Người theo dõi

Thứ Hai, 20 tháng 12, 2021

NỬA DÒNG SÔNG NGÂN


NỬA DÒNG SÔNG NGÂN

Đêm thu, trời mây chơi vơi
Lang thang vầng trăng rong chơi
Sông ngân xa lắm con đò nhỏ
Chở vì sao băng lưu lạc cuối trời…

Tiếng tiêu Ngưu Lang - tiếng tơ lòng chưa pha phôi
Thiên thu trôi qua tiếng khung cửi cho ai si mê
Sông ngân cách ngăn chia đôi bờ, chia em với tôi
Cho ai một đời đơn côi…

Ơi sông ngân, sông trôi về đâu
Gieo ngàn con sóng nơi biển sâu
Ngưu Lang Chức Nữ sông ngăn cách
Muôn kiếp chẳng phai nỗi u sầu.

Sông ngân thiên thu, đôi bờ ai cách ngăn
Mưa ngâu rơi rơi mắt ai nhòa nơi thế nhân
Chàng Ngưu, Chức Nữ chờ Ô Thước

Bắc Ô Kiều mòn mỏi đợi bước chân.



.

Thứ Năm, 9 tháng 12, 2021

KHẢO SÁT VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC LA CHÍ

 

 

A. Tên gọi, nguồn gốc lịch sử tộc người, dân số và phân bố dân cư

I. Tên gọi.

Theo nhà sử học Nguyễn Văn Huy trong cuốn Văn hóa truyền thống dân tộc La Chí (NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội - 1991), người La Chí có nhiều tên gọi khác nhau như: Thổ đen, Mán, Xá... nhưng tên gọi phổ biến nhất là La Chí, La Quả. Về ngôn ngữ, người La Chí thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Ðai (ngữ hệ Thái - Ka Ðai), cùng nhóm với tiếng La Ha, Cờ Lao, Pu Péo.

Theo cách gọi của người La Chí thì Cù Tê là tên tự gọi của dân tộc. Tuy nhiên, tùy theo mỗi vùng thì họ lại có cách gọi khác nhau, ví dụ, người La Chí ở Bản Phùng thì được gọi là Y Pí, còn ở Bản Máy thì được gọi là Y Mié, ở Bản Díu gọi là Y Tó.

II. Nguồn gốc lịch sử tộc người.

1. Truyện kể và các tư liệu về nguồn gốc dân tộc.

- Truyển kể.

Về nguồn gốc lịch sử tộc người của dân tộc La Chí hiện có rất ít tư liệu đề cập đến một cách chi tiết. Theo ông Ly Chính Thanh, sinh năm 1953, nghệ nhân ưu tú dân tộc La Chí hành nghề thầy cúng hiện sinh sống thôn Cum Pu, xã Bản Phùng của huyện Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang cũng như nội dung các bài cúng tế trong Lễ hội Cu cù tê và lễ cúng mở kho xin giống trên miếu thờ Hoàng Vần Thùng tại thôn Lủng Cẩu xã Bản Phùng huyện Hoàng Su Phì vào tháng 4 âm lịch hàng năm thì các nhóm người La Chí di cư đến nước ta được chia làm nhiều đợt, trong đó khu vực phía tây tỉnh Hà Giang gồm các huyện Hoàng Su Phì và Xín Mần là nơi định cư đầu tiên của họ. Đợt thứ nhất cách nay khoảng 800 năm do một nhóm người La Chí đã di cư từ vùng Mưng Táo của Trung Quốc vào Việt Nam, nhóm này chủ yếu gồm họ Vương và họ Ly. Đợt sau cùng cách đây khoảng hơn 200 năm gồm các gia đình họ Long và họ Tẩn, vốn sinh sống tại khu vực phía nam của tỉnh Vân Nam - Trung Quốc giáp với khu vực biên giới hai nước Việt Nam và Trung Quốc tiếp tục di cư sang nước ta.

Cũng trong các bài cúng và các truyền thuyết của người La Chí có chi tiết đề cập đến quá trình tìm nơi cư trú như sau: Sau khi thiên di đến vùng núi phía bắc nước ta, để đi tìm được nơi đất tốt, các hộ gia đình người La Chí đã lấy một chiếc lông gà trắng và buộc vào con ong, thả con ong cho nó bay đi trước dẫn đường, cả làng chạy theo sau. Khi đến vùng đất Khâu Tinh thuộc xã Thèn Phàng, huyện Xín Mần hiện nay thì không thấy con ong đâu mà chỉ thấy chiếc lông gà trắng rơi tại đó, đồng thời họ thấy đây là vùng đất đẹp, vì vậy quyết định tụ cư tại đây. Một thời gian sau, họ di cư đến đất Bản Díu để sinh sống. Sau đó một số hộ gia đình lại tách ra để di cư đến các nơi như Bản Phùng, tiếp theo là đến khu vực xã Bản Máy của huyện Hoàng Su Phì để sinh sống. Dẫn đầu mỗi nhóm hộ đều do một người của gia đình trưởng tộc. Do vậy, nhóm La Chí ở Bản Díu được coi là anh cả, Bản Phùng là anh thứ 2, Bản Máy là em út. Cũng từ truyền thuyết này nên vào dịp tết tháng 7 Âm lịch là tết lớn nhất trong năm của dân tộc La Chí thì Nhóm người La Chí ở Bản Díu được tổ chức tết này trước tiên, sau đó là Bản Phùng và cuối cùng là Bản Máy.

