Người theo dõi

Thứ Năm, 27 tháng 7, 2017

Ca khúc: Hoa tháng tư


Hạnh phúc


Hoàng Su Phì - Thiên đường kỳ vĩ



truyện ngắn: GÃ ĐIÊN

GÃ ĐIÊN

Trời nắng.
Bầu trời trong vắt không một gợn mây, ánh nắng chiếu xiên khoai ngùn ngụt bốc lên như chực thiêu rụi đám lá bàng héo rũ. Thi thoảng, một cơn gió cuốn theo từng đám bụi đỏ lòm vã lên những tán lá. Ngay dưới gốc bàng Gã vẫn bình yên há hốc miệng nằm ngủ như hải cẩu phơi nắng. Mặc kệ nắng, mặc kệ gió đang vốc từng vốc bụi mà thả vào mồm vào mặt Gã.
Mãi cho đến quá chiều, khi cái chợ xép của ga Đồng Quang bắt đầu nhộn nhịp thì gã mới tỉnh giấc. Lúc lắc cái đầu xù đỏ quạch như đuôi chồn để giũ đám bụi đỏ lòm rồi vươn vai vặn người đánh rắc một cái, gã ngoác miệng ngáp dài một cái rồi sải bước sang bên kia đường ngồi xổm xuống chỗ chân cái cột điện quen thuộc của Gã.
Gã tên gì, ở đâu đến chẳng ai biết bởi cách đây vài tháng gã chợt lù lù xuất hiện. Nghe đâu gã thuộc diện "Giải tỏa" của chiến dịch làm sạch môi trường trước khi diễn ra ngày hội toàn dân đi bỏ phiếu bầu Đại biểu Quốc hội của một địa phương nào đó nên gã được một chiếc xe tải nửa đêm bí mật chở xuống thành phố và thả xuống cái chợ xép ở ngã ba ga xe lửa Đồng Quang này.
Hôm mới xuất hiện, Gã đã khiến cư dân ở đây chết khiếp bởi vẻ ngoài dị dạng với chiếc bao tải đay rách bướp cuốn quanh hông thay quần, mái tóc xù ngược đỏ quạch che kín khuôn mặt khô quắt xám xịt như xác ướp, đôi mắt đỏ lòm như mắt sói thì gã còn suốt ngày ngồi lì ngay khuôn viên của quán bia Nhâm Quang sát với cổng trường Văn hóa nghệ thuật Việt Bắc. Đây là nơi tụ tập của các cô cậu sinh viên mỗi khi tan lớp, nhất là những buổi tối mùa hè nóng nực. Chắc là khó có ai chấp nhận được cái cảm giác đang say sưa trong men bia hơi và đồ nhắm thì chợ từ đâu đó thoảng đến cái mùi hôi nách đặt sệt và mùi mô hôi của những người ít tắm như gã. Bởi vậy những ngày đầu mới dạt đến đây, gã bị mọi người xua đuổi như một con chó ghẻ.
Quán bia hơi Nhâm Quang Nằm ở vị trí đắc địa gần đoạn đường sắt cắt ngang con đường hai chiều vào Thịnh Đán, sát với ga tàu Đồng Quang, ngay phía trong là trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật Việt Bắc lúc nào cũng đông khách. Ngoài bia tươi Việt Hà nổi tiếng của Thái Nguyên được bán gần như khi mới xuất xưởng và một seri đồ nhắm khoái khẩu giá cả bình dân hợp với túi tiền của dân sinh viên văn hóa nghệ thuật, nhất là cánh xe ôm như mực khô, nem chua, trứng vịt lộn, ốc xào sả, lạc luộc và củ đậu Đại từ mỗi tối còn có cô con gái chủ quán cực xinh lại có tài ăn nói đứng phụ giúp mẹ bán hàng khiến mấy cậu sinh viên nam chết mê chết mệt mà chẳng cưa cẩm gì được.
Mỗi buổi tối, nhất là những đêm hè oi bức hàng chục chiếc bàn nhựa được bày sát tận mép đường bao giờ cũng chật kín khách, tiếng thực khách gọi bia và đồ nhắm cứ loạn xì ngậu như cái chợ vỡ. Như biết thân biết phận, Gã cứ ngồi thu lu dưới chân cột điện cao áp đợi cô phục vụ đem túi ni lon đựng vỏ ốc hoặc vỏ trứng vịt lộn ra đổ vào chiếc thùng rác ngay sát bên là Gã mon men đến nhấc chiếc túi đem đến chỗ ngồi rồi hút ít nước còn sót lại trong vỏ trứng. Dưới ánh điện sáng lờ mờ, Gã thụt đầu giữa hai đầu gối rồi xòe bàn tay tay sờ sờ vào mớ vỏ ốc chọn những chiếc vỏ còn nóng ấm và nằng nặng tức là ở trong vẫn còn chút ruột hoặc những con do thực khách ăn thừa rồi đưa lên miệng dùng chiếc răng nanh cắn vỡ chôn và hóp má hút một cái đánh chụt. Thi thoảng gã còn vớ được  những đầu mẩu nem chua hoặc những quả trứng vịt lộn mà mấy cô cậu sinh viên bỏ lại không dám ăn do quá già, cái phôi đã hình thành đủ cả đầu mình chân cánh, lông lá xù xì.
Những ngày đầu sợ mất khách, bà chủ quán đuổi ồi ồi mà gã cứ ngồi lì như cái bao cát. Đuổi chả được, bà chủ quán đành quây cho gã một góc dưới chân cột điện cho gã ngồi cách xa mấy chiếc bàn để khách không ngửi thấy mùi hôi của gã.  Mọi người thấy gã hiền lành chẳng làm hại ai bao giờ nên mọi người chẳng thèm để ý, lâu rồi thành quen. Nhiều khi mấy cô cậu sinh viên còn thương cảm để chừa lại mấy con ốc hoặc cây nem chua rồi đem đến cho Gã. Những lúc vậy hai mắt gã sáng quắc như đèn pha xe máy. Ăn không hết gã buộc túm lại và treo lên cái mấu ở cột điện để đến khuya ăn tiếp. Hàng đêm, cuối mỗi buổi bán hàng, bà chủ quán lại dốc hết những ca bia thừa vào chiếc bình cụt quai đưa cho gã, có hôm uống nhiều gã bị say chổng kềnh và cứ ôm mặt khóc rưng rức như đứa trẻ con.
Hình như ông giời cũng còn chút thương hại những người điên như hắn, mấy tháng trời nay chỉ sống nhờ vào những món đồ ăn đó, khát nước thì nhảy hai bước xuống rãnh nước dưới đường tàu vục cổ uống ừng ực mà gã vẫn sống nhăn chả ốm đau bệnh tật gì cả.
