mỗi hộ gia đình đại diện chủ hộ đến lễ, khi đi mang theo 1 con gà hoặc 1 miếng thịt lợn, 1 chai rượu, 1 nắm cơm, vàng hương. Lễ cúng kết thúc, họ tổ chức ăn uống ngay tại đền. Đây cũng là hoạt động mang đậm ý nghĩa nhân văn của cộng đồng người dân tộc Dao xã Bản Luốc huyện Hoàng Su Phì.

 

Năm 2013 đền Suối Thầu xã Bản Luốc đã được tỉnh Hà Giang công nhận di tích lịch sử cấp tỉnh theo quyết định số 1198/QĐ - UBND ngày 20/6/2013 của UBND tỉnh Hà Giang.

 

LÝ LỊCH ĐỀN SUỐI THẦU XÃ BẢN LUỐC - HOÀNG SU PHÌ

 

SỞ VĂN HOÁ TT&DL HÀ GIANG

BẢO TÀNG TỈNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

LÝ LỊCH

DI TÍCH ĐỀN SUỐI THẦU

 (Thôn Suối Thầu II, xã Bản Luốc, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang)

 

I. TÊN GỌI DI TÍCH

Tên nhân dân thường gọi: Đền Suối Thầu.

II. ĐỊA ĐIỂM PHÂN BỐ VÀ ĐƯỜNG ĐI ĐẾN

1. Địa điểm phân bố di tích

Đền Suối Thầu tọa lạc ở lưng chừng núi thuộc thôn Suối Thầu II, đền quay hướng Đông Nam, bao quát toàn bộ thôn Suối Thầu II, xã Bản Luốc, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang.

- Phía Đông và phía Nam: Giáp đất ông Đặng Kiến Sâm.

- Phía Bắc: Giáp đất rừng.

- Phía Tây: Giáp đất ông Bôn Văn Họp.

Xa xưa, vùng đất huyện Hoàng Su Phì thuộc huyện Bình Nguyên (Tuyên Quang). Đến cuối đời Lê, huyện Bình Nguyên đổi là Châu Vị Xuyên thuộc phủ Tương Yên, tỉnh Tuyên Quang. Đến năm 1835, cắt phần đất nằm ở hữu ngạn sông Lô, thành lập huyện mới lấy tên là Vĩnh Tuy (sau đổi là Bắc Quang). Phần đất còn lại gọi là huyện Vị Xuyên với 5 tổng, 31 xã.

Dưới thời Pháp thuộc, trong danh mục các làng xã Bắc Kỳ của Ngô Vi Liễn xuất bản năm 1928 thì Hà Giang có 02 châu: Châu Bắc Quang và Châu Vị Xuyên; 02 đại lý: Đồng Văn và Hoàng Su Phì. Trong đó đại lý Hoàng Su Phì (còn gọi là Hoàng Thụ Bì) gồm các tổng xã:

- Tổng Tụ Nhân: Bản Luốc, Ho Tao, Trung Thịnh, Tụ nhân.

- Tổng Xín Mần (Thành Môn) có Hữu Yên và Man Máy.

Dưới chế độ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, ngày 30/4/1962, một số xã của Hoàng Su Phì được chia thành nhiều xã nhỏ, trong đó xã Tụ Nhân chia thành 5 xã (Tụ Nhân, Đản Ván, Thèn Chú Phùng, Pố Lồ, Chiến Phố); xã Bản Máy chia thành 5 xã: Bản Phùng, Bản Máy, Bản Pàng, Nàn Xỉn, Thàng Tín; xã Chí Cà chia thành 2 xã: Chí Cà, Pà Vầy Sủ.

Ngày 13/12/1962, xã Thèn Chú Phùng đổi tên là Thèn Chú Phìn, đồng thời chia các xã Trung Thịnh thành 6 xã: Việt Thái, Trung Thịnh, Ngán Chiên, Thu Tà, Nàng Đôn, Pờ Ly Ngài; xã Chế Là thành 4 xã: Cốc Rế, Tả Nhìu, Chế Là, Nấm Dẩn; xã Cốc Pài thành 3 xã: Cốc Pài, Nàn Ma, Bản Ngò.

Ngày 1/4/1965, Chính phủ ra Quyết định số 49-CP về việc chia tách huyện Hoàng Su Phì thành 2 huyện: Hoàng Su Phì và  Xín Mần. Huyện Hoàng Su Phì gồm 21 xã.

Ngày 18/11/1983, Nghị quyết số 136/HĐBT của Hội đồng bộ trưởng tách xã Nàng Đôn, Trung Thịnh nhập vào huyện Xín Mần; xã Bản Máy (Xín Mần), xã Thông Nguyên, Tiên Nguyên (Bắc Quang) nhập vào Hoàng Su Phì và thành lập xã Xuân Minh nâng tổng số xã là 23 xã. Năm 1986, thành lập xã Nậm Khòa tách từ xã Thông Nguyên, tổng số 24 xã.

Ngày 24/12/2003: Tách các xã Xuân Minh, Tiên Nguyên về huyện Quang Bình. Tổng số còn lại hiện nay là 24 xã và 01 thị trấn.

2. Đường đi đến di tích

Đền Suối Thầu cách trung tâm thành phố Hà Giang hơn 115km về phía Tây Nam. Từ Thành phố Hà Giang xuôi theo quốc lộ số 2 đi Tuyên Quang 46km đến thạ trấn Tân Quang (huyện Bắc Quang) rẽ tay phải đi theo tỉnh lộ số 177 Tân Quang – thị trấn Vinh Quang (huyện Hoàng Su Phì) 60km. Cách trung tâm huyện 2km đi qua cầu Bản Luốc, qua trụ sở UBND xã Bản Luốc 7km rẽ tay phải theo đường dân sinh đến thôn Suối Thầu II khoảng 4km là đến đề Suối Thầu. Đền toạ lạc ở lưng chừng đồi thuộc thôn Suối Thầu II.

Khách tham quan đến vãn cảnh hay lễ đền Suối Thầu có thể đi được bằng nhiều phương tiện như: ô tô, xe máy hoặc đi bộ.

III.  PHÂN LOẠI DI TÍCH

Đền Suối Thầu thuộc loại hình Di tích lịch sử - văn hoá.

IV. SỰ KIỆN NHÂN VẬT LỊCH SỬ, ĐẶC ĐIỂM CỦA DI TÍCH

Qua quá trình nghiên cứu, sưu tầm các tài liệu chính sử do các triều đại phong kiến ghi chép cũng như nguồn thư tịch cổ có liên quan, đến nay, vẫn chưa tìm thấy nguồn sử liệu thành văn nào ghi chép những sự kiện có liên quan đến đền Suối Thầu. Hiện nay trong đền chỉ còn có xà nóc (thượng lương), ghi năm xây dựng ngôi đền được phiên âm, dịch nghĩa như sau:

 Phiên âm

Đại Nam quốc, Minh Mệnh tam niên Tuế thứ Nhâm Ngọ mạnh đông nguyệt, hoàng đạo nhật lập vị.

Dịch nghĩa

Nước Đại Nam, năm Nhâm Ngọ, niên hiệu Minh Mệnh thứ 3 (1822), ngày tốt lập nên.

Bên cạnh đó lý lịch di tích được nghiên cứu thông qua nguồn tư liệu văn hoá dân gian truyền miệng của đồng bào các dân tộc được lưu truyền trong nhân gian.