Theo lời các cụ già kể lại và các tư liệu còn lưu trữ được, từ lý do xưa kia khu vực các xã Bản Máy, Bản Phùng của huyện Hoàng Su Phì và xã Bản Díu, Nàn Xỉn của huyện Xín Mần là địa bàn cư trú chủ yếu của người La Chí và họ trồng rất nhiều sắn, từ đó khu vực này được các nhóm người bản địa gọi theo tiếng địa phương là Man May - tức là cây sắn. Trong truyền thuyết dân gian của người La Chí còn lưu truyền câu truyện kể về nhân vật Hoàng Vần Thùng cho rằng ông là tổ tiên của người La Chí, thân thể của ông được biểu tượng là các dãy núi trùng điệp, trên đó có các bản làng của người La Chí sinh sống. Trong đó, người Bản Díu được coi là anh cả vì được sinh ra từ đầu của ông, người Bản Phùng là anh thứ hai được sinh ra từ bụng và người em út là Bản Máy được sinh ra từ đôi chân. Điều đó có nghĩa rằng tất cả người La Chí đều có nguồn gốc là anh em một nhà.

- Các tư liệu, ghi chép về nguồn gốc dân tộc.

Sách Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn (Phiên dịch và chú giải: Phạm Trọng Điềm - Viện Sử học, NXB Văn hóa Thông tin phát hành năm 2007) tại trang 390 - 391 đã đề cập đến nguồn gốc của người La Chí như sau: "Giống người La Quả: Con trai, con gái đều mặc áo thâm, quần ngắn đến gối, búi tóc ở đỉnh đầu, trùm khăn đen... Không quen gánh gồng, đồ vật nặng hay nhẹ đều đìu ở sau lưng... Giống người này từ thượng cổ ở nội địa, sau tản ra trên núi các xã thuộc châu Bảo Lạc, làm nghề trồng trọt, không rời đi nơi khác, cùng dân sở tại gánh chịu lao dịch..."; "Tôi từng thấy người châu Bảo Lạc nói: xá La Quả không liệt kê vào thể lệ 7 chủng tộc người Man[1], Phụ đạo thường sai khiến hộ, mỗi năm thu thuế mỗi nóc nhà 5 lạng bạc. ... Tôi lại được xem sổ riêng của Huân Trung Hầu về năm Quý tỵ (1773) thì chủng tộc La Quả thưởng ở 9 xã Vân Quang, Yên Triều, Khang Lạc, Yên Đức, Hữu Vinh, Yên Minh, Bách Đích, Mậu Duệ và Niêm Sơn"[2].

Trang 394, 395 Sách Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn lại đề cập: "Năm Giáp ngọ (1774) quan trấn thủ kê khai bình sổ, đem người La Quả, người Nùng ở phố Trung Mang châu Bảo Lạc vào hạng phiêu lưu mất tích"...

Theo nhà ngôn ngữ học người Mỹ Jerold A. Edmondson và Yongxian Luo trong cuốn "Ngôn ngữ Tai - Kadai" Nhà xuất bản Tâm lý học Bắc Kinh - Trung Quốc xuất bản năm 2008 thì người La Chí từ Mạch Bố, Mạch Đốc và Mạch Hà của Trung Quốc đã chuyển đến các địa phương của Việt nam vào thời nhà Thanh.  

Từ những tư liệu và ghi chép trên có thể cho rằng vào thời gian này nhóm người La Chí ban đầu di cư từ Trung Quốc sang đã định cư ở khu vực các huyện Yên Minh tỉnh Hà Giang và Bảo Lạc tỉnh Cao Bằng, sau đó tiếp tục di cư về phía nam vào khoảng năm 1774 và định cư ở khu vực các huyện Hoàng Su Phì và Xín Mần tỉnh Hà Giang như ngày nay. 

Ngày 27/6/1925, Thống sứ Bắc Kỳ ra nghị định lập xã Man May (Man Mei - theo phiên âm tiếng Pháp) bao gồm toàn bộ vùng đất do người La Chí sinh sống thuộc các xã Bản Máy, Bản Phùng, Nàn Xỉn trước đó thuộc tổng xã Tụ Nhân của châu Hoàng Su Phì [3]. Về sau Man May được gọi thành Bản Máy. Đến năm 1962, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 50-CP ngày 30/4/1962 về điều chỉnh, chia tách địa giới hành chính một số địa phương, theo đó xã Bản Máy được chia tách thành các xã Bản Phùng, Bản Máy, Bản Pắng, Nàn Xỉn.

Vào khoảng các năm 1975 - 1976, có khoảng hơn 30 hộ người dân tộc La Chí thuộc xã Bản Phùng của huyện Hoàng Su Phì đã di cư đến các xã Nậm Khánh huyện Bắc Hà và xã Nàn Sán huyện Si Ma Cai của tỉnh Lào Cai. Cũng trong thời gian này, một số hộ dân tộc La Chí thuộc khu vực xã Bản Phùng, Bản Máy của huyện Hoàng Su Phì đã di cư đến xã Tân Thành huyện Bắc Quang và xã Nà Khương, Vĩ Thượng, Yên Bình của huyện Quang Bình, sau đó một số hộ tiếp tục đến sinh sống tại các địa phương lân cận, chủ yếu là thông qua việc lấy vợ, lấy chồng hoặc đi làm ăn, công tác rồi định cư tại địa bàn. Song số này không nhiều.