Mặc dù bị điên hơi nặng nhưng có lẽ trong gã vẫn còn một chút ý thức của con người bởi chiếc bao tải đay nhàu nát mỗi khi có lỗ thủng lại được gã lấy mấy sợi dây buộc nem chua túm lại hệt như cái túm tóc của bọn trẻ mẫu giáo cho đỡ xấu hổ. Đói khát rách dưới vậy nhưng chưa bao giờ thấy Gã ăn trộm ăn cắp một thứ gì của ai. Thậm chí có một buổi trưa hè chợt mọi người thấy gã kêu rống thất thanh, mọi người chạy ra ngó thì thấy có mấy gã choai choai tóc xanh tóc đỏ đang túm cổ gã mà đấm đá uỳnh uỵch, một gã thì đang ra sức lấy tay giật cái túi vải mà Gã vẫn đeo lủng lẳng trước bụng, còn Gã thì cố giằng lại. Thấy mọi người xô lại can ngăn một gã choai còn cố đạp mấy cái vào bụng Gã rồi mới chịu bỏ đi. Nhìn Gã đưa tay vuốt vệt máu đang chảy ra từ bên mép rồi lận chiếc túi vải dấu vào trong cạp váy bằng bao tải, mấy bà cụ già chép miệng tội nghiệp: Có tiền thì giấu kỹ đi, để hở ra như vậy thì chẳng giữ được ở cái chợ ga này đâu con ạ.
Tối nay trời oi bức lạ thường.
Mãi gần 7 giờ mà ánh nắng vẫn còn nhầy nhụa trên mái nhà. Không chịu được cái nắng giữa hè nên mới hơn 7 giờ tối mọi người đã tỏa ra đường nhung nhúc, mấy bộ bàn ghế nhựa chẳng mấy chốc đã chật cứng thực khách. Mấy chiếc ca nhựa đựng bia liên tục chạy ra chạy vào từ mấy chiếc bàn đến tủ chứa bia khiến đôi tay của mẹ con bà chủ quán mỏi nhừ. Cường độ lao động cao khiến bà chủ quán hoạt động thiếu chuẩn xác nên đôi khi vòi bia cứ chảy tồ tồ xuống chiếc bình chứa bia thải phía dưới bom bia. Xung quanh chỗ ngồi của Gã, vỏ trứng, vỏ ốc và lá chuối cuốn nem chua xếp cao như núi, gã mỏi tay bới và được một bữa no căng bụng.
Mãi hơn 12 giờ đêm vị khách cuối cùng mới rời khỏi bàn. Dốc nốt chút bia thừa vào cái túi ni lon, bà chủ quán bia đưa cho Gã. Đưa lên miệng cắn một lỗ dưới đáy túi, Gã mút chùn chụt như trẻ con bú sữa, chỉ một loáng túi bia đã xẹp lép. Một lát sau bia ngấm khiến mắt Gã lờ đờ như người chết trôi, chân nọ đá chân kia Gã lật khật bước dưới ánh đèn vàng ệch về gốc cây bàng nằm ngủ.
Mãi 8 giờ  sáng hôm sau, tiếng xe tải 3 chân rú còi hơi inh ỏi mới làm gã tỉnh giấc. Túi bia thừa hôm qua giờ vẫn khiến gã chuếnh choáng và thấy mót tiểu. Chui qua cái lỗ bờ rào bằng cây cúc tần, Gã lần xuống dưới đường sắt. Làm cái việc ấy xong, lão nhìn mấy đứa trẻ độ ba bốn tuổi chơi đùa trên đường tàu, chả hiểu sao Gã chợt cất tiếng cười khanh khách.
Chợt phía ga Đồng Quang, tiếng còi tàu rú một hồi dài, trên đường, mấy anh nhân viên đường sắt đang hạ tấm rào chắn ngăn đường. Nghe thấy tiếng còi, mấy đứa trẻ chạy nháo nhào, chợt một đứa bị trượt dép và mắc ngay chân vào thanh tà vẹt. Tiếng còi rú toẹt ... toẹt làm nó sợ hãi mất bình tĩnh và khóc thét, vừa lúc ấy chiếc đầu tàu chợ nhô ra ngay khúc cua. Tiếng khóc thét của thằng bé khiến mọi người đứng trên đường nhìn thấy và tái mặt.
Đoàn tàu đã tới quá gần, bánh xe bị phanh hết cỡ cọ vào đường ray phát ra những vệt lửa rợn người.
Chân vẫn mắc vào thanh tà vẹt, Mắt thằng bé trắng dã vì sợ hãi, phía trên đường mọi người ai cũng há hốc mồm vì kinh hãi, chân tay cứng đờ, nhiều người lấy tay ôm mặt chờ đón điều khủng khiếp chắc chắn sẽ sảy ra.
Nhảy ba bước là đến, Gã điên cúi người trên đường ray và đưa tay dứt một cái thật mạnh rồi quẳng thằng bé xuống rãnh nước, đúng lúc đó đoàn tàu trờ đến...
Tiếp tục chạy gần một cây số, đoàn tàu mới dừng lại. Sau một vài phút chết lặng, mọi người mới chạy xuống chỗ Gã, lúc này đã bị bánh xe nghiến làm đôi, ruột gan nát bét. Cảnh tượng kinh hoàng khiến nhiều người nôn thốc nôn tháo, trong đám đông chợt ai đó bật ra một câu: Đúng là thằng điên, cứu người thành ra mang họa... Cũng phải hơn mười phút sau bố mẹ thằng bé mới biết tin và chạy đến. Không thèm nhìn xác Gã, hai người bế đứa con dính đầy bùn đất chạy vội lên đường nhựa và lẩm bẩm trong miệng: Mẹ kiếp, sao lại vứt con tao xuống ngay rãnh mương thế này...
Gần ba mươi phút sau, các cơ quan chức năng mới cử người đến lập biên bản hiện trường vụ tai nạn, hai đoạn xác của Gã được mọi người đưa lên bờ cỏ. Khi khám nghiệm tử thi, đại diện Nhà ga và công an Phường Đồng Quang mở chiếc túi vải mà gã vẫn giữ như giữ mả tổ dưới rốn mọi người thấy bất ngờ vì trong túi chẳng có đồng tiền nào mà chỉ có một mớ thư tình của một cô sinh viên trường y gửi cho hắn, chắc được viết từ rất lâu rồi vì các mép giấy đã quăn queo nhàu nát. Thấy vậy trong đám đông hiếu kỳ ai đó lại bung ra một câu nói bâng quơ: Thì ra gã này bị dồ tình...
Khám nghiệm và làm các thủ tục xong, gã được tổ dịch vụ của phường Đồng Quang đưa đi chôn ở nghĩa trang Thịnh Đán. Khi mọi người về hết, hai mẹ con bà chủ quán bia Nhâm Quang mới lẳng lặng mở cái làn nhựa lấy ra mấy quả trứng vịt lộn, đĩa lạc luộc, mấy cây nem chua và một bịch bia đặt trên mộ rồi thắp hương và lẩm nhẩm khấn cho Gã.
Có lẽ đây là những món ăn thịnh soạn nhất dành cho Gã từ khi đến làm cư dân của cái ga Đồng Quang này.
Thái Nguyên, những ngày hè năm 2002