Chuyện kể rằng:

Vào thời điểm trước khi xây dựng đền, tại khu vực thôn Suối Thầu thời kỳ đó có một nhóm hộ gia đình dân tộc Dao áo dài (còn gọi là Dao Tiểu bản) từ thôn Bản Luốc, xã Bản Luốc đến sinh sống. Khi đó, rừng núi còn hoang vu, cuộc sống người dân gặp nhiều khó khăn, do bệnh tật, sâu bọ phá hoại mùa màng, dã thú hoành hành…. Quan trấn thủ địa phương lúc đó là ông Đặng Minh Đông (bí danh Đặng Diễn) đã cho người sang Trung Quốc thuê thầy cúng, nghệ nhân và thợ sang xây dựng đền, đắp 13 pho tượng thờ các thần linh, cầu cho người dân sức khoẻ, mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt, tai qua nạn khỏi, cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Đồng thời, cùng với việc dựng đền đắp tượng, ông Đặng Minh Đông còn hướng dẫn cộng đồng người Dao khai hoang làm ruộng bậc thang trồng lúa nước và làm nương rẫy, vì vậy đời sống của người dân dần ổn định.

Sau khi ông mất, người dân trong làng vô cùng thương tiếc, cảm phục. Để ghi nhớ công ơn của ông, người dân trong vùng đã đắp thêm pho tượng của ông và lập bát hương đưa vào thờ tại đền.

Cộng đồng người Dao ở khu vực Bản Luốc, huyện Hoàng Su Phì coi ông Đặng Minh Đông (còn gọi là Đặng Diễn) là vị thần, ông có vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh của họ trong việc bảo vệ mùa màng và cuộc sống bình yên của người dân trong vùng, ông được coi như Thành Hoàng làng của người Việt ở vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Từ khi đền được xây dựng đến nay đã qua nhiều lần trùng tu song vẫn giữ nguyên dáng vẻ ban đầu.  

V. SINH HOẠT VĂN HÓA, TÍN NGƯỠNG LIÊN QUAN ĐẾN DI TÍCH

1. Đền Bản Luốc với đời sống văn hoá tâm linh của nhân dân.

Đền Bản Luốc là một trong những cơ sở tín ngưỡng và được nhân dân 3 thôn: Suối Thầu I, Suối Thầu II và thôn Nậm Lỳ đến lễ vào ngày rằm, mùng 1 để cầu mong cho cuộc sống bình an, dân làng khoẻ mạnh, hạnh phúc, mưa thuận gió hoà, làm ăn gặp nhiều may mắn ….

2. Ngày lễ chính diễn ra tại đền.

Hàng năm đến ngày 15 tháng 7 âm lịch, nhân dân 3 thôn mang lễ vật đến cúng tế tại đền. Mỗi hộ gia đình đại diện chủ hộ đến lễ, khi đi mang theo 1 con gà hoặc 1 miếng thịt lợn, 1 chai rượu, 1 nắm cơm, vàng hương. Lễ cúng kết thúc, họ tổ chức ăn uống ngay tại đền. Đây cũng là hoạt động mang đậm tính sinh hoạt cộng đồng, có ý nghĩa nhân văn của người dân nơi đây.

VI. KHẢO TẢ DI TÍCH

Đền Suối Thầu tọa lạc trên lưng chừng núi của thôn Suối Thầu II, xã Bản Luốc. Đền tự lưng vào núi, quay hướng Đông Nam, phía trước đền là những thửa ruộng bậc thang và làng bản của dân tộc Dao, cảnh mang đậm nét văn hoá người Dao. Lối đi lên đền là con đường bê tông rộng 1m, dài hơn 300m đi từ đường liên thôn Suối Thầu - Nậm Lỳ. Đền có quy mô nhỏ, tổng diện tích xây dựng trên 70m2.

Đến lễ hay vãn cảnh đền chúng ta phải đi qua 8 bậc, rộng 1,6m, dài 4m được xây kiên cố bằng gạch, xi măng.

Qua lời kể của các cụ cao tuổi thì ngôi đền xưa kia tường thưng bằng gỗ, có các hàng chân cột, vì, xà làm bằng gỗ, mái lợp gianh. Trải qua thời gian cũng như biến cố lịch sử nên ngôi đền đã bị hư hỏng và sửa chữa nhiều lần. Năm 2006, nhân dân trong vùng đã trùng tu tôn tạo lại đền trên nền đất cũ, chất liệu chủ yếu bằng đất, gỗ và gạch, gồm có 1 gian với tộng diện tích 33m2, dài 7,5m, rộng 4,4m.

Khác với những ngôi đền truyền thống thường chỉ có 1 hiên, nhưng đền Suối Thầu có hiên trong và hiên ngoài với 4 hàng chân cột bằng gỗ nghiến vuông 20cm, cao 1,7m. Cột hiên được liên kết với nhau bởi 2 thanh xà xiên chạy dọc phía trên 4 hàng cột: dày 5cm, rộng 17cm và 2 xà ở 2 đầu ngoài cùng có tác dụng đỡ cho các hàng chân cột không bị đổ. Hàng chân cột đỡ vì kèo và mái.

Tường trước được bưng bằng ván gỗ từ dưới nền lên đến mái: dài 3,8m, cao 2,2m, dày 3cm. Cửa được mở ở giữa theo kiểu cửa đóng then cài, có 2 cánh: Rộng 80cm, cao 1,5m, chất liệu bằng gỗ. Đỡ cho bộ cánh cửa có 2 cột bằng gỗ vuông 20cm, dài 1,7m. Phía dưới của 2 cánh cửa có 1 thanh xà ngưỡng: dài 80cm, rộng 20cm, dày 10cm. Mỗi khi có người đến lễ thánh, thần thì xà ngưỡng có tác dụng gạt bỏ tà mà không cho vào đền.

Qua cửa đầu tiên ta lại bắt gặp một khoảng trống gọi là hiên và có tường bưng bằng ván gỗ, cửa đóng then cài. Lớp cửa này cũng giống như cửa ngoài, nó tạo cho sự chắc chắn của ngôi đền. Đền Suối Thầu có 3 bức tường (2 tường hồi và tường sau) trình bằng đất, dày 51cm, cao 2m. Phía trong đền không có hàng cột và chân cột, quá giang và vì kèo được đặt lên tường. Vì vậy, tường có tác dụng đỡ 2 quá giang, vì kèo và mái. Hai vì kèo được làm theo kiểu “vì kèo cốn mê” rất chắc chắn. Gắn kết bộ vị kèo có 3 cột chốn 1 vì, 1 cột cái và 2 cột quân, nối 2 vì bởi 5 thanh xà gỗ. Mái lợp bằng tấm Prô xi măng, đỡ tấm lợp bởi các hoành gỗ. Hiện nay ngôi đền còn duy nhất xà nóc là chứng cứ minh chứng cho thời gian xây dựng ngôi đền vào năm 1822 (Niên hiệu Minh Mệnh thứ 3.

Ngoài ra còn có một số dòng chữ nhỏ ghi tên những người cùng nhau lập lên đền, nội dung phiên âm, dịch nghĩa như sau:

Phiên âm

Pháp luân cao truyền Thủy Ân Tín sĩ Đặng Diễn đẳng tu tạo cùng kiến tứ độc mộc hướng: .... Lý Quang Tài, Ngô Cổ Hậu, Phan Tử Liên….

Dịch nghĩa:

“Một thầy pháp có danh hiệu là Thủy Ân Tín sĩ tên là Đặng Diễn cùng một số người sau đốn cây phạt mộc dựng nên” Lý Quang Tài, Ngô Cổ Hậu, Phan Tử Liên….

VII: SƠ ĐỒ PHÂN BỐ, BÀI TRÍ TƯỢNG TRONG DI TÍCH

Đền có diện tích nhỏ, được xây sớm ở dải đất biên cương địa đầu của tổ quốc nên rất đơn sơ. Trong đền gồm có 14 pho tượng bằng đất và được bài trí trên ban thờ theo hình chữ U.