Trong truyền thuyết dân gian của người La Chí hiện nay còn lưu truyền câu truyện kể về Hoàng Vần Thùng là người có công khai ấp lập làng và dạy người La Chí biết canh tác ruộng bậc thang, hoặc truyền thuyết về 3 anh em là thủy tổ của  người La Chí cát cứ tại 3 vùng khác nhau, trong đó người anh cả sống ở Bản Díu huyện Xín Mần, người con thứ hai ở Bản Phùng và người em út ở Bản Máy huyện Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang, cùng với truyền thuyết về Ngàm cưa Vua (Ngam sử Hung) tại thôn Bản Pắng xã Bản Máy huyện Hoàng Su Phì. Những truyền thuyết trên được truyền tụng trong cộng đồng người La Chí đến ngày nay, giải thích họ có chung nguồn gốc và là anh em một nhà, có trách nhiệm phải thờ cúng tổ tiên, cùng giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Ngoài ra còn một số truyền thuyết về thân thế, sự nghiệp của hai anh em Hoàng Văn Đồng và Hoàng Văn Kỳ gắn với hoạt động khai thác mỏ ở khu vực Đô Long huyện Mã Quan tỉnh Vân Nam - Trung Quốc cũng như những ghi chép trong cuốn Việt Nam lược sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn (trang 930 - 949) và cuốn Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn (trang 385 - 424) cho thấy vai trò và tinh thần yêu nước quật cường của tộc người La Chí thời phong kiến.

Qua khảo sát tình hình dân cư của tỉnh Hà Giang cho thấy tại xã Bản Díu huyện Xín Mần, xã Bản Máy huyện Hoàng Su Phì người La Chí cư trú quần cư xen lẫn với các dân tộc Tày, Nùng, trong đó chủ yếu là dân tộc Tày nên sự giao thoa, tiếp biến văn hóa với các dân tộc khác diễn ra mạnh, còn tại các xã Nàn Xỉn huyện Xín Mần và Bản Phùng huyện Hoàng Su Phì hầu hết dân tộc La Chí cư trú tập trung thành các làng bản riêng biệt (Riêng xã Bản Phùng dân tộc La Chí chiếm tỷ lệ 91,5% tổng dân số) nên hầu hết các giá trị văn hóa truyền thống vẫn được bảo tồn, lưu giữ.

2. Tình hình dân số và phân bố dân cư.

Theo số liệu Tổng điều tra dân số và ở năm 2019 cho thấy đến 0 giờ ngày 01/4/2019 dân tộc La Chí có 15.126 người, chiếm 0,02% trong tổng số 96.208.984 người của cả nước. Trong đó Nam có 7.488 người chiếm 49,5%, Nữ có 7.638 người chiếm 50,5%, cư dân khu vực thành thị có 1.607 người chiếm 10,62%, nông thôn có 13.519 người chiếm 89,38%[4].

Về tình hình phân bố dân cư, người La Chí hiện sinh sống tại 37/63 tỉnh, thành phố trên cả nước, trong đó tập trung chủ yếu tại Hà Giang với 13.828 người, chiếm tỷ lệ 91,42% trong tổng số người La Chí tại Việt Nam. Tại Lào Cai có 628 người, cư trú chủ yếu tại 2 huyện là Bắc Hà và Si Ma Cai. Tại Tuyên Quang có 134 người. Tại thành phố Hồ Chí Minh có 201 người, còn lại sống rải rác tại các tỉnh, thành phố khác.

* Biểu tổng hợp tình hình dân số dân tộc La Chí tại các tỉnh, thành phố.

TT

Tỉnh/TP

Tổng số

Nam

Nữ

Thành thị

Nông thôn

    1  

 Hà Nội

        46  

        22  

         24  

         28  

          18  

    2  

 Hà Giang

 13.828  

   6.147  

    6.981  

    1.304  

    12.524  

    3  

 Cao Bằng

          6  

          4  

           2  

           4  

            2  

    4  

 Bắc Cạn

          7  

          4  

           3  

           4  

            3  

    5  

 Tuyên Quang

      134  

        78  

         56  

         11  

        123  

    6  

 Lào Cai

      642  

      322  

       320  

         11  

        631  

    7  

 Sơn La

          9  

          6  

           3  

             

            9  

    8  

 Quảng Ninh

          3  

          2  

           1  

           3  

 

    9  

 Thái Nguyên

        33  

        12   

         21  

           5  

          28  

  10  

 Phú Thọ

        13  

          5  

           8  

           3  

          10  

  11  

 Yên Bái

          7  

          4  

           3  

        0    

            7  

  12  

 Bắc Giang

          2  

          0    

           2  

0    

            2  

  13  

 Hải Phòng

          5  

          2  

           3  

           2  

            3  

  14  

 Nam Định

          4  

          3  

           1  

           1  

            3  

  15  

 Hưng Yên

          3  

          2  

           1  

         0    

            3  

  16  

 Thái Bình

          4  

          2  

           2  

           2  

            2  

  17  

 Thanh Hóa

          1   

         0    

           1  

           1  

          0    

  18  

 Nghệ An

          7  

          4  

           3  

         0    

            7  

  19  

 Hà Tĩnh

          1  

         0    

           1  

         0    

            1  

  20  

 Quảng Nam

          1  

          0    

           1  

         0   

            1  

  21  

 Quảng Ngãi

          3  

          2  

           1  

         0    

            3  

  22  

 Bình Thuận

          5  

          3  

           2  

           1  

            4  

  23  

 Kon Tum

          3  

          2  

           1  

           3  

              

  24  

 Lâm Đồng

        19  

        10  

           9  

             