MÓN ỐC KINH HOÀNG THỜI SINH VIÊN


Ngày mới nhập trường khóa Đại học 2 tại Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật Thái Nguyên, sau một buổi sáng tìm phòng thuê trọ thằng bạn mình vốn là dân vùng chiêm trũng suốt, ngày quen với tôm cua ốc cá nên chỉ đảo qua một vòng quanh trường là hắn ta đã mang về cả một xô đầy ốc đá béo tròn nung núc, con nào con ấy cứ to như ngón tay cái.
Ngay tối hôm đó, nhóm sinh viên mấy tỉnh cùng lớp và mấy bác sinh viên khóa 1 sau một chầu rượu làm quen liền rủ nhau về khu trọ của dân Hà Giang. Chưa vào đến cửa mấy gã người Cao Bằng, Bắc Cạn đã kêu rú khi nhìn thấy xô ốc đầy ngồn ngộn, có thằng thè lưỡi liếm nước dãi đến rụng cả ria mép. Một tay đề xuất: Luộc, luộc ngay…
- Nhưng ốc mới bắt mày ạ… thằng bạn giãi bày
- Thì ăn đến đâu bóp cứt đến đấy, rượu vào rồi thì sợ đếch gì… Thôi quyết…
Dạo ấy, xô chậu toàn dùng đồ nhựa nên không có nồi, thế là trong cơn rượu ngất ngây một tay cùng xóm trọ lấy ngay chiếc hòm tôn đựng quần áo để làm nồi luộc. Mình nhỏ bé nhanh nhẹn nhất được phân công đi chợ mua rượu, nước mắm, gừng để pha chế nước chấm. 
Lếch thếch đi bộ, nửa tiếng sau về nhà đã thấy cả nhóm hà hít xuýt xoa, thằng thì khêu, thằng thì cắn đít ốc mà mút hết đến 1/3 hòm ốc. Nhưng giời ạ, đến gần mình thấy có mùi lạ mới hỏi:
- Sao ốc mới bắt đã chết thế nhỉ?
- Ui già, ốc phải thối thối một tý mới là ốc chứ, ăn đi, không sao đâu…
Tay sinh viên khóa 1 với hơn 2 năm kinh nghiệm cuộc sống sinh viên liền buông vội con ốc cảnh giác hỏi: 
- Ơ ! tưởng ốc mua?
- Không, tao mới bắt đấy - thằng bạn trả lời.
- Bắt ở đâu ?
- Ở rãnh nước gần miệng cống cổng trường gần nhà Thư Bẩn…
- Nghe vậy, thằng bạn chạy thẳng ra bờ rào móc họng nôn một đống rồi quay vào bảo:
- Cái cống ấy là cửa xả của cái bể toa lét nhà vệ sinh tập thể của trường, cái bể này xây sai quy cách nên cứt không phân hủy mà đùn thẳng ra đó. Mùi này là mùi cứt sinh viên, các thánh ạ…
Nghe vậy cả nhóm không ai bảo ai cứ đưa tay móc vào cổ nôn sạch mấy món ăn lúc chiều chưa kịp tiêu hóa xuống ruột non.

Mất công hơn nửa tiếng đi mua rượu nhưng mình thấy vẫn may mắn vì chưa kịp ăn con nào.