- Ban thờ chính giữa có 4 pho tượng, 2 tượng to lớn và 2 tượng nhỏ:

+ Tượng bên phải (nhìn từ trong ra) là Ngọc Hoàng (Nhùi Vương - tiếng dân tộc Dao), đầu đội mũ bình thiên, mắt mở to, sống mũi thẳng, miệng tươi cười, mặt đỏ, mặc áo hoàng bào màu vàng, hai tay để trong lòng bụng đỡ gương thần soi chúng sinh. Tượng trong tư thế ngồi trên ngai vàng, cao 1m;

+ Tượng bên trái (trong nhìn ra) là Diêm Vương, đầu đội mũ, lông mày rậm, mắt mở to, sống mũi thẳng, khuôn mặt hồng, áo màu đỏ, xanh và đen, tay phải để úp trên đầu gối, tay trái để ngửa trên đầu gối. Tượng trong tư thế ngồi, cao 95cm.

+ Tượng Ngọc Nữ (đứng bên phải cạnh Ngọc Hoàng), tóc búi tó hai bên, mắt mở to, miệng tươi cười, mặc áo màu xanh, 2 tay dâng tấu sớ trước ngực. Tượng trong tư thế đứng, cao 30cm.

+ Tượng Kim Đồng (đứng bên trái cạnh Diêm Vương), mắt mở to, miệng tươi cười, sống mũi thẳng, mặc áo màu đỏ, xanh, hai tay dâng tấu sớ trước ngực. Tượng trong tư thế đứng, cao 30cm.

- Ban thờ góc trong bên trái (trong nhìn ra) có 3 pho tượng (tượng Quan Thế Âm toạ ở giữa và 2 tượng hầu cận):

+ Tượng Quan Thế Âm, đầu đội bảo quan, mặt trái soan, mắt mở to, sống mũi thẳng, miệng hé mở, tay phải đặt trên đầu gối, tay trái cầm lọ cam lồ trước bụng, chân trái khoanh tròn, chân phải để chống. Tượng cao 70cm, toạ trên ban thờ (cao 30cm, dài 70cm, rộng 55cm), phía trước của ban thờ được gắn ngói mũi hài tạo thành cánh sen màu đỏ.

+ Tượng Thiện Tài Đồng Tử, cắt tóc ngắn, mắt mở to, sống mũi thẳng, miệng tươi cười, hai tay chắp trước ngực, mặc áo đỏ, quần xanh. Tượng trong tư thế đứng, cao 35cm.

+ Tượng Thiện Tài Long Nữ, tóc để dài chấm vai, mắt mở to, sống mũi thẳng, miệng hé mở, hai tay chắp trước bụng, mặc áo màu xanh, quần đỏ. Tượng trong tư thế đứng, cao 40cm.

- Ban thờ góc trong bên phải (nhìn từ trong ra) có 3 pho tượng:

+ Tượng thần Sấm Sét (Lôi Thần), có khuôn mặt đen dữ tợn, đầu đội mũ, mắt mở trắng, mũi to, miệng như đang quát tháo, mặc quần áo xanh, cổ áo và đai lưng màu đỏ, tay phải cầm 1 cây huyền trượng giơ ngang vai, tay trái cầm 1 lệnh bài từa tựa thánh giá ngang bụng. Tượng trong tư thế cưỡi mây, cao 81cm.

+ Hai tượng hầu cận Lôi Thần đứng 2 bên. Tượng bên trái đầu đội mũ, mắt mở to, miệng hé mở, mặc quần áo xanh, cổ áo và viền ống tay màu vàng đỏ, tay phải cầm cây truỳ, tay trái đặt ngang bụng; tượng bên phải đầu đội mũ, mắt mở to, mặt trái xoan, sống mãi thẳng, mặc áo đỏ, cổ áo viên xanh, quần màu đen đỏ, 2 tay chắp trước ngực. Tượng cao 65cm.

Phía ngoài của ban thờ thần Sấm Sét là ban thờ thần thổ Địa và ông Đăng Minh Đông. Thông thường thổ địa là vị thần được bài trí ở phía ngoài cùng hoặc ban thờ bên dưới đất để cai quản di tích. Tuy nhiên, ở đền Suối Thầu có diện tích hẹp nên sự bài trí không theo trình tự. Tượng phía ngoài thờ ông Đăng Minh Đông (một vị quan trấn thủ địa phương), ông là người dân tộc Dao, có công lao với nhân dân địa phương như: chăm lo đời sống, giúp nhân dân khai phá ruộng bậc thang trồng lúa nước, phát triền kinh tế. Trong lúc đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn, họ muốn có một nơi để cầu nguyện những điều may mắn đến, điều không tốt rời xa họ. Vì vậy, ông đã cho người lên rừng lấy cây về dựng đền và mời thầy từ Trung Quốc sang đắp tượng để thờ. Sau khi ông chết, nhân dân coi ông như là vị thần và họ đã cho đắp tượng ông thờ tại đền. Tượng toạ trên bệ, đầu đội mũ lồi, mắt mở to, mặt vuông chữa điền, tai to, áo đỏ, cổ áo và ống tay áo được viền màu vàng xanh, quần xanh, tay trái đặt úp trên gối, tay phải cầm đĩnh bạc để ngửa. Tượng cao 87cm; Thần Thổ Địa toạ trên bệ, đầu đội mũ, mắt nhìn xuống, mặt đen, miệng tươi cười, mặc áo màu xanh, cổ áo và ống tay áo được viền màu vàng, xanh, đen, quần màu vàng, tay trái đặt úp trên gối, tay phải cầm đính bạc để ngửa trên gối. Tượng cao 91cm.

Đối diện với Thổ Địa, ông Đăng Minh Đông là ban thờ Quan Âm và Mẫu. Phía ngoài là tượng Quan Âm: Ngồi trên lưng hổ, đội bảo quan, mắt mở to, mặt trái xoan, tai vểnh về phía trước, sống mũi thẳng, tay trái để áp vào lòng bụng, tay phải đặt úp lên gối phải, mặc thiên y màu xanh, đỏ, vàng, diên mạo rất đoan nghiêm. Tượng cao 95cm; Toạ bên cạnh tượng Quán Âm là tượng Mẫu. Tượng Mẫu trong tư thế ngồi, mắt hơi nhìn xuống, tai to hơi vểnh về phía trước, ngực để trần, áo và quần màu xanh, 2 tay bế đứa trẻ đang cho bú, có một đứa trẻ ôm chân phải. Tượng cao 90cm.

Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử và không có người chăm nom bảo quản thường xuyên nên hầu hết các di vật không còn nhiều. Qua khảo sát cho thấy, hiện nay trong đền còn lưu giữ một số di vật như: 02 bát hương bằng đồng đỏ, cao 20cm, rộng 20, trong đó có một bát hương bị gãy một quai; 01 lư hương gồm có 2 phần (đế và thân), gãy một chân, miệng và đế bị xứt một phần. Chất liệu bằng gốm men gọc, cũ, cao18cm; 01 đỉnh gồm có 3 phần (miệng, thân và chân đỉnh), có 3 chân (gãy một chân), miệng bị vỡ cân hai bên. Chất liệu bằng gốm màu đỏ sẫm, cũ, cao 15cm, đường kính miệng rộng 12cm. Ngoài ra còn có 07 bát hương được nhân dân cung tiến để lễ thánh, phật và thần linh vào các dịp lễ, tết, ngày rằm, mùng 1.