          19  

  25  

 Đắc Lắc

        39  

        22  

         17  

           4  

          35  

  26  

 Đắc Nông

          5  

          4  

           1  

           4  

            1  

  27  

 Bình Dương

          8  

          4  

           4  

           5  

            3  

  28  

 Bình Phước

        18  

          7  

         11  

           6  

          12  

  29  

 Đồng Nai

        36  

        12  

         24  

         14  

          22  

  30  

 TP Hồ Chí Minh

      201  

        91  

       110  

       173  

          28  

  31  

 Bến Tre

          1  

0    

           1  

         0    

            1  

  32  

 An Giang

          1  

0    

           1  

           1  

0    

  33  

 Kiên Giang

        11  

          7  

           4  

           5  

            6  

  34  

 Cần Thơ

          1  

         0    

           1  

           1  

          0    

  35  

 Hậu Giang

          1  

        0    

           1  

           1   

0    

  36  

 Sóc Trăng

        15  

          5  

         10  

           9  

            6  

  37  

 Bạc Liêu

          3  

          0    

           3  

           1  

            2  

 

 Tổng số

 15.126  

7.488  

   7.638  

   1.607  

   13.519  

(Nguồn: Báo cáo Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở, thời điểm 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2019. NXB Thống kê. H. 2019).

3. Mối quan hệ dòng họ, gia đình.

Kết quả khảo sát về mối quan hệ gia đình, dòng họ của dân tộc La Chí khu vực Hoàng Su Phì và Xín Mần tỉnh Hà Giang cho thấy người La Chí có các họ gồm họ Vương (Còn gọi là họ Vàng), họ Long, họ Ly, họ Tẩn là các họ gốc của người La Chí, trong đó họ Vương là họ lớn nhất và được coi như anh cả của các dòng tộc. Ngoài ra còn có họ Nông, họ Lục (Còn có tên gọi khác là Lù, Lộc) và họ Thèn cư trú tại xã Bản Díu huyện Xín Mần và xã Bản Máy huyện Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang. Theo lời kể của những người cao tuổi, các nghệ nhân và thầy cúng thì các họ này có nguồn gốc từ người Tày Nùng, trong quá trình giao thoa văn hóa giữa các dân tộc thông qua việc đổi họ, cưới vợ gả chồng, ở rể mà họ đã lấy các họ này để đặt tên họ cho người La Chí.

Trong mỗi dòng họ đều có một người đứng đầu, thường là thầy cúng hoặc người có uy tín trong cộng đồng. Người này có vai trò điều tiết các mối quan hệ trong cộng đồng, xử lý những vấn đề phát sinh, mâu thuẫn trong cộng đồng như tranh chấp đất đai, mất đoàn kết, đánh chửi nhau, đồng thời là người chịu trách nhiệm chính trong việc duy trì các hoạt động cúng tế tổ tiên của cộng đồng trong phạm vi của các dòng họ. Để chọn người đứng đầu dòng họ, người La Chí không căn cứ theo thứ tự huyết thống và không nhất thiết đó có phải là người cao tuổi hay không. Nếu sau một năm người giữ chức già làng đó mà trong cộng đồng có nhiều biến cố không suôn sẻ như có tang ma, mất mùa, thiên tai... thì vị trí trưởng họ đó được chuyển qua nhà khác. Để chọn người đứng đầu dòng họ, người La Chí thường tích trữ  những đôi chân gà trong các dịp cúng bái để lại, sau đó chọn lấy 120 đôi chân gà và dự định chọn một người trong số những hộ trong năm làm ăn suôn sẻ không có gì trở ngại để làm lễ cúng. Khi cúng lễ xong thì xóc lên lấy một đôi chân gà để thầy cúng xem đôi chân gà đó có tốt không, nếu tốt thì người dự định đó được chọn, nếu đôi chân gà đó không tốt thì tiếp tục cúng lễ và dự định lại cứ như  thế đến khi chọn được người tốt để làm trưởng họ.

Trong quan hệ cộng đồng truyền thống của dân tộc La Chí thường tồn tại các lề lối, luật tục tương đối phức tạp, nhất là khi một nhà có công việc lớn như làm nhà, cưới xin, tang ma... thì các gia đình giúp đỡ nhau bằng ngày công hoặc bằng những vật chất như gà, gạo rượu một cách tự nguyện. Khi có các vụ việc xảy ra trong thôn như trộm cắp vặt, vi phạm quy định về hương ước, quy ước của cộng đồng thì phải đưa đến trưởng họ hoặc trưởng thôn giải quyết. Khi đó các chi phí để giải quyết vụ việc do người sai phải chi trả, ngoài ra người sai phạm còn phải làm một bữa cơm mời các người hoà giải đó ăn và do chi trả, riêng tranh chấp đất đai chỉ phạt tiền chi trả một bữa cơm ngoài ra không phạt thêm.

Trong gia đình truyền thống của người La Chí thường có 3 thế hệ cùng chung sống, đó là ông - bà, cha - mẹ, các con cháu. Tuy nhiên cũng có những gia đình có 4 thế hệ chung sống, song đối với các gia đình này chủ yếu do ít con cái nên cụ ông, cụ bà thường sống với con cháu, chắt, thường là con út trong gia đình. Trong các gia đình, đứng đầu là người có ảnh hưởng lớn trong gia đình và ngoài xã hội - thường là ông nội là người đứng ở vị trí này, là người trụ cột trong gia đình, có trách nhiệm điều hành cắt cử các thành viên cũng như  quyết định các việc quan trọng trong gia đình. Trong cuộc sống hàng ngày, người La Chí ứng xử với nhau theo qui tắc gia trưởng, nam giới là người trực tiếp làm các công việc nặng nhọc như: Làm nhà cửa, khai phá ruộng vườn, cày bừa và là người đưa ra các quyết định và nữ giới là người thừa hành và làm các công việc đồng áng như: cấy hái, nội trợ, chăn nuôi gia súc, gia cầm …

Trong gia đình, sau khi người con cả lập gia đình thì sống chung chung với bố mẹ, ông bà đến khi sinh con. Sau khi người con thứ lập gia đình thì người con cả được phép tách gia đình đi ở riêng, còn con thứ lại ở cùng với bố mẹ và cứ tiếp nối như thế. Sau cùng còn lại người con út thì ông bà cha mẹ ở cùng người con đó trong ngôi nhà của chính cha mẹ để lại.