THIÊN ĐƯỜNG VÀ NIẾT BÀN

THIÊN ĐƯỜNG VÀ NIẾT BÀN

Nhà thằng Tuấn nằm ngay trên sườn quả đồi trông ra cánh đồng chiêm trũng quanh năm lúc nào cũng rộn tiếng ếch nhái kêu ộp oạp, nhất là sau những cơn mưa đầu hạ. Mãi tít cuối cánh đồng là một đầm sen, nằm sát bên cánh đồng là con ngòi Khổng dẫn nước từ dãy núi Lịch vượt qua hơn chục cây số đến chợ Kim Xuyên thì hòa vào dòng Sông Lô hùng vĩ.
Nó vốn sinh ra đúng vào ngày mùng một tết nguyên đán của cái thời tem phiếu. Dạo ấy nước mình còn nghèo lắm chứ không như bây giờ, lợn gà nuôi được đều phải nộp cho cửa hàng thực phẩm để giết mổ để mới phân phối lại cho các gia đình cán bộ nhà nước, còn thừa bao nhiêu mới bán lại cho các hộ nông dân. Vì vậy nhà nào giàu lắm thì 3 ngày tết cũng chỉ có dăm ba cân thịt với vài con gà là cùng.
Biết mẹ nó sắp đến ngày sinh sợ ăn phải thịt lợn nái bị hậu sản nên từ ba giờ sáng ngày hai mươi chín tết bố nó đã ra cửa hàng thực phẩm chầu trực, đến cuối buổi chiều nài nỉ đến rát họng mới mua được hai cân thịt ba chỉ, một cái móng giò và một bộ lòng còn nguyên cả phân nhưng được cái đúng là con lợn đực mà nhà ông nuôi từ nhỏ nên cũng yên tâm. Tối ấy, mẹ nó bụng chửa lặc lè vẫn ngồi gói mấy cái bánh chưng còn bố nó thì chế biến bộ lòng và thịt lợn để chuẩn bị cho mấy ngày tết.  Đúng lúc giao thừa thì bà trở dạ, dìn dứ mãi đến 5 giờ sáng bố nó gọi đứa con cả lấy cái võng đay buộc vào đoạn cây hóp rồi hai bố con chầy chật khiêng bà ra trạm xá, được hơn hai mươi phút sau thì nó ra đời. Thấy mẹ tròn con vuông bố nó mừng ríu rít nựng: Cu của bố sau sẽ nghịch lắm đây, ở trong bụng mẹ mới nghe tiếng pháo đã đòi ra đi chơi rồi mà…
Để mẹ nó ở trạm xá với đứa con gái cả, bố nó về nhà chuẩn bị mâm cơm để cúng các cụ. Chưa tàn tuần nhang ông vội hạ lễ và chọn mấy miếng thịt ngon nhất, ít rau bắp cải, mấy miếng su hào và bát đũa rồi đựng chung tất cả vào cái rá tre bưng ra trạm xá cho mẹ nó.
Sinh vào ngày tết - ngày no nhất của năm nhưng số nó khổ, ngay từ lúc lọt lòng mẹ nó đã đói. Tiếng là ngày hai bữa cơm nhưng mẹ nó hầu như chỉ ăn sắn, ăn khoai và rau xanh nên thiếu sữa. Để bù lại mẹ nó ăn quả đu đủ xanh để có sữa, nhưng thay vì dòng sữa trắng đục thì sữa của mẹ nó cứ nhờ nhờ nhạt toẹt như nước gạo loãng, nó bú cả ngày vẫn không đủ dưỡng chất, bú nhiều khiến hai cái ti mẹ nó teo nhách, hai mảnh da chảy dài thõng như hai mảnh vỏ chuối, mỗi khi nó mút thì cái núm chỉ trực chui xuống tận cuống họng.
Ngày ấy Nhà nước chưa có chính sách về dân số kế hoạch hóa gia đình như bây giờ, ai thích thì cứ đẻ, vì vậy mà chỉ một năm sau thì mẹ nó lại sinh được thằng cu nữa sau nó. Các cụ bảo có đầu có đuôi nuôi lâu cũng lớn, bằng những giọt sữa loãng và nước cháo rồi thì ngô khoai sắn mà hai anh em nó cũng lớn dần theo năm tháng. Vì suy dinh dưỡng nên hai anh em nó còm nhỏm còm nhom, đến năm lên hai tuổi mà nó cân nặng vẫn chưa nổi bẩy kilogam còn thằng em thì lẻo khẻo đen chùi chũi như cái bắp bi chuối.
Các cụ nói trai mùng một, gái hôm rằm quả không sai, từ khi lọt lòng thằng Tuấn đã có tính nghịch ngợm rạch rời rơi xuống. Chưa được ba tháng tuổi nó đã biết lẫy, đến năm lên hai tuổi đã theo bố ra đồng ngồi trên bờ xem bố cày ruộng. Ông nội nó vốn là du kích thời chống Pháp tham gia nhiều trận đánh và giết khá nhiều giặc, vẫn biết là do thời vận nên ông buộc phải giết người để bảo vệ quê hương và bảo vệ mình mỗi khi lâm trận nhưng ông luôn bị ám ảnh day dứt bởi những ánh mắt, tiếng kêu của đối phương trước khi chết nên khi về già ông đã lập một cái am nhỏ để sám hối với những linh hồn trước kia đã bị ông giết. Thấy nó thông minh nhanh nhẹn nhưng nghịch ngợm như vậy, nghĩ đó là điềm quả báo, ông nó khuyên mẹ nó gửi vào một ngôi đền để cầu mong sự che trở.
Sinh ra trong thời bao cấp, khi mà nền kinh tế nước nhà gần chạm tới ngưỡng khủng hoảng nên trong suốt những năm tháng tuổi thơ nó vất vả. Cuộc sống đói nghèo khiến nó lúc nào cũng chỉ mơ thấy một bữa ăn no và ăn ngon, mơ được mặc một bộ quần áo mới. Hai anh em nó ngoài mấy giờ học trên lớp thì hầu như cả ngày đều ở dưới ruộng bắt con cua con cá và bẫy chim để cùng bố mẹ lo cho bữa ăn hàng ngày.
Một bữa, nó hỏi ông nội:
- Ông ơi, sao không bao giờ bố mẹ cho cháu ăn cơm no hả ông ?
Nghe vậy, ông nó nuốt nước mắt bảo:
- Vì bố mẹ con và ông ai cũng nghèo con ạ. Gạo bây giờ đắt lắm, để hôm nào ông nấu cơm cho cháu ăn no.
Nó hỏi lại:
Thế ở chỗ nào thì có cơm ăn no hả ông ?
Lòng quặn thắt vì thương cháu, ông trả lời qua quýt:
- Ở trên đời này ai cũng khổ, chỉ đến khi nào được lên Thiên đường thì mới được ăn ngon mặc ấm, mới hết khổ, cháu ạ…
Nghe vậy nó sáng mắt hỏi lại ông:
Thế thiên đường ở đâu, sao ông không cho cháu đến đó để được ăn no hả ông ?
Trái tim non nớt của nó làm sao hiểu được nỗi lòng quặn thắt của ông nó. Lau hai dòng nước mắt, ông nó bảo:
- Nhưng thiên đường xa lắm cháu à. … Thôi, giờ cháu đi nhóm bếp, ông nấu cơm cho cháu ăn.
Tối hôm ấy, ông  nó nấu một nồi cơm to với cá ướp cho hai anh em nó ăn. Sau bữa đó, ngày nào nó cũng suy nghĩ đến nung nấu rằng thiên đường là ở đâu, ở đó mọi người có cơm để ăn no không, có bị đánh chửi không, có phải làm lụng vất vả không. Và, nó mong ước được đến đó. Nhưng mong mãi, mong mãi và hỏi mãi mà chẳng thấy ông nó trả lời, sau đó mấy tháng thì ông nó mất. Đối với nó, việc ông nó ra đi là một mất mát lớn vì ông nó vẫn không cho trả lời cho nó biết thiên đường là ở đâu.
Một hôm, nó cùng đứa em đi ra con ngòi Khổng câu cá, hôm ấy cá ăn nhiều nên nó mải câu mãi đến chạng vạng, nghĩa rằng ngày mai mẹ nó sẽ có ít cá đi bán để đong gạo, còn đứa em thì đi dọc bờ sông để đào giun làm mồi. Đến đoạn vực sâu, cả ngày không ăn gì nên em nó chóng mặt ngã xuống bờ suối mà không ai biết…
Còn nữa…
 Câu chuyện sau đó là kể về 2 anh em nó ở một thế giới khác mà ta hay gọi là THIÊN ĐƯỜNG. Nhưng, thiên đường hay cõi  NIẾT BÀN có đúng là nơi có cuộc sống no đủ hạnh phúc mà con người hướng tới hay vẫn khác nhau chăng ?

Mình sẽ viết ở phần sau.

CHUYỆN Ở PHÒNG TIẾP DÂN.


CHUYỆN Ở PHÒNG TIẾP DÂN.
Ở một xã vùng cao nọ có lịch phân công các đồng chí lãnh đạo xã tiếp công dân ở trụ sở xã để giải quyết những thắc mắc của bà con, trong đó đồng chí chủ tịch UBND xã được phân công lịch tiếp vào ngày thứ tư hàng tuần.
Đúng hôm đó, chẳng biết trời xui đất khiến thế nào mà bà con đến đông nghịt, mãi đến gần trưa vẫn bu đầy ở cửa với vô vàn thắc mắc, nào thì đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai, nào là đề nghị giải quyết đền bù giải tỏa, vân vân và vân vân.
Phía ngoài có một bác cựu chiến binh đợi mãi nhưng chưa đến lượt nên phát bực:
- Hừ… có lẽ tao lại làm như cái ngày ở bộ đội thôi…
Ngồi bên cạnh là cô nữ người Tày, thấy lạ liền hỏi:
- Làm như thế nào để gặp được ông chủ tịch bác giúp cháu với…
- Nghe vậy, bác cựu chiến binh kể:
- Ngày tao ở bộ đội, cả đơn vị có mỗi cái hố xí. Có lần cả đơn vị bị đau bụng mà một thằng thì cứ ngồi trong ấy giữ chỗ, sợ ỉa ra quần tao mới giật cái cánh cửa rồi chổng đít đi giật lùi vào, thằng ở trong sợ bị phun vào mặt liền chạy ra, thế là tao được ỉa. Đợi mãi thế này chắc tao cũng phải làm thế…
Nghe vậy, cô nữ tày trợn mắt:
- Nhưng kia là ông chủ tịch chứ không phải cái hố xí, bác chổng như vậy thì ông ấy chạy mất thì cả bãi này không gặp được đâu.
Nghe ra, bác cựu chiến binh thở dài:
- Ừ nhể… thôi đợi vậy.

TUYỆT CHIÊU QUẢNG CÁO


Quảng cáo xe máy
Thằng bạn mình kể: Ở một cửa hàng bán xe máy của thị trấn nhỏ vùng cao có mấy anh thanh niên bản địa đi mua xe máy để về chở chè. Biết thóp, anh chủ cửa hàng liền mời mấy bố bản ngồi sau xe máy rồi chỉ vào bảng taplo xe rồi hỏi:
- Mày biết đây là số mấy không?
- Số 1 - Anh chàng trả lời.
- Thế còn số này:
- Số 4.
- Ờ, thế thì xem đây nhá… Nói rồi anh chủ cửa hàng vào số 1 rồi nhấn ga đánh vù một phát làm anh bố bản suýt ngã. Chạy được mấy chục mét anh chủ dừng lại rồi lên giọng quảng cáo:
- Mày thấy chưa, cái xe này khỏe lắm, đấy là tao chỉ đi số 1 thôi, chứ nếu đi số 4 thì còn khỏe hơn 4 lần thế này.
Nghe vậy, cả mấy anh lác mắt quyết mua liền mặc dù bị đắt hơn triệu bạc.