* Sơ đồ bài trí tượng đền Suối Thầu:

 

 

 

 

 

 

 

 

 


Ghi chú:

1. Tượng Ngọc Hoàng (Nhùi Vương);

2. Tượng Diêm Vương;

3. Tượng Ngọc Nữ;

4. Tượng Kim Đồng;

5. Tượng Quan Thế Âm;

6. Tượng Thiện Tài Long Nữ;

7. Tượng Thiện Tài Đồng Tử;

8. Tượng Lôi Thần;

9 - 10. Tượng hầu cận (Lôi Thần);

11. Tượng Thổ Địa;

12. Tượng Đặng Minh Đông;

13. Tượng Mẫu;

14. Tượng Quan Ân

VIII. GIÁ TRỊ LỊCH SỬ, VĂN HOÁ, KHOA HỌC CỦA DI TÍCH

Đền Suối Thầu là nơi thờ các vị nhiên thần theo tín ngưỡng dân gian của người Dao và thờ nhân thần là ông Đặng Minh Đông – dân tộc Dao là nhân vật có thật, người có công hướng dẫn nhân dân khai hoang lập làng, truyền dạy nhân dân làm ruộng bậc thang trồng lúa nước, ông được tôn vinh tương tự như các vị Thành Hoàng làng ở vùng đồng bằng bắc bộ.

Đền là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, tâm linh. Trong tiềm thức của nhân dân trong vùng thì ngôi đền là chốn linh thiêng, được cộng đồng bà con nhân dân trong và ngoài khu vực thường xuyên đế tế lễ.

IX. THỰC TRẠNG BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CỦA DI TÍCH

Đền tọa lạc trên một sườn đồi, xa khu dân cư, tường bằng đất có độ ẩm lớn và không có người thường xuyên lui tới nên có hiện tượng mối mọt, ảnh hưởng đến di tích. Bên cạnh đó đền chưa được xếp hạng di tích, chưa được đầu tư thích đáng trong việc trông coi, bảo quản nên đền đang dần bị xuống cấp nghiêm trọng.

X. PHƯƠNG HƯỚNG BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH

Đền Suối Thầu toạ lạc trên sườn núi đất, phía sau là khu rừng đầu nguồn khá đẹp, trước là cánh đồng ruộng bậc thang thơ mộng, cùng với những giá trị lịch sử, văn hoá của ngôi đền. Để bảo tồn và phát huy tác dụng của cơ sở tín ngưỡng này, trước hết chính quyền địa phương cần chủ động tuyên truyền sâu rộng đến các tầng lớp nhân dân về giá trị văn hoá của ngôi đền nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của người dân trong việc bảo vệ di tích và ngăn chặn tệ nạn mê tín dị đoan.

Công tác quản lý đền từ trước đến nay đều do nhân dân 3 thôn: Nậm Lỳ, Suối Thầu I và Suối Thầu II bàn bạc, phân công nhau trông nom, chưa có sự quản lý, hướng dẫn của chính quyền địa phương và các đơn vị chức năng. Từ thực tế đó  di tích cần xếp hạng và thành lập Ban Quản lý đền, có quy chế quản lý nhằm bảo vệ và phát huy di tích có hiệu quả.

XI. KẾT LUẬN

Với ý nghĩa lịch sử - văn hóa của đền Vinh Quang. Đền Vinh Quang đủ tiêu chí đề nghị các cấp có thẩm quyền xếp hạng di tích cấp tỉnh.

  

XII. TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Hà Giang, Hà Giang 110 năm đấu tranh xây dựng và phát triển (1891-2011) NXB chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001;

2. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Hoàng Su Phì, Lịch sử Đảng bộ huyện Hoàng Su Phì (1947 – 2000). Xuất bản năm 2000;

3. Hồ Đức Thọ, nghi lễ thờ cúng truyền thống của người Việt (tại Chùa, đình, đền, miếu, phủ) danh sơn cổ tích - tái bản lần thứ III, NXB VHTT, Hà Nội, 2005.

4. Lê Quý Đôn, toàn tập, tập II, kiến văn tiểu lục, NXB KHXH, Hà Nội, 1977;

Lời kể của các cụ cao tuổi ở thôn Suối Thầu:

1. Ông: Đặng Văn Bầu, 87 tuổi, dân tộc Dao, thôn Suối Thầu II, xã Bản Luốc, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang. Là thầy cúng;

2. Ông: Đặng Văn Cánh, 35 tuổi, dân tộc Dao, thôn Suối Thầu II, xã Bản Luốc, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang. Cán bộ xã Bản Luốc;

3. Ông: Đặng Văn Hu, 57 tuổi, dân tộc Dao, thôn Suối Thầu I, xã Bản Luốc, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang. Là thầy cúng.

 

                                                            Hà Giang, ngày 04 tháng 6 năm 2013

NGƯỜI VIẾT LÝ LỊCH

 

 

 

Cử nhân: Nguyễn Quang Bách

BẢO TÀNG TỈNH HÀ GIANG

 

 

 

 

                                                         

 

SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO & DU LỊCH

TỈNH HÀ GIANG

 

 

 

 

Chủ Nhật, 18 tháng 2, 2024

HUYỀN THOẠI THÁC XOANG VÈNG

 

Nhà Vàn Tồng nằm ngay sát ngã ba suối Hò Piên, con suối quanh năm nước chảy cuồn cuộn được tạo thành bởi hai nhánh, một nhánh nhỏ bắt nguồn từ dãy núi Hô Sán và một nhánh lớn bắt nguồn từ dãy núi Tồm Sán chảy về, đến đầu làng Thượng thì hợp lại thành Suối Hò Piên rồi chảy xuôi về hướng đông nam tạo thành con sông Bạc hùng vĩ. Gần đến điểm hợp lưu thành suối Hò Piên, nhánh suối lớn từ dãy Tồm Sán chảy qua một vách đá trắng dựng đứng cao đến hơn một trăm mét tạo thành thác nước ba tầng quanh năm tung bọt trắng xoá, người dân ở đây gọi là thác Xoang Vèng tức là thác Suối vàng.

Ở chỗ hợp lưu hai nhánh suối thành con suối Hò Piên là một bãi đất tương đối bằng phẳng nhưng cũng chứa đựng nhiều câu chuyện rùng rợn, nhất là chuyện về những xác chết. Ma quỷ ở đâu thì chưa ai thấy nhưng nghe kể đã có hàng chục người bị chết đuối hoặc bị lũ cuốn từ nơi khác về nơi này rồi trôi dạt vào những vũng nước quẩn chỗ ngã ba suối, có người thì còn nguyên vẹn người khác không may mắn thì cụt cả đầu hoặc mất chân, mất tay, sau đó được dân làng vớt lên và chôn cất ở hai bên ven suối. Lâu ngày nhiều ngôi mộ bị sạt lở, nhiều khi lộ ra những khúc xương trắng hếu.

Ở bãi bằng ngay lối vào làng là những khối đá sừng sững và xám ngoét đủ mọi hình thù, khối thì hình con thuyền, khối thì hình con voi, con ngựa, khối thì hình người, khối khác thì có hình con chó, con gà, con lợn. Sát ngay bên cạnh có một ngôi miếu nhỏ tương truyền là miếu thờ Hoàng Vần Thùng, có người thì lại cho rằng miếu đó là để thờ những người bị chết từ nơi khác theo con suối Hò Piên trôi dạt về. Trải qua nhiều năm tháng, ngôi miếu được người dân của hai làng thường xuyên trông coi tu sửa và thờ tự hương khói vào những ngày rằm và mùng một.