4. Quan niệm tín ngưỡng cổ truyền của cộng đồng.

Người La Chí có tục thờ tổ tiên và Hoàng Vần Thùng - được người La Chí coi như thủy tổ của mình tại miếu thờ chung của cộng đồng. Hiện các hộ gia điình người La Chí xã Bản Phùng huyện Hoàng Su Phì và xã Nàn Xỉn huyện Xín Mần thờ chung tại miếu thờ trên đỉnh núi Lủng Cẩu, xã Bản Díu huyện Xín Mần thờ tại miếu thờ trên núi Gia Long thôn Díu Thượng, đối với nhóm hộ La Chí xã Bản Máy thì không có miếu thờ mà chỉ có một khu rừng nhỏ tại thôn Bản Máy làm nơi cúng tế của cộng đồng.

Người La Chí có quan niệm vạn vật hữu linh, cho rằng mọi vật đều có linh hồn, khi chết sẽ trở thành thành ma. Trong khi đó con người luôn luôn tồn tại hai phần là phần hồn và phần xác. Khi con người còn sống thì hồn sẽ nương nhờ vào thể xác, sau khi chết thì hồn sẽ rời bỏ thể xác để  trở về với tổ tiên nơi sinh ra. Vì vậy khi còn sống thì con người phải nhớ về tổ tiên cội nguồn và phải thờ cúng để tưởng nhớ đến dòng tộc. Sau khi an táng, người La Chí tiếp tục thờ cúng trong 3 năm mới bỏ tang. Trong thời gian này họ phải tổ chức cúng tế 3 lần tại mộ, trong 3 lần cúng tế, ngoài các vật phẩm là những đồ ăn, thức uống hàng ngày như rượu, nước ngọt, bánh kẹo, mì tôm, mì miến... thì buộc phải có 2 đầu trâu và 1 đầu bò. Sau khi cúng tế, toàn bộ đồ lễ được để lại tại mộ cho người chết, riêng chiếc đầu trâu hoặc đầu bò thì được xiên vào một chiếc cọc và cắm gần ngôi mộ.

Trong mỗi gia đình của người La Chí đều có bàn thờ tổ tiên. Bàn thờ của người La Chí không giống như của những dân tộc khác vì đó chỉ là một cái thang bằng tre hoặc gỗ có từ 2 - 3 bậc, được lẵp ở trên vách gian cạnh bên trái phía trước ngôi nhà (Nhìn từ trong ra), giáp với cửa ra vào. Trên chiếc thang không có bát hương mà chỉ có từ 2 - 3 chiếc sừng trâu tượng trưng cho chiếc chén uống rượu và khoảng hai đến ba chiếc sọt nhỏ đan bằng tre như chiếc rổ tượng trưng cho chiếc bàn thờ khi có lễ vật cúng thì trải lá vào trong sọt và để thức ăn vào trong và một củ gừng tượng trưng cho hương khói. Khi cúng tế, người La Chí không thắp hương chỉ khi có tang ma thì mới thắp hương cúng tế.

5. Khảo sát về địa danh.

Giống như một số dân tộc ít người ở khu vực các tỉnh vùng cao phía bắc, tên gọi của mỗi thôn, làng của người La Chí đều có ý nghĩa khác nhau và mang các yếu tố tự nhiên từ xa xưa. Đồng thời qua mỗi thời kỳ thì tên gọi của thôn bản cũng có sự thay đổi. Song về cách gọi thì có sự giao thoa của nhiều lớp văn hóa bởi nhiều thôn bản tên gọi có nguồn gốc phiên âm từ tiếng Hán - Việt hoặc được gọi theo phiên âm của tiếng các dân tộc khác. Về cách gọi có sự pha trộn như trên thì theo lời kể của các già làng cho thấy ở một số địa bàn trước đây là nơi cư trú của các dân tộc khác, sau khi họ di cư đi nơi khác thì người La Chí đến tiếp quản, sinh sống và vẫn gọi theo tên cũ do các dân tộc khác trước đó đã đặt. Một số thôn bản sau khi người La Chí đến sinh sống thì tiếp tục được chia tách thì tên gọi của địa danh mới tách do người La Chí đặt. Thời gian gần đây, một số thôn bản mới được chia tách theo địa giới hành chính mới thì được đặt tên có nội dung cổ động tinh thần cách mạng hoặc củng cố tinh thần đoàn kết cộng đồng trong nhân dân. Khảo sát cách đặt và gọi tên địa danh của người La Chí tại các xã Bản Phùng, Bản Máy huyện Hoàng Su Phì và xã Nàn Xỉn huyện Xín Mần và một số xã của huyện Bắc Hà, Si Ma Cai tỉnh Lào Cai cho thấy như sau.

- Cách đặt tên theo đặc điểm địa hình, địa vật.