TRÊN ĐỈNH TƯƠNG KỲ

Mênh mông, mênh mông chiều về
Từng ngọn sóng ngất ngây.
Kìa là gió, kìa là mây
Biển Vũng Tàu cho lòng ai đắm say…

Từ ngàn xưa ai ngân câu ca
Trấn Chân Bồ một vùng bao la
Hiên ngang ngực vươn chắn sóng
Đỉnh Tương Kỳ soi bóng biển xa xa.

Đây Hồ Mây long lanh nước vơi đầy
Nhớ lắm Long Điền soi dòng nước Cỏ May
Đường Hạ Long, Quang Trung, Trần Phú
Bãi Trước hiền hòa, gió nắng tóc ai bay

Vũng Tàu ơi! thời gian dẫu phai phôi
Nước sông Dinh hiền hòa về biển lặng
Phút oai hùng xưa pháo đài Phước Thắng
Bạch Dinh lầu in dấu trái tim tôi.


Vũng Tàu ơi, còn đậm mãi trong tôi
Thành phố biển đang từng ngày thay đổi
Đất mẹ hiền có Hải đăng dẫn lối
Cho con tàu đất nước mãi sinh sôi.



LƯƠNG THỰC 3 CHẾ ĐỘ

Dạo mình còn đi học cấp một là thời kỳ khốn khó nhất của đất nước những năm 1981 - 1982. Chẳng là khi đó cả nước mất mùa mấy năm liên tục. Để cứu đói Chính phủ kêu gọi viện trợ nước ngoài, thế là mấy nước bên trời Âu như Liên xô, Cộng hòa dân chủ Đức gửi cho mấy nghìn tấn hạt mì và hạt bo bo hay còn gọi là lúa miến. Hạt bo bo có vỏ rất cứng không thể nấu ăn trực tiếp mà phải dùng máy chuyên dụng để xay xát bóc vỏ sau đó lên men thành bột mì nhưng ngày đó khắp vùng nông thôn nước ra chỉ có loại cối xay đan bằng tre sau đó nhồi đất và đóng răm bằng gỗ để xay thóc trước khi cho vào cối giã, còn ở miền núi thì dùng cối nước để giã. Nói chung cả 2 cách này đều không bóc được vỏ hạt bo bo mà Chính phủ thì cũng nghèo không có dầu để chạy máy bóc vỏ nên cứ phát thẳng cho dân. Vì vậy dân ta chỉ có cách ngâm nước, nấu lên để ăn cả vỏ như cơm. Ăn thì no đấy nhưng khổ nỗi men dạ dày không đủ mạnh để tiêu hóa nên ăn vào thế nào thì chui ra thế ấy. Ngày ấy cũng không có nhà vệ sinh tự hoại nên ai buồn thì cứ lên rừng mà xả, hạt bo bo chui ra rơi vào lá cây khô kêu lách tách như trẻ con ném sỏi, cháu nào bị táo thì phải chổng mông lên mà lấy que mà khều mà đục như bị tắc hạt cà phê hay hạt ổi xanh. Người đói thì chó cũng đói nên chúng nghe tiếng hạt bo bo rơi lách tách liền chạy đến nhặt lại. Vì men tiêu hóa của chó mạnh hơn nên cũng làm hạt bo bo mềm ra được chút ít nhưng nói chung khi thải ra vẫn nguyên cả hạt. Đến lượt gà ăn lại thì do có cái mề dày thì mới tiêu hóa hết. Vì vậy dạo ấy người và chó giống nào cũng gầy nhom, chỉ có lũ gà là béo múp. Có lẽ từ lý do ấy mà dân ta gọi hạt bo bo là HẠT 3 CHẾ ĐỘ thì phải.


QUẢ LỪA TO BẰNG VỐC TAY

QUẢ LỪA TO BẲNG VỐC TAY

Ông sếp cũ của mình trước kia vốn bị thoát vị bẹn nên cái quả trứng lúc nào cũng khủng, mùa đông thì co lại như cái củ nâu, mùa hè thì như quả bơ để chín quá ngày.
Một lần, ông cùng một cán bộ người địa phương đi công tác, con đường mòn cắt  qua suối Nậm Hóp của xã Tiên Nguyên, bên này thì là một vạt rừng, bên kia ngay sát bờ suối là cái chợ xép với mấy cái quán nhỏ bán mì tôm và hàng tạp hóa, do hôm trước vừa có cơn mưa nên nước đục ngầu, cát thì phẳng lì. Cả hai chú cháu chẳng ai mang theo quần áo, nhìn dòng suối chảy khá siết rộng chừng 40m mà chẳng có cây cầu nào, ông sếp ngập ngừng bảo cậu cán bộ lội suối sang trước để xem nông sâu thế nào, còn ông thì cầm theo chiếc camera M7 và cái máy ảnh, sợ suối sâu bị ướt thì hỏng và quần áo mà ướt thì không họp với cán bộ xã được.
Cậu cán bộ nghe lời nhưng vẫn hơi sợ vì không biết bơi. Lội được một đoạn, thấy lòng suối thoai thoải, nông toẹt và trải đầy cát mịn, cậu ta nảy ra ý nghĩ nghịch ngợm, khi đến giữa suối liền thụp xuống đi bằng đầu gối rồi kêu to:
- Nước sâu lắm chú ơi, cởi quần vác máy lên kẻo ướt đấy…
- Nghe vậy, ông sếp cởi cả 2 quần buộc hai ống vào cổ, một tay vác máy camera và đồ đạc lên vai, tay kia giữ 2 vạt áo lên quá ngực rồi tồng ngồng lội qua suối. Nhưng Úi trời ơi, qua đến gần hết bờ mà nước vẫn chỉ trên đầu gối nên cái quả trứng thì cứ phơi ra giữa thanh thiên bạch nhật khiến mấy cô gái Dao cười sặc mì tôm lên mũi phải vừa vắt vừa xì mãi mới hết. Thấy vậy, ông quay lại đi giật lùi xuống mãi dưới, lên bờ mặc quần áo rồi đi đường tắt không dám qua mấy cái quán tạp hóa bên bờ suối.

Thấm thoắt vậy mà đã hơn hai mươi năm trôi qua, giờ nhắc lại ông vẫn cười như một kỷ niệm cái thời khốn khó của người cán bộ vùng cao năm nào.