Từ ngày còn nhỏ Vàn Tồng đã nghe ông nội kể câu chuyện truyền thuyết của người Dao về những khối đá có hình thù kỳ dị này. Đó là câu chuyện kể về một vị thổ tù rất giàu có người địa phương tên là Hoàng Vần Thùng vốn có tài hô mưa gọi gió, được giao cai quản vùng đất trải dài từ Châu Vị Xuyên đến Châu Thuỷ Vĩ tức huyện Bắc Hà ngày nay. Gặp phen đất nước loạn lạc Hoàng Vần Thùng cùng con cái được quân binh hộ giá và đem theo rất nhiều của cải trốn chạy, đến khu vực thác đá trắng này gặp đường xá hiểm trở nên đã tìm chỗ cất dấu kho báu, còn toàn bộ ngựa xe cùng gia súc gia cầm được ông biến thành đá để không bị rơi vào tay kẻ thù.

Chẳng biết thực hư câu chuyện ra sao, thế nhưng từ rất lâu rồi trong cộng đồng người dân làng Thượng và làng Hạ ai cũng biết câu chuyện về kho vàng của Hoàng Vần Thùng được đoàn tuỳ tùng của ông chôn giấu ở khu vực này với nhiều dị bản khác nhau. Người thì nói rằng kho báu được chôn giấu ở thác Xoang Vèng nên con thác mới có tên là thác Xoang Vèng tức là thác vàng còn dưới hạ lưu có tên là sông Bạc, người thì cho rằng được chôn ở dưới một trong những con voi đá, ngựa đá, người khác lại kể câu chuyện kho báu được chôn ở mãi trên hang Tham Kỳ trên đường đi làng Phìn Hò.

Cách đây mấy chục năm có hai người lạ hoắc không rõ đến từ nơi nào đem theo chài lưới và dụng cụ nói là đi bắt cá suối nhưng toàn gặp gỡ người dân để dò la về những câu chuyện về kho vàng, về những con voi đá, ngựa đá, về thác Xoang Vèng và hang Tham Kỳ, sau đó hai người đi ngược con suối Hò Piên lên phía thác Xoang Vèng để bắt cá rồi biến mất. Nghĩ là họ đã bị chết đuối hoặc rơi thác, người dân trong làng chia nhau đi tìm và đón đợi ở ngã ba suối cả mấy ngày để tìm xác cũng không thấy.

Chuyện là vậy nhưng từ trước đến giờ trong làng chưa có ai nhặt được hòn vàng hòn bạc nào nên ai nấy đều cho rằng đấy là chuyện cổ tích chứ không có thật.

Với người dân của cả hai làng Thượng, làng Hạ và những hộ gia đình ở khu vực lân cận ai cũng đều coi khu vực này là chốn thiêng, bất cứ ai đi qua khu vực có voi đá ngựa đá và thác Xoang Vèng cũng đều bỏ mũ nón, không dám nói to, không khạc nhổ, phóng uế hoặc làm điều gì xấu.

Quả thật, những ai chưa quen hoặc nghe kể về nơi này nếu bất chợt đi ngang qua vào những ngày này ắt không khỏi lạnh sống lưng khi chợt thấy hiện ra trước mắt những khối đá hình thù kỳ quái trầm mặc và mùi khói hương thoang thoảng bay ra từ ngôi miếu nhỏ.

Làng Thượng và làng Hạ nằm kẹp giữa thung lũng của hai dãy núi, một bên là núi Khau Chang, một bên là núi Hô Sán. Không biết từ bao giờ, suối Hò Piên được người dân ở đây lấy làm đường danh giới giới ngăn đôi giữa hai làng Thượng và làng Hạ. Tiếng là làng nhưng cả làng Thượng và làng Hạ cũng chỉ có chưa đầy hai chục nóc nhà. Để đi đến được làng Thượng và làng Hạ phải đi bộ qua con đường mòn hiểm trở dài gần chục cây số nằm sát bên ven suối và xuyên qua những rừng cây và cỏ dại mọc um tùm rậm rì. Vào mùa khô việc đi lại giữa hai làng tương đối thuận tiện vì chỉ cần tìm những đoạn suối hẹp rồi bắc mấy cây vầu là qua được. Còn mùa mưa nước dâng cao thì phải gác những cây mai dài hàng chục mét qua những cây gỗ to hai ven suối để làm cầu.

Cũng không biết là do chảy từ rừng già ít đánh bắt thưa thớt mà con suối Hò Piên nhiều cá vô kể, từ cá quất, cá sảm, cá chép, cá chày đất đến cá dầm xanh có con to lừng lững như ống tre ống vầu cứ bơi hàng đàn. Mỗi khi muốn cải thiện bữa ăn chỉ cần đem theo nọn chài hoặc cây súng bắn cá bằng mũi tên ra suối khoảng dăm mười phút là đủ ăn cả ngày.

 Sinh ra và lớn lên ở ngay ngã ba suối Hò Piên, ngoài mỗi ngày vài tiếng đồng hồ học cấp một ở điểm trường của làng, còn lại hầu hết thời gian trong ngày Vàn Tồng với mấy đứa bạn hết leo trèo lên núi lấy củi hái măng, hái quả rừng lại lội xuống suối dùng súng bằng dây cao su để bắn cá. Học hết cấp một do lcả hai làng không có cấp hai nên phải xuống tận xã để học, mỗi ngày đi bộ cả đi cả về gần hai chục cây số, được mấy buổi là nản chí nên Vàn Tồng bỏ học ở nhà và theo bố vốn là thầy cúng của làng học chữ nho.

Cả đời quanh quẩn với núi rừng sông suối nên Vàn Tồng hiểu rõ nơi này như lòng bàn tay. Ví dụ, muốn bắt cá quất, cá chiên thì phải xuôi xuống hạ lưu ở những chỗ suối nước chảy xiết và nhiều đá, cá chày đất, cá sỉnh thì sống ở những chỗ nước sâu còn cá dầm xanh thì chỉ sống ở những chỗ nước trong, sâu và chảy xiết. Cây trám đen, trám trắng nào có quả ngon, rừng vầu nào mọc măng trước hay đặt bẫy chỗ nào là hay trúng thú rừng Vàn Tồng cũng nhớ vanh vách. Thậm chí ở tầng giữa của thác Xoang Vèng chỗ cột nước chảy thẳng từ trên cao xuống lâu ngày khoét thủng đá tạo thành một cái vũng sâu hoắm là nơi có rất nhiều cá dầm xanh có con to như cái phích nước Rạng Đông trú ngụ, từ trước đến giờ trong làng chưa có ai xuống được đến đó, một phần vì nguy hiểm, phần khác là do những câu chuyện đồn đại rằng ở đó có ma nước trú ngụ đã lấy mạng của nhiều người nên ai cũng sợ. Vậy mà Vàn Tồng với tài lặn ngụp siêu đẳng và sức khoẻ dẻo dai dám bện dây rừng làm thang dây rồi thả từ trên đỉnh thác xuống để lần xuống bắn cá, có những bận bắn được con cá dầm xanh to cả yến. Người ta bảo sở dĩ Vàn Tồng bắt cá giỏi vì có đôi bàn chân to bè bè, những ngón chân toẽ ra hai bên như chân ếch nên có nhiều ma sát khiến Vàn Tồng bơi nhanh hơn cá, có thể chạy trên đá trơn trượt mà không ngã.

Hôm ấy, vào một ngày cuối tháng tư âm lịch, tầm chín giờ sáng ngó lên gác bếp chỉ còn một miếng thịt lợn treo bé tý Vàn Tồng lấy đèn pin đội đầu, kính lặn và súng bắn tên định bụng ra suối bắn cá về nấu bữa trưa. Được hơn chục bước ngẩng lên thấy trời xám xịt báo hiệu mùa mưa sắp đến, với kinh nghiệm săn cá suối nhiều năm, Vàn Tồng đoán chắc hôm nay trở trời lũ cá dầm xanh ở thác Xoang Vèng sẽ lên ăn nên có nhiều cơ hội bắn được cá to. Vả lại đây là dịp thác ít nước nhất trong năm nên dễ lặn, dễ săn cá.