Đây là cách đặt tên phổ thông nhất của người La Chí. Ví dụ thôn Na Pha tức là Ruộng đá - được gọi theo phiên âm của tiếng Nùng do hầu hết các diện tích ruộng của thôn này đều có rất nhiều đá phiến, thôn Tô Meo tức là có nhiều con mèo, thôn Na Léng tức là ruộng khô hạn, Suối Thầu tức là đầu nguồn, Díu Thượng tức là bản Díu phía trên, A Ly tức là thôn có nhiều cá, Nàn Xỉn tức là nước ở trên cao, Bản Máy tức làng trồng nhiều củ sắn...

- Cách đặt tên theo đặc điểm quần cư.

Cách đặt tên này chủ yếu là thể hiện quy mô hay đặc điểm làng bản, ví dụ: Lủng Cẩu tức là làng cũ, Tà Chải tức là làng lớn.

- Cách đặt tên theo tập quán sinh hoạt.

Cách đặt tên này không nhiều. Ví dụ Pu Mo tức là thôn/bản có người dậy sớm nhất.

- Cách đặt tên theo cách gọi mới.

Đặt tên thôn bản theo cách gọi mới chỉ xuất hiện khoảng vài chục năm trở lại đây kể từ sau cách mạng tháng 8, sau khi một số thôn được chia tách. Tên gọi mới thường có nội dung cổ động tinh thần cách mạng hoặc tinh thần đoàn kết cộng đồng như: Thống Nhất, Thắng Lợi...

6. Khảo sát tên sông, suối trong vùng cư trú của dân tộc La Chí.

Giống như tên làng, bản, các sông suối trong khu vực sinh sống của người La Chí thường được đặt theo đặc điểm địa hình, địa vật hoặc gắn với địa danh của thôn, bản và khu vực tụ cư.

- Tên sông, suối đặt theo đặc điểm địa hình, địa vật.

Việc đặt tên gọi các sông suối theo đặc điểm địa hình, địa vật là phổ biến nhất. Ví dụ: Suối Nàn Xỉn tức là nước ở trên cao chảy xuống, suối Phủng Cá được dịch từ tên A Ly tức là suối có nhiều cá, suối Đỏ là do nước suối rất đục, thường xuyên có màu đỏ do nước thải từ mỏ đồng phía huyện Mã Quan tỉnh Vân Nam - Trung Quốc.

- Tên sông, suối đặt theo tên địa danh.

Tên gọi sông suối theo địa danh cũng khá phổ biến trong cộng đồng cư dân của người La Chí, vì nó vừa dễ gọi và dễ nhớ. Ví dụ: Suối Hoa Chư Phùng bắt nguồn từ thôn Hoa Chư Phùng của xã Nàn Sán huyện  Si Ma Cai tỉnh Lào Cai, suối Bản Díu bắt nguồn từ thôn Díu Thượng xã Bản Díu huyện Xín mần tỉnh Hà Giang. Sông Chảy trước đây còn gọi là sông Lôi Hà có độ chênh lệnh lớn về dòng chảy nên nhiều thác ghềnh, nước thường xuyên chảy xiết.

Ngoài cách đặt tên như trên, một số địa danh được đặt tên theo truyền thuyết như Ngam Sử Hung - tức Ngàm Cưa Vua thuộc thôn Bản Pắng xã Bản Máy có truyền thuyết liên quan đến nhân vật Hoàng Vần Thùng người La Chí dựng cờ khởi nghĩa sau đó bị giết hại tại khu vực này. Song cách đặt tên theo cách này không nhiều.

7. Thống kê một số vị từ cơ bản trong sinh hoạt, giao tiếp của người La Chí.

- Từ xưng hô trong giao tiếp:

+ Tôi, tao: Khụ, nó: A ke, mày: A bá

+ Chúng nó: Am tía a, bọn chúng nó: Ké tỏa ý, bọn mày: Nính cữ.

- Tên chỉ các thành viên trong gia đình, xã hội

 Bố: Ông: Pú tê, bà: Gia dạ, anh: Tá cô, chị: Tá tát, em: Ngoe, cô: Du,  dì: Mìa né, chú: Pò né,  bác: Ta tê, ông nội: Pú tê, ông ngoại: Tê tê, bà nội: Gia dạ.

- Từ chỉ thức ăn, đồ uống, đồ dùng.

+ Cơm: Cùm, cháo: Cùm dó, thịt: À, rau: Khe, rượu: Cu...

+ Quần Que, áo Pu, chăn màn: Pao, vải vóc: Pá, mũ: Phù khá...

Cái rổ: Khó, cái xoong nồi: Tẹ, cái cối giã: Vớ phùm...

- Các từ chỉ động thực vật.

+ Con chó: Núm, con trâu: Co, con mèo: Mò mó, con dê: Bé, con lợn: Ním mí, con ngựa: Ú, con bò: Mó, con hươu: À cáy, con chuột: À lá, con gà: Nà ká, con vịt: Cồ cô...

+ Cây lúa: Rê, cây ngô: Um té, cây bông: Miêu pá, cây gỗ: Máy, cây tre: Ùm đo, cây đậu tương: Teo ò, cây mía: Căn tá, cây rau cải: Khó nô cô...

- Từ chỉ hành động.

+ Đi: Hú, đứng: Sớ ý, ngồi: Cá kỳ, ăn cơm: Cum ù, uống nước: Cu y, đi làm: Vú thí nù...

- Từ chỉ những hiện tượng thiên nhiên

- Mưa: Nhớ tí, gió: Khí ý, sấm: Bồ khá sớ, bão: Khì lú. ..

- Từ chỉ tính chất của sự vật, sự việc.