TOILET TẬP THỂ

TOILET TẬP THỂ
Ai đã từng ở nhà tập thể của cơ quan đơn vị thì mới thấy có nhiều cái vui và cũng không ít chuyện cười ra nước mắt. Câu chuyện sau đây là một ví dụ.
Dạo trước, khu tập thể cơ quan mình có 7 hộ gia đình. Đông vậy nhưng tất tần tật chỉ có mỗi một nhà vệ sinh 1 ngăn để dùng chung nhưng không có bể nước mỗi khi muốn ị phải xách theo một xô nước để xả, cửa thì chắp vá bằng mấy tấm ván lỏng lẻo đặt hờ để che chắn tạm, không những thế mà nó còn phải phục vụ cho cả mấy chục thầy cô giáo ở các trường trong huyện ra bồi dưỡng chuyên môn trong dịp hè và sinh hoạt ở một dãy phòng ký túc xá của Trung tâm giáo dục thường xuyên ngay phía dưới. Buổi sáng, có thầy có cô phải dậy từ 5 giờ sáng để ra bờ suối hoặc lên ị nhờ trên cái toilet tập thể ấy.
Một bận, có cô giáo cũng là bạn mình bị đau bụng, biết thóp mình đóng cửa toilet lại rồi xách một xô nước đặt ở phía ngoài. Một lát sau cô giáo kia chạy sầm sập ra toilet, thấy cửa đóng lại có xô nước phía ngoài tưởng có người nên cứ ôm bụng chờ đến mười mấy phút, miệng thì rên rỉ: Ai đaaaaaấy, ra điiiiii, em sắp ra quần roooooồi….
Gọi mãi, đợi mãi đến mức không chịu nổi cô liền đánh bài liều và quát to: Không ra bố mày cứ vào đây này, vào mặt thì kệ nhá… Nói rồi cô nhắm mắt giật cửa rồi kéo quần xuống và đi giật lùi. Giật ra chẳng thấy ai cô mới biết bị lừa nhưng vẫn cố chửi một câu: Mẹ thằng nào trêu tao! Và liền ngay sau đó là: Pạch… pạch…pạch…

Nghe thấy hai âm thanh cùng vang lên một lúc, cả dãy tập thể ai cũng cười rụng cả rốn.

NHỌC NHẰN XIN VIỆC THỜI NAY


Học xong đại học, về quê
Sinh viên Y vội đi thuê gian nhà
Kinh doanh thuốc chữa S
ida
Đón đầu, đi tắt thật là khôn ngoan.
Còn em Nông nghiệp - thở than:
Cái thời nương ruộng bạt ngàn còn đâu!
Nhà nhà hết đất, hết trâu
Mấy khu công nghiệp nó câu mất rồi.
Cũng vì mưu kế sinh nhai
Thôi... thuê cái nóc tầng 2 nuôi gà.
Còn em Du lịch nhà ta
Tốt nghiệp Bằng giỏi chẳng thà đi buôn.
Thiên hạ giờ thích "Cháo Lươn"
"Ba ba nằm ngửa", tiêu tiền Dola...
Em về sắm cái Honda
Thùng son, chậu phấn, thế là giàu nhanh...
Chỉ thương số phận mấy anh
Khoa tự nhiên, vốn học hành chỉn chu.
Mong sau xây dựng cơ đồ
Không hổ danh cháu Cụ Hồ bấy nay.
Tấm bằng loại giỏi trong tay
Xin việc bị hỏi: Thế mày con ai ????
"Tiến cò" thì đợi ngày mai
Đêm ba mươi tết (Ba mươi triệu) Anh giai giúp mày!
Chú Khảo cổ thì dãi bày:
Hồ sơ thạc sỹ đủ đầy, thưa anh!
Em giỏi cả học lẫn hành
Đào mồ cuốc mả em nhanh cực kỳ.
Nội vụ thương cảm: Ừ thì
Cho vào đội bốc tử thi của Phường !!!
Chợt nghe Tùng ... cặc ... rầm đường
Nội vụ quát chửi: Thương ... Thương nỗi gì?
Sinh viên nhạc khóc rủ rì:
Bố ơi! bố chết con thì theo ai...
Thì ra... họ chạy sô ngoài
Khóc thuê lấy miếng sinh nhai qua ngày.
Vua Hùng người hỡi, có hay
Bến thuyền cho những nhân tài ở đâu?

Thứ Tư, 26 tháng 7, 2017

HOA THÁNG TƯ

HOA THÁNG TƯ
(Nhớ mùa hoa gạo đỏ)

Xa em, anh nhớ con đường xưa
Chiều tháng ba nắng nhạt mờ
Lặng lẽ rơi nghiêng hoa gạo đỏ
Gieo vào ký ức thủa còn thơ

Xa em, thương lắm những chiều mưa
Vành nón chung che gió cuộn về
Đường vắng đôi mình chân cất bước
Lịm lòng - hơi thở ấm triền đê.

Thương cháy trong lòng - Hoa tháng tư
Thương người con gái vẫn mong chờ
Ở nơi xa lắm anh thầm nói:

Anh nhớ em nhiều lắm người ơi…

TUỔI HỌC TRÒ

GIẤC MƠ TUỔI HỌC TRÒ
Trần Chí Nhân
Chung nhau ăn quả mơ chua
Hái cho nhau cánh hoa mua tím ngần.
Cùng ngồi đánh chắt bờ sân
Cùng nhau ngắm dậu cúc tần đơm hoa.
Đánh đu dưới những rễ đa
Đêm đêm cắp sách sang nhà học chung.
Đèn soi má bạn trắng hồng
Tóc buông che má núm đồng trinh duyên.
Bâng khuâng dấu ánh mắt hiền
Đôi chân quầ dưới gầm bàn tìm nhau.
Thời gian, thời gian trôi mau
Sân trường chợt tiếng ve sầu kêu ran
Hè về, khóa học vừa tan
Lớp học hiu hắt dãy bàn vắng teo.
Hàng tre lặng bóng đìu hiu.
Bạn về quê để bao chiều ngẩn ngơ.
Tuổi học trò như giấc mơ

Đậm sâu ký ức tuổi thơ mỗi người.

CÁNH ĐỒNG TUỔI THƠ

Cánh đồng tuổi thơ.
Trần Chí Nhân – BCH Hội văn học nghệ thuật tỉnh Hà Giang.