Nghĩ vậy Vàn Tồng quay về lấy con dao đi rừng rồi qua nhà Giào Mềnh rủ đi cùng. Nghe vàn Tồng rủ đi thác Xoang Vèng bắn cá, nhớ lại những câu chuyện ma quái về thác Giào Mềnh thấy sợ và chối đây đẩy:

- Ối da… tao không đi đâu, mà hôm nay trời lạnh thế này sao lặn được.

- Trời mưa cả tháng rồi, hôm nay hửng nắng cá lên nhiều sẽ bắn được con to đấy, mày không dám lặn thì đợi ở dưới tao bắn được sẽ thả cá xuống cho mày nhặt - Vàn Tồng thuyết phục.

- Mà hôm qua tao uống nhiều rượu, giờ chưa tỉnh hẳn. Thôi, mày ra suối bắt mấy con cá sứt mũi về ăn tạm để chiều nắng ấm hẳn thì hãy đi. Giào Mềnh cương quyết.

Cảm thấy những con dầm xanh như đang bơi lội trong đầu và sợ trời hết nắng, Vàn Tồng bảo:

- Thôi để tao đi lên đó trước xem như nào, có gì đến chiều mày đi cùng tao cũng được.

Nói rồi mượn thêm cái đèn pin của Giào Mềnh, Vàn Tồng đi lên thác Xoang Vèng một mình.

Mất gần hai tiếng đồng hồ để cắt dây mây bện thành chiếc thang dây dài ngoằng và dò dẫm lần từng bước xuống hố nước ở tầng thác giữa. Vừa ngó xuống cái hố nước sâu hoắm chu vi khoảng hơn hai mét Vàn Tồng thấy hoa cả mắt, không phải vì độ cao của thác hay dòng nước đang chảy ầm ầm mà đúng như dự đoán hôm nay trời nắng từng đàn cá dầm xanh lưng đen chùi chũi nổi lên kiếm mồi thoắt ẩn thoắt hiện giữa dòng nước tung bọt trắng xoá.

Đeo vội chiếc kính bắn cá lên đầu và nhét hai cục bông vào lỗ tai, Vàn Tồng nhảy xuống hố nước lạnh buốt, dưới ánh sáng lờ nhờ đàn dầm xanh đông nhung nhúc bơi láo loạn ngay trước mắt. Nhằm vào con cá đầu đàn đen sì dài cả mét, to gần bằng cái cột nhà, Vàn Tồng bấm cái lẫy bắn cái mũi tên đánh vèo một cái vào ngang sườn con cá nhưng do chiếc vảy quá dày và cứng nên mũi tên nảy ra, con dầm xanh có vẻ không biết sợ vẫn bơi lảng vảng ngay trước mặt. Biết là gặp phải con cá già nên vảy cứng, Vàn Tồng liền bơi lùi lại để bắn chéo vào những cái khe vẩy nhưng rốt cuộc mũi tên vẫn nẩy ra như bắn phải tấm sắt. Con dầm xanh như trêu ngươi cứ bơi chầm chậm vòng quanh vách đá ngay trước mắt làm Vàn Tồng càng hăng máu.

Nổi lên để lấy hơi và mài mũi tên vào tảng đá để thêm sắc nhọn, Vàn Tồng vừa lặn xuống đã thấy con cá đầu đàn hiện ra ngay trước mắt. Sau một hồi lừa miếng để tìm cách bắn vào hai bên mang cá nhưng không thành công, con dầm xanh chợt từ từ lặn xuống dưới sâu, Vàn Tồng lặn theo con cá. Xuống đến độ sâu chừng năm mét tiếng nước trên thác dội xuống chỉ nghe thấy ục ục thì con dầm xanh chuyển hướng bơi ngang vào hàm ếch phía trong hang.

Bơi theo con cá được một lúc đến gần hết hơi Vàn Tồng chợt thấy một miệng hang chạy ngang vào lòng núi hiện ra mờ mờ trước mắt rồi không thấy con cá đâu. Chỉ hai cái đạp chân Vàn Tồng đã chui được vào lòng hang rồi trồi ngược lên để lấy hơi, nhưng thật kỳ lạ, cách cửa hang khoảng vài mét thì lòng hang chợt mở rộng ra, có vài phiến đá kê ngay ngắn như xếp bậc ở những đoạn đường mòn dốc.

Dưới ánh sáng lập loè của chiếc đèn pin, Vàn Tồng lần theo các bậc đá rồi đi vào lòng hang, được hơn chục mét thì lòng hang mở rộng ra như gian nhà và tương đối bằng phẳng, phía trong hang tối đen như mực sâu hun hút và chạy thẳng vào lòng núi.

Với bản tính bạo dạn ưa mạo hiểm, Vàn Tồng vừa đi sâu vào hang vừa đảo mắt nhìn ngó xung quanh. Chưa bao giờ Vàn Tồng ở trong một không gian tĩnh lặng như vậy, tất cả đều im phăng phắc không một âm thanh tiếng động dù là nhỏ nhất hay tiếng o o của con giun con dế như ở trên mặt đất. Những viên đá đủ mọi hình thù và kích cỡ khác nhau rêu bám xám xịt và trơn nhẫy nằm lô nhô khắp hang. Mùi đất hăng nồng xộc vào mũi cùng với ánh sáng nhập nhẹm khiến Vàn Tồng cảm thấy hơi chếnh choáng.

Được vài bước Vàn Tồng chợt chết sững khi thấy dưới ánh sáng đèn pin mờ ảo có một dấu chân bên trái của ai đó dưới nền cát, lấy đèn pin soi kỹ thấy giống hệt chân của mình, cũng to bè bè với những ngón chân toẽ ra hai bên một cách kỳ quái.

Bạo dạn là vậy nhưng bỗng nhiên Vàn Tồng cảm thấy sợ hãi, mệt và lạnh. Vàn Tồng lấy một phiến đá kê làm ghế ngồi nghỉ lấy sức, nhưng vừa nhấc phiến đá lên Vàn Tồng bỗng há hốc miệng không kêu được tiếng nào.

Trên phiến đá rộng khoảng 2 gang tay, dài khoảng 3 gang có một mặt sần sùi, một mặt khá nhẵn nhụi được khắc thứ chữ nho cổ, do lâu ngày nên rêu mốc bám kín. Đem ra vũng nước vừa rửa vừa cạo để lộ ra 3 hàng chữ nho được khắc vào đá theo hàng dọc từ trên xuống, do được học chữ nho của thầy cúng nên Vàn Tồng biết đọc, nội dung tấm văn bia ghi rằng: THU THIÊN KỶ HỢI, CẢNH HƯNG TỨ THẬP TUẾ, TÂN VƯƠNG VIÊN TỊCH. Phía dưới bia có 3 dòng chữ nhỏ rằng: VÀN TỒNG ĐÔ LONG THỔ QUAN và CHƯ TAM ĐỒNG HỮU NGỘ - PHÀM BẤT KHẢ NHÂN LAI - CỐ TÌNH ĐƯƠNG NHIÊN TỬ.

Nhớ lại những câu chuyện truyền thuyết về kho báu, chuyện về voi đá, ngựa đá của Hoàng Vần Thùng rồi chợt nhìn xuống bàn chân to bè giống hệt vết chân ở bãi cát ngay cửa hang, Vàn Tồng thấy như có dòng điện chạy dọc sống lưng khiến mồ hôi chợt vã ra như tắm vì không ngờ những truyền thuyết kia lại có thật, giờ hiển hiện ra nay trước mắt.