+ Cứng: mả má, mềm: y y, yếu: E mê đều, khỏe: Mé lú, nặng: Căng ka, nhẹ: Tìng ki, nóng: Am pì, lạnh: Kền kê, tốt: Ca nơa, xấu: ca xi...

- Từ chỉ những bộ phận của cơ thể.

+ Chân Cơ, tay: Úm, mặt: Cam pí, mũi: Nhớ, đầu: Nằng khả, cổ: Cà rú, lưng: Tà lá, bụng: Má nù, tai: Lu, mắt: Năm tíu...

- Từ chỉ số đếm từ 1 đến 10

Chằm, pu, tê, pú, ùm, nơ, tế, bơ, lừu, pé.

II. Làng bản, kiến trúc nhà ở truyền thống.

1. Làng bản.

- Cảnh quan.

+ Địa hình, địa lý: Do hầu hết các khu vực sinh sống của người La Chí đều ở khu vực miền núi cao nên họ ít có sự lựa chọn về vùng đất để định cư, tuy nhiên họ thường chọn những địa điểm có nhiều thuận lợi nhất đối với đời sống sinh hoạt và sản xuất, hạn chế được tối đa những ảnh hưởng bất lợi của thiên tai, thời tiết khí hậu trong điều kiện cho phép.

Các làng bản của người La Chí thường nằm trên sườn đồi ở những vị trí ít dốc nhất để đảm bảo an toàn. Nếu điều kiện cho phép thì họ ở ngay trên hoặc sát với các thửa ruộng để tiện cho việc canh tác. Các làng bản đều có chung một hướng là lưng dựa vào sườn đồi hoặc sườn núi, mặt hướng về phía ruộng hoặc suối để đón được nhiều ánh nắng. Phía sau thường là núi để đảm bảo giữ được nguồn nước, song không quá cao hoặc quá dốc để tránh sạt lở.

+ Quan niệm về nơi đất tốt để chọn đất lập làng: Người La Chí thường chọn những khu vực có nhiều rừng, diện tích rộng, độ dốc không lớn và đặc biệt là phải có nguồn nước đủ để canh tác và sinh hoạt làm nơi lập làng nhằm đảm bảo các điều kiện về đời sống sinh hoạt và canh tác lâu dài.

+ Quan niệm về vùng lãnh thổ.

Thường ở mỗi thôn bản của người La Chí đều có một vài họ chiếm số đông. Điều đó cho thấy xưa kia các làng bản đều hình thành từ một vài hộ có cùng quan hệ huyết thống. Trong văn hóa dân gian của người La Chí có câu tục ngữ: "Nàm xừ Pả/Nhả pừ Tay" tức là cỏ cây của người Tày, đất đai thì của người La Chí. Theo các cụ cao niên người La Chí giải thích câu tục ngữ trên bằng câu truyện truyền thuyết rằng trước đây người La Chí có thói quen khi tìm được những vùng đất tốt để canh tác như nương, vườn, rừng thì họ đánh dấu lãnh thổ bằng những đống đất, đá. Ngược lại người Tày thì đánh dấu bằng cách buộc túm những ngọn cây cỏ hoặc lấy dao chém vào thân cây, vì vậy sau khi cháy rừng thì dấu vết đánh dấu các vùng lãnh thổ của người La Chí vẫn còn lại, còn người Tày thì bị mất dấu. Vì vậy có thể nhận xét rằng người La Chí xưa kia có thói quen phân vùng lãnh thổ. Đó có thể là lãnh thổ của một làng, một họ tộc hoặc một gia đình cụ thể nào đó.

- Lịch sử hình thành làng, bản.

Theo lời kể của thầy cúng Ly Chính Thanh - hành nghề thầy cúng tại thôn Cum Pu xã Bản Phùng huyện Hoàng Su Phì - Hà Giang đã được Chủ tịch nước xét tặng danh hiệu Nghệ nhân ưu tú năm 2017 thì cách đây khoảng hơn 800 năm người La Chí đã di cư từ khu vực Mưng Táo của Trung Quốc đến Việt Nam. Nhóm này chủ yếu gồm họ Vương và họ Ly. Đợt sau cùng cách đây khoảng hơn 200 năm gồm các gia đình họ Long và họ Tẩn. Ngoài ra còn có một số họ có nguồn gốc của dân tộc Tày - Nùng như họ Lù, họ Nông nhưng theo các già làng người La Chí thì các dòng họ này chủ yếu do tục đổi họ của một số gia đình người La Chí khi lấy vợ hoặc lấy chồng là người dân tộc khác mà thành.

Cách đây 200 năm người La Chí đã từ bỏ cuốc sống du canh du cư để định cư thành các làng, bản như ngày nay. Truyền thuyết của người La Chí cũng kể rằng ban đầu các nhóm người La Chí sinh sống ở thôn Bản Díu xã Dản Díu huyện Xín Mần, sau đó một số hộ đã tách ra và di cư đến thôn Lủng Cẩu xã Bản Phùng, sau đó tiếp tục di cư đến khu vực các thôn Bản Pắng, Bản Máy của xã Bản Máy của huyện Hoàng Su Phì. Do dân cư ngày một phát triển nên về sau từ các thôn này các hộ gia đình tiếp tục tách ra thành các nhóm nhỏ để sinh sống ở các khu vực lân cận. Từ đó hình thành lên các làng bản, trong khoảng các năm đầu công cuộc đổi mới từ 1986 - 1988, các hợp tác xã nông nghiệp và các đội sản xuất tiếp tục được chuyển đổi thành các thôn, từ đó dần hình thành và ổn định các thôn bản của người La Chí như ngày nay. Riêng ở thôn Lủng Cẩu - tức là làng cổ hoặc làng cũ của xã Bản Phùng huyện Hoàng Su Phì và thôn Díu Thượng xã bản Díu huyện Hoàng Su Phì hiện vẫn được người La Chí khu vực này coi là nơi định cư đầu tiên của họ, đồng thời tại 2 thôn này vẫn còn nhiều dấu vết của cuộc sống quần cư xưa, tiêu biểu là 02 ngôi miếu thờ có nguồn gốc và niên đại trên 200 năm hiện vẫn là nơi tổ chức các hoạt động cúng tế chung của cả cộng đồng người La Chí ở 2 khu vực này.