Tháng ba.
Cái nắng đầu mùa không chói chang, cứ trong veo như nước giếng nhưng làm nhức cả mắt mỗi khi nhìn thật lâu và sâu thẳm vào trong nó.
Nhà thằng Khanh nằm ngay dưới chân quả đồi xum xuê cây cối của thôn Gò Đình. Sở dĩ có cái tên gọi là lạ như vậy là vì ngay phía quả gò trước cửa nhà nó có ngôi đình Thọ Vực to tướng. Trước kia, thời chế độ hợp tác xã nông nghiệp thì thôn Gò đình thuộc biên chế của Đội sản xuất số 3 HTX Hồng Lạc, từ năm 1985 khi giải thể mô hình HTX nông nghiệp thì xã Hồng lạc bây giờ được chia nhỏ thành các thôn thì người ta tìm cho thôn cái tên gọi mới, và cái tên thôn Gò Đình có từ ngày ấy. Ngay phía trước Gò Đình là cánh đồng trũng chạy ngoằn nghèo, xen lẫn giữa những ruộng lúa là những khóm cây ắn, cây và mọc lúp xúp mọc đầy những búp non tím ngắt. Dọc hai bên rộc ruộng là những vườn mía xanh rì. Thi thoảng, những cơn gió cuốn theo mùi phấn mía, mùi hương của lúa non quyện lẫn mùi nắng nồng nồng tạo lên thứ hương vị thật đặc biệt, mỗi khi ngửi thấy thằng Khanh thường bảo: Mùi mùa hè đấy!
Vào những buổi trưa, cái nắng đầu hạ khiến những lá lúa cuộn tròn lại ôm chặt lấy búp đòng đòng như người mẹ ôm đứa con để chở che trước ánh nắng đầu mùa, ấy cũng là lúc thằng Khanh thường vác cái cần câu và chiếc hộp mồi bằng ống bơ sữa bò ra bãi bềnh ở giữa dộc ruộng câu cá. Chui vào một bụi cây và cành lá xum suê cạnh khoảng ao mọc đầy cỏ rôm nó móc một đoạn giun đất vào chiếc lưỡi câu rồi thả xuống nước. Lũ cá rô và cá chê thường ngày vốn thích ẩn mình  trong bãi bềnh bị mùi giun đất kích thích khiến chúng tranh nhau ăn mồi làm thằng Khanh giật mỏi cả tay. Những con cá béo vàng thi nhau chui vào cái giỏ tre treo ngay dưới mép nước cạnh gốc cây và khiến thằng Khanh vô cùng thích thú. Đi câu cá buổi trưa vẫn là một thú vui của nó bởi nó luôn được sống trong cái cảm giác tò mò hồi hộp, nhất là khi cá cắn câu khiến cái phao nhấp nháy rồi bị kéo trôi tuột vào phía trong bãi bềnh và cái cảm giác sần sật nặng tay khi giật cái cần khiến con cá dãy dụa ở phía cuối đoạn dây cước câu. Lắm hôm giở giời cá ra ăn nhiều nó câu được cả giỏ. Giống cá chê mà nấu canh dưa hoặc măng chua thì không gì ngon bằng.
Câu cá chán, thằng Khanh đi tìm trứng vịt, trứng chim quốc. Những gốc cây và, cây ắn mọc um tùm, những vạt ruộng lúa nếp cao vút đầu thật là thiên đường lý tưởng cho bầy chim quốc làm tổ, những đàn vịt bầu mải ăn quên cả đường về cũng tìm những búi cây dậm rạp để ngủ và đẻ trứng. Giống chim quốc tuy to xác nhưng thật lười nhác, cả ngày chỉ mải kiếm mồi đến nỗi quên cả làm tổ, đến khi sắp đẻ mới bẻ vội vàng vài cọng lúa thấp tè hoặc mấy cái ngọn cây và để làm chiếc tổ tạm bợ thoáng nhìn trông như cái tổ chuột, Có buổi thằng Khanh tìm được cả chục quả trứng hoa hoa vằn vằn như trứng chim cút. Vào mùa mưa, cây cỏ mọc xanh mướt, tôm cá thi nhau đẻ trứng, cào cào trâu chấu sinh sôi nảy nở hàng đàn làm mồi cho lũ chim quốc thoả sức ăn đến béo múp.
Ở cái vùng quê này vào mùa hè không thể thiếu tiếng chim quốc kêu, nhất là sau những trận mưa rào tiếng ếch ương, à uôm, chẫu tràng, tiếng ếch vang lên cả đêm với nhiều cung bậc khác nhau tạo thành bản nhạc đồng quê thật đặc biệt, và trong cái bản nhạc nhiều âm sắc đó tiếng quốc kêu vang lên khô khốc như tiếng nấc. Ngày còn nhỏ, thằng Khanh thường nghe mẹ kể quốc là giống chim rất chung thuỷ, sống có tình nghĩa, chúng sống thành từng đôi, có một con vợ, một con chồng. Vào đầu mùa hè chúng làm tổ, đẻ trứng và ấp trứng nở thành đàn con. Hàng ngày đàn quốc con quanh quẩn theo cha mẹ kiếm mồi. Theo thời gian, đàn quốc con khôn lớn và cần nhiều thức ăn hơn, quốc bố, quốc mẹ phải nhường hết những con mồi mà mình kiếm được cho lũ con háu đói và nghịch ngợm và chỉ ăn những miếng mồi thừa của đàn quốc con khiến quốc bố quốc mẹ gầy dộc. Một ngày kia, khi lũ quốc con khôn lớn thì cũng là lúc quốc bố quốc mẹ gần kiệt sức vì luôn nhường nhịn thức ăn cho đàn con, hiểu ra sự thật, đàn quốc con đành phải dứt lòng chốn đi kiếm ăn ở một nơi khác để nhường lại thức ăn cho quốc bố quốc mẹ. Qua một đêm ngủ dậy, quốc bố quốc mẹ thấy mất đàn quốc con chúng gọi mãi, gọi mãi mà lũ quốc con cũng không về, quốc bố quốc mẹ vô cùng ân hận vì nghĩ rằng chỉ vì chúng ngủ quá say mà để đàn con lạc đi mất. Từ đó, quốc bố quốc mẹ quên ăn, quên ngủ để gọi hy vọng đàn con nghe tiếng cha mẹ gọi mà quay về. Quốc bố, quốc mẹ gọi mãi đến mất cả tiếng khiến cho tiếng gọi tắc nghẹn lại như tiếng nấc khóc đàn con bội bạc. Gọi đến kiệt sức, cả quốc bố, quốc mẹ chết héo bên bờ ruộng. Một ngày, đàn quốc con khi đã khôn lớn chúng quay về thửa ruộng nơi chúng đã sinh ra để tìm bố mẹ nhưng tìm mãi mà vẫn không thấy, chúng ân hận vì đã nông nổi chốn bố mẹ ra đi. Từ đó, hàng đêm đàn quốc con lại cất tiếng gọi như để tạ lỗi với quốc bố quốc mẹ vì lỗi lầm của mình.
Chẳng biết chuyện đó có thật hay không nhưng thằng Khanh thấy không tin lắm vì nó thấy hàng ngày vẫn có hàng toán người lạ hoắc từ đâu đến dùng chiếc sáo bằng ống nứa thổi hệt như tiếng quốc kêu rồi giăng lưới để dụ đàn quốc vào lưới. Những con quốc béo múp đen chũi to như nắm tay nằm chật ních trong chiếc lồng chứng tỏ chúng chẳng nhớ bố mẹ đến nhịn ăn một chút nào. Duy chỉ có một lần nó đi tìm trứng thì thấy một đàn quốc con màu nâu xám đang bơi, nó đuổi theo và bắt được hai con về nhốt vào chiếc lồng, cả buổi trưa nó bỏ câu cá để đi bắt cào cào bón cho hai con quốc vậy mà không hiểu sao cả hai con chẳng con nào chịu ăn suốt ngày chỉ kêu chiêm chiếp, được mấy hôm thì lăn ra chết, mẹ  thằng Khanh bảo hai con chim đó chết là do nhớ mẹ. Thương hai con chim, nó dủ Nhật - thằng bạn cùng xóm đào một chiếc hố để chôn. Từ ấy chẳng bao giờ thằng Khanh bắt chim non để nuôi nữa.