Ngồi một lát để lấy lại tinh thần và dũng khí, Vàn Tồng lần mò theo các bậc đá tiếp tục đi sâu vào trong hang. Được gần hai chục mét Vàn Tồng chợt chết sững và hét to lên một tiếng khi thấy hai bộ xương người xám xịt nằm úp sấp đầu hướng về phía cửa hang, nằm đè lên hai bộ xương là hai chiếc bựa púi (túi đeo bằng vải của người Dao đỏ) đã mục nát, xung quanh là những thỏi vàng thỏi bạc rơi tung toé. Ngoài ra còn có hai chiếc đèn pin và hai chiếc súng bắn cá mũi tên đã gỉ sét.

Nhớ lại câu chuyện về hai người ở nơi khác về săn cá sau đó mất tích cách đây mấy chục năm, Vàn Tồng tin chắc đây chính là họ. Vì lý do nào đó hoặc bị mắt kẹt và không thoát ra được nên chết ở đây.

Quá nhiều sự việc rùng rợn ập đến một lúc trong một không gian chật hẹp và đầy ma mị khiến một người can đảm như Vàn Tồng cũng thấy tim đập chân run, hai đầu gối như muốn khịu xuống.

Ngồi một lát để trấn tĩnh và lấy lại tinh thần nhưng càng nghĩ Vàn Tồng càng thấy mọi việc trở lên kỳ quặc và rối rắm. Nào là chuyện về kho vàng kho bạc của Hoàng Vần Thùng, nào là tấm văn bia bằng đá, nhất là sự trùng hợp đến kinh ngạc về tên gọi của vị thổ quan khắc trên văn bia lại trùng với tên gọi của Vàn Tồng, vì theo tiếng Hán thì Vàn Tồng chính là Vần Thùng, nói theo tiếng Kinh là Văn Đồng, và không hiểu sao bàn chân của Vàn Tồng lại xoè ra hệt như vết chân trên cát ở cửa hang. Không những thế trên tấm văn bia kia cũng lại nhắc đến việc chỉ những ai có ba điểm giống nhau thì mới vào được nơi này.

Chợt nhớ ở trong hang đã quá lâu, đèn pin cũng sắp hết điện, Vàn Tồng nhặt mấy thỏi bạc định đem về, song tìm quanh không có gì để đựng đành dứt cái dây cao su của súng bắn cá buộc túm lại được gần chục thỏi và đeo vào thắt lưng và leo xuống cửa hang. Sau một hơi dài Vàn Tồng nổi lên mặt nước, quên hết đàn cá dầm xanh, Vàn Tồng leo lên thang dây rồi chạy một mạch về nhà.

Vừa vào đến cửa, Vàn Tồng liền kể lại và khoe với bố mấy thỏi bạc. Nghe xong câu chuyện, ông Mềnh Quyên lúc đầu chưa tin lắm nhưng cầm trên tay mấy thỏi bạc còn dính đầy bùn đất rêu mốc thì đúng là sự thật hiển nhiên không tin không được, cả đời ông chưa bao giờ thấy số bạc nhiều đến thế.

Xem đi xem lại mấy thỏi bạc, ông trầm ngâm:

- Thế là đúng rồi, không phải tự nhiên mà ông bà tổ tiên lại gọi đó là thác Xoang Vèng tức là suối vàng. Đây ắt hẳn là kho vàng của Hoàng Vần Thùng rồi. Nghĩ một lát ông hỏi lại Vàn Tồng:

- Thế mày đã xem kỹ cái hang chưa?

- Chưa bố ạ - Vàn Tồng trả lời.

- Cái hang đó chắc chắn sẽ còn nhiều bạc nhiều vàng lắm chứ không chỉ có một tý ở chỗ bộ xương đâu.

- Sao bố biết - Vàn Tồng hỏi lại bố.

- Các cụ tổ tiên kể lại rằng ngày xưa Hoàng Vần Thùng có nhiều vàng bạc của cải lắm, cả một đoàn người với hàng trăm con ngựa chở mới hết. Mấy thỏi chỗ bộ xương là do hai người đó lấy ra được như thế thôi, còn lại chắc chắn vẫn ở trong đó - Ông quả quyết.

Nghe vậy mắt Vàn Tồng sáng lên, nhưng nhớ lại hai bộ xương xám ngoét trong cái hang tối tăm chật hẹp trong đầu Vàn Tồng thấy sờ sợ và nói với bố.

- Hay là ngày mai bố với con cùng vào đó xem sao.

- Để xem sao đã, nhưng việc này quan trọng lắm, lộ ra cho mọi người biết là họ vào lấy hết đấy, nên mày không được nói với ai, kể cả mẹ mày, chỉ bố với mày biết thôi, nghe chưa.

- Được rồi, biết rồi - Vàn Tồng cằn nhằn.

Lấy chiếc ống nứa đựng chè trên gác bếp, ông Mềnh Quyên bỏ mấy thỏi bạc vào và đem ra chôn dấu dưới tảng đá trước nhà, vừa lúc bà Mùi Viện đi chơi nhà hàng xóm về. Vàn Tồng cùng mẹ nấu cơm tối, cầm con dao thái miếng thịt treo mà tay cứ run lên bần bật.

Cả đêm đó Vàn Tồng và bố hầu như thức trắng vì những thỏi vàng thỏi bạc cứ nhảy múa loạn xị trong đầu. Nửa đêm tiếng sấm nổ đì đoàng báo hiệu cơn mưa đầu mùa sắp đổ càng khiến hai bố con Vàn Tồng trằn trọc không thể ngủ nổi vì sợ trời mưa thác nước Xoang Vèng chảy mạnh sẽ không vào được hang để kiểm tra lại kho báu.

Sáng hôm sau trời càng vần vũ, những đám mây cõng đầy hơi nước từ hướng đông kéo tới bị đỉnh núi Khau Chang và núi Hô Sán giữ lại ngày càng dày và mọng nước báo hiệu cơn mưa lớn sắp đổ xuống. Dù cảm thấy nguy hiểm nhưng bị những thỏi vàng thỏi bạc thôi thúc, hai bố con Vàn Tồng thay đôi pin mới vào chiếc đèn pin và lấy hai chiếc kính lặn cho vào bựa púi rồi bí mật đi lên thác Xoang Vèng.

Xuống đến hố nước, Vàn Tồng thấy là lạ vì không thấy có một con dầm xanh nào nổi lên tìm mồi như hôm trước. Buộc chiếc bựa púi vào thắt lưng và đeo chiếc kính lặn che kín mắt, hai bố con Vàn Tồng nhảy xuống hố nước và lặn xuống rồi lần vào cửa hang sau đó men lên theo đúng lối đi mà hôm qua Vàn Tồng đã vào.

Bước qua cái vết chân kỳ quái đến chỗ cái văn bia, Vàn Tòng lấy đèn pin soi cho bố đọc. Vốn là thầy cúng, đọc thông viết thạo chữ nho lại nắm chắc ngữ pháp câu cú nên sau khi đọc các chữ khắc trên tấm văn bia ông Mềnh Quyên tái mặt lẩm bẩm:

- Không hay rồi, bố con mình gặp họa lớn rồi…

- Họa lớn là sao, chẳng phải mình bắt được vàng à - Vàn Tồng hỏi lại.

Im lặng một lát để trấn tĩnh lại ông Mềnh Quyên giảng giải cho Vàn Tồng. Nội dung trên tấm văn bia viết về ngày mất của một vị Tân vương vào mùa thu năm Kỷ hợi năm thứ 40 đời vua Cảnh Hưng, còn dòng chữ nhỏ phía dưới văn bia nói rằng tên huý của vị Tân vương là thổ quan đất Đô Long là Văn Đồng.