Cánh đồng chiêm trũng trước cửa nhà thằng Khanh vào mùa quốc kêu quả là một kho báu đối với nó. Cuối tháng ba khi những trận mưa rào đầu mùa vừa đổ xuống là nó vác ngay mấy cái đó hai mang ra đặt ở những lạch nước để đơm những con cá rô, cá chạch và cả những con cua vàng khè đang rực trứng chờ đẻ, qua một đêm phải bắt được cả chậu. Ăn chán, mẹ nó đem nấu cho lợn và phơi khô cất đến mùa đông ăn dần.
Giữa mùa mưa, khi những cơn lũ từ phía thượng nguồn sông Lô cuồn cuộn đổ về đem theo vô số những hạt phù sa từ phía thượng nguồn dâng ngập cả những cánh đồng mới gặt, từng đàn cá chép, cá chày theo dòng nước vào kiếm mồi và vật đẻ quanh những khóm giạ và những bụi cây thì nó lại theo Bố đi thả cụp bẫy cá. Khi nước rút, nó kiếm những cành cây tươi cắm vào những thửa ruộng để lấy chỗ cho cá trú nắng chờ khi nước gần cạn mới be bờ tát cạn nước bắt được vô số cá rô, cá diếc cho mẹ làm mắm.
Với thằng Khanh, việc đi đặt lờ tát cá hoặc đặt ống đánh lươn là một thú vui không thể cưỡng lại, đi học về ăn vội miếng cơm rồi quẳng bát đũa là nó vơ ngay cái cần câu hoặc cái giỏ và chiếc gầu sòng để ra đồng bắt cá. Nhà nó đông anh em lắm, nó là đứa thứ tư trong bẩy chị em bốn trai và ba gái, năm nó mười bốn tuổi mà các chị nó vẫn chưa chịu lấy chồng, đến bữa cơm cả chín người ngồi vòng quanh chiếc mâm gỗ như buổi họp thôn, nhưng không phải vì thế mà nó phải dầm mưa dãi nắng kiếm thức ăn cho gia đình vì ở cái vùng đồng trũng này việc kiếm thức ăn tươi thật dễ như lên núi kiếm củi và chẳng tốn nhiều công sức mà cái chính là do sở thích của nó. Dãi nắng nhiều khiến tấm lưng nó đen bóng như đồng hun, chiếc áo ba lỗ xám ngoét rách như tổ đỉa chỉ còn hai chiếc quai bám vào vai như hai chiếc dây súng cao su cả ngày nhấp nhô dưới ruộng. Cũng may mà Ông trời phú cho nó sức khoẻ vì chẳng bao giờ thấy nó dùng một viên thuốc. Nhiều khi nó bị bố vác roi đánh thừa sống thiếu chết vì sợ nó ốm nhưng cũng chỉ được vài ngày rồi đâu lại hoàn đấy.
Cái cánh đồng trũng này gắn bó với nó như máu thịt, nuôi dưỡng nó lớn lên từng ngày bằng con cua con ốc. Nhắm mắt lại nó cũng nhớ được từng đoạn bờ, từng cái vũng, bãi bềnh gốc cây mà nó thường ngồi câu cá. Nhớ cái dạo chú nó đưa nó về thăm Hà Nội, lúc đầu nó hăm hăm hở hở vì được về thủ đô thăm Bác Hồ, nó bước đi trong ánh mắt ghen tỵ của mấy đứa bạn cùng xóm, ấy vậy mà cũng chỉ được một tuần đã thấy nó mò về nhà. Bố nó tưởng là nó lỡ cắp trộm hay làm điều gì xấu bị chú đuổi liền quay ra mắng cho một thôi khiến nó oà khóc, một lúc sau mới phân trần rằng ở Hà Nội buồn lắm, mấy con khỉ con rắn ở vườn Bách thú xem đi xem lại mãi cũng chán, ra đường thì xe cộ đinh tai nhức óc và lúc nào cũng nơm nớp lo sợ vì bị xe tông nhưng điều khiến nó nhớ nhà nhất chính là cánh đồng trũng ngay trước cửa nhà nó. Nó nhớ da diết tiếng cuốc kêu, nhớ khoảng ao và gốc cây mà nó vẫn hay ngồi câu cá, nó nhớ cả bữa cơm có món canh cua đồng nấu với rau đay mà cả nhà vẫn hay ăn, ngon hơn đứt món canh xương hầm mà người Hà Nội nấu. Đi chơi với đám bạn bè sau khi kể cho chúng nghe những chuyện về Hà Nội rồi nó chợt tỉnh bơ buông một câu nhận xét: Hà Nội không vui bằng ở nhà quê khiến bọn bạn đứa nào đứa ấy trố mắt vì lạ.
Khoán 100 rồi khoán 10 đến với các vùng nông thôn như một quy luật tất yếu của lịch sử. Cánh đồng trước của nhà nó được chia thành các thửa ruộng nhỏ để phân cho các hộ gia đình. Người dân quê nó tập trung đầu tư nhiều hơn cho nông nghiệp vì đó chính là miếng cơm manh áo của họ. Những gốc cây và, cây ắn được các gia đình chặt sạch để đun bếp và nhường chỗ cho những thửa ruộng lúa cao sản. Cái bãi bềnh mà nó vẫn hay ra câu cá được mấy gia đình móc sạch  bùn lên phơi khô để bón vào vườn cho tốt đất. Đoạn đê phía bờ sông cũng được tôn cao để ngăn nước ngập khiến cho lũ cá chẳng thể vào kiếm ăn đẻ trứng.  Thằng Khanh cũng lớn dần theo thời gian, học xong cấp 3 nó đi bộ đội sau đó xin đi học và chuyển ngành về công tác một huyện vùng cao mãi tít trên biên giới Hà Giang, các chị các em nó nay cũng mỗi người một nơi chỉ còn lại chú út ở nhà chăm sóc hai bố mẹ già. Hàng năm vào dịp hè, cậu xin nghỉ phép về thăm gia đình, Khanh đứng lặng hàng giờ trước cánh đồng trũng trước đây đầy những cây và cây ắn, những bài bềnh đầy lau sậy giờ đã trở thành một cánh đồng phẳng phiu thẳng cánh cò bay mỗi năm 3 vụ. Giữa tháng sáu mà ban đêm vắng lặng cả tiếng ếch nhái, tiếng quốc kêu gọi hè, mẹ Khanh bảo những người ở ngoài phố Huyện hay vào đây bẫy chim quốc lắm, có ngày bẫy được cả trăm con, không còn chỗ để trú ngụ sinh sôi, đàn quốc bây giờ hầu như đã bị tận diệt.
Chiều ấy, Mẹ Khanh đi mua mấy lạng cua về nấu canh cho cậu ăn, ngồi nhặt những con cua bé tí tẹo gầy nhom mẹ bảo bây giờ cánh đồng này cua cá không còn vì mỗi năm cấy trồng ba vụ, thuốc trừ sâu, diệt cỏ đã làm chúng chết sạch, muốn ăn thì phải đi mua ở nơi khác về.
Nghe mẹ kể mà Khanh thấy nhói trong lòng, thấy thương cho cánh đồng tuổi thơ của mình.

Gò Đình, tháng 3 năm 2013