Như vậy đây chắc chắn là nơi cất giữ kho báu của Hoàng Vần Thùng và có thể cũng là nơi quàn thi hài của ông sau khi mất. Song điều đáng sợ nhất là ba dòng chữ ở cuối văn bia ghi rõ rằng những ai có ba điểm giống nhau thì có thể, ngoài ra không ai được đến nơi này, nếu cố tình thì đương nhiên sẽ chết.

Chiếu theo nội dung khắc trên tấm bia, ông Mềnh Quyên thấy có nhiều điều trùng hợp đến kỳ lạ. Trước nhất là tên tuổi và ngày sinh của Vàn Tồng trùng khớp với những câu chuyện truyền thuyết về Hoàng Vần Thùng, thứ nữa là đôi bàn chân của Vàn Tồng giống hệt vết chân hằn trên bãi cát trong hang. Rồi những câu chuyện kể về Hoàng Vần Thùng và kho báu của ông. Dù vậy ông nghĩ dù sao thì hai bố con đã vào đến nơi này cũng như đang ở thế cưỡi trên lưng cọp, một là bám vào đến khi nó mệt lử mà tìm cách tiêu diệt để tìm đường sống, hoặc là nhảy xuống để làm mồi cho nó. Nghĩ vậy ông nói ngắn gọn với Vàn Tồng:

- Thôi, ta lên kia xem sao.

Dò dẫm bước qua hai bộ xương và những thỏi bạc thỏi vàng, hai bố con Vàn Tồng đi vào sâu trong hang, được một đoạn thì thấy hang chạy ngược lên phía trên, tiếp tục đi qua hai ngách thì lòng hang lại mở rộng ra như gian nhà.

Lia chiếc đèn pin xung quanh chợt cả hai bố con giật bắn người khi thấy ở một góc hang xếp một dãy hơn chục cái toàn chum với lọ, có cái to một người ôm không hết, cái thì nhỏ như chiếc hũ đựng rượu. Ở hai đầu có hai bộ xương chết ngồi đã mục nát chỉ còn mỗi hai chỏm xương sọ và mấy đốt xương cẳng tay và xương ống chân.

Lấy hết sức can đảm, Vàn Tồng cùng bố leo lên chỗ mấy cái chum, nhấc những phiến đá làm lắp đậy thì thấy chum nào cũng đầy ắp toàn là vàng là bạc. Lùi lại vài bước ông Mềnh Quyên quỳ xuống đất chắp tay vái lia lịa còn Vàn Tồng ngồi thụp xuống một tảng đá, đầu choáng váng như muốn ngất vì lần đầu tiên thấy nhiều của cải vàng bạc như thế.

Một lúc sau, trấn tĩnh lại ông Mềnh Quyên bảo Vàn Tồng lấy một ít bạc cho vào hai cái bựa púi, thấy ít, Vàn Tồng bảo:

- Bố! lấy thêm một ít đi.

- Không được đâu, tý bơi ra sao được, nặng thế chìm xuống nước là chết đấy, ta lấy ra rồi quay trở vào lấy tiếp thôi.

Nghe thấy có lý, Vàn Tồng cùng bố mỗi người lấy mỗi túi cũng gần chục cân rồi lần mò bước xuống. Vừa đến chỗ cái văn bia thì chợt nghe thấy rầm một tiếng rõ to trong lòng đất, đi được vài bước thì thấy nước dâng cao hơn so với trước vài mét. Ngạc nhiên vì không hiểu chuyện gì xảy ra, Vàn Tồng bảo bố ngồi chờ rồi đeo kính lặn xuống dưới hang để kiểm tra trước. Đến chỗ cái cửa hang thì thấy một tảng đá to tướng chèn kín khiến hang tối thui không thấy lối ra bên ngoài tiếng nước chảy ầm ầm. Hoảng hốt, Vàn Tồng vội bơi ngược trở lại bảo bố:

- Bố ơi, cửa hang bị lấp mất rồi…

Nghe vậy ông Mềnh Quyên biết ngay điềm dữ đã đến và lẩm bẩm trong mồm:

- Chết rồi, mình gặp hạn to thật rồi…

- Là sao hả bố? Vàn Tồng hỏi.

- Đá lấp như vậy chắc không ra được, giờ bố con mình phải tìm đường khác thôi, may ra có lối lên hang Tham Kỳ…

Nghe vậy, nỗi sợ bất chợt tràn đến khiến Vàn Tồng đứng không vững.

- Đi thôi kẻo đèn hết pin - Ông Mềnh Quyên giục. Thấy Vàn Tồng nhấc cái bựa púi định đeo lên lưng ông bảo:

- Để lại đi, đường xa khó đi không mang theo được đâu, khi nào có dịp bố con mình quay lại lấy sau.

Thấy tiếc của, Vàn Tồng lấy một thỏi giắt vào cạp quần rồi cùng bố soi đèn pin đi vào trong hang, thi thoảng gặp đường cụt lại phải quay lại tìm lối khác, càng đi càng thấy tối và sâu hun hút mà vẫn không thấy lối ra. Đến khi cả hai chiếc đèn pin gần hết điện chỉ còn ánh sáng le lói thì chợt thấy một phiến đá to, phía trên có một cỗ quan tài cũng bằng đá, xung quanh xếp đầy gươm giáo và đồ tùy táng đã gỉ sét, cán bằng tre gỗ đã mục nát. Không ai bảo ai, cả Vàn Tồng và ông Mềnh Quyên đều hiểu rằng đây chính là nơi yên nghỉ của Hoàng Vần Thùng. Đúng lúc đó thì cả hai chiếc đèn pin đều tắt ngấm vì hết sạch điện.

Do ở trong hang núi nên hai bố con Vàn Tồng không biết được những gì xảy ra ở bên ngoài. Số là sau khi hai người đi vào hang thì trời đổ mưa rất to và kéo theo một cây cổ thụ ven suối phía trên thác đổ xuống đúng vào một tảng đá to như gian nhà, sau đó tảng đá bị dòng nước hung dữ kéo xuống thác và lấp kín cửa hang.

Ở nhà, mẹ Vàn Tồng nấu cơm trưa xong rồi đợi mãi, đợi mãi cũng không thấy hai bố con về ăn, đến tận mấy hôm sau cũng không thấy. Đi hỏi các gia đình trong làng ai cũng không biết. Cho rằng hai bố con đi săn cá bị lũ cuốn, mẹ Vàn Tồng nhờ dân làng đi tìm mấy ngày dọc khắp con suối Hò Piên rồi đến chân thác Xoang Vèng cũng không thấy xác.

Chuyện xảy ra đã mấy chục năm, bây giờ hai làng Thượng và làng Hạ đã được nhiều hộ gia đình nơi khác đến khai hoang sinh sống và trở thành khu dân cư đông đúc với hơn năm chục hộ. Suối Hò Piên cũng ít nước hơn trước, thác Xoang Vèng giờ chỉ còn hai tầng vì một tầng đã bị hòn đá to chèn kín như cái nút ở miệng chai rượu.

Bây giờ mọi người mỗi khi đi qua chỗ mấy con voi đá, ngựa đá cũng không còn sợ đến mức phải bó mũ nón ra hoặc không dám nói to như trước, nhưng những câu chuyện về Hoàng Vần Thùng, về hang vàng hang bạc thì vẫn được những người già trong làng kể lại cho lũ trẻ nghe. Riêng câu chuyện về hai bố con Vàn Tồng là không ai biết để kể lại mà chỉ biết rằng hai người bị lũ cuốn mất tích khi đi săn cá.

Hoàng Su Phì, tháng giêng năm 2024