Cách đây khoảng trên 40 năm, một số hộ gia đình người La Chí của xã bản Phùng tiếp tục di cư đến các địa phương khác như xã Nậm Khánh huyện Bắc Hà, xã Nàn Sán huyện Si Ma Cai của tỉnh Lào Cai và xã Tân Thành huyện Bắc Quang, xã Nà Khương, Vĩ Thượng, Yên Bình của huyện Quang Bình, từ đó tiếp tục hình thành các xóm, làng của người La Chí ở các khu vực này.

Người La Chí có thói quen sống quần cư nên hầu hết các làng bản đều có từ 6 - 7 ngôi nhà trở lên, một số thôn bản như thôn Na Léng xã Bản Phùng huyện Hoàng Su Phì, thôn Díu Thượng xã Bản Díu huyện Xín Mần tỉnh Hà Giang có trên 50 hộ gia đình, ít khi có các hộ gia đình sinh sống độc lập ngoại trừ một số gia đình mới tách hộ, song với những gia đình này thường làm nhà không quá cách xa với thôn bản nơi cha, mẹ hoặc ông bà sinh sống. Mỗi xóm, hoặc làng, bản thường gồm các hộ gia đình có mối quan hệ huyết thống hoặc một vài họ chiếm đa số. Khảo sát tại xã Pản Phùng huyện Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang cho thấy thôn Na Léng họ Long chiếm đa số, thôn Cum Phu thì họ Ly chiếm đa số.

- Nơi sản xuất và nơi lấy nước của làng, bản.

+ Nơi sản xuất: Người La Chí có tập quán làm nhà ngay trên hoặc sát với ruộng, nương để tiện cho việc gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch. Các khu ruộng bậc thang của người La Chí thường đan xen với các khe suối, rừng cây để vừa bảo vệ được nguồn nước đồng thời tận dụng được các nguồn nước phục vụ đời sống sinh hoạt và sản xuất. Đối với các diện tích nương, người La Chí thường tận dụng tối đa các khoảng đất trống để làm nương, song các diện tích rừng đầu nguồn hoặc rừng cấm của dân tộc, dòng họ hoặc gia đình thì không được chặt phá, sử dụng để làm nương. Mỗi gia đình thường chỉ có từ 1 hoặc 2 khu vực nương khác nhau và hầu hết các mảnh nương đều cách xa nhà. Vì vậy sát với các mảnh nương người La Chí thường làm lán để nghỉ ngơi và cất giữ đồ dùng, dụng cụ làm nương.

+ Nguồn nước: Giống như hầu hết các dân tộc ở  khu vực vùng cao miền núi phía bắc, nguồn nước dùng cho sinh hoạt và sản xuất của người La Chí đều dựa vào thiên nhiên. Các thôn bản thường có các nguồn nước được khai thác từ các khe suối hoặc mạch nước ngầm tự chảy từ các khe suối, vạt rừng để sử dụng, song đa số các gia đình đều sở hữu và khai thác các nguồn nước ngầm riêng dùng cho sinh hoạt, một số nhà gần kề thì có thể sử dụng chung và cùng có trách nhiệm bảo vệ, tu sửa khi có sự cố. Cá biệt có một số thôn như thôn Na Léng xã Bản Phùng, thôn Bản Máy xã Bản Máy huyện Hoàng Su Phì thì có các mạch nước ngầm dùng chung cho cả làng.

­- Nơi chăn thả gia súc.

Trước đây, hầu hết các xã hoặc các thôn bản của người La Chí đều có những bãi chăn thả gia súc chung của cộng đồng. Đó thường là những vạt nương bỏ hoang hoặc những khoảng rừng non tái sinh. Nhưng vài năm trở lại đây nhất là từ khi các diện tích đất rừng đã được giao cho các hộ gia đình khoanh nuôi bảo vệ thì các gia đình chăn thả gia súc ngay trên những diện tích đất đã được giao quản lý bảo vệ. Một số hộ gia đình đã biết tận dụng các khoảng đất trống để trồng cỏ chăn nuôi và chuyển từ hình thức chăn thả tự nhiên sang nuôi nhốt. Nhờ vậy đàn gia súc đã được bảo vệ tốt hơn so với trước.

2. Nhà cửa.

2.1. Loại hình nhà.

Nhà ở của người La Chí là loại nhà nửa sàn nửa đất, lối kiến trúc nhà ở này cũng rất đặc trưng, kết hợp giữa nhà sàn và nhà đất trình tường. Phần nhà sàn là nơi để ở. Phần nhà đất được bố trí ở đầu hồi nhà sàn, là nơi nấu nướng, để đồ đạc. Nhà sàn và nhà đất có thể chung một mái hoặc mái nhà đất thấp hơn mái nhà sàn một chút. Kiểu kiến trúc này còn xuất phát từ điều kiện khí hậu ở khu vực vùng núi cao, độ dốc lớn nên hạn chế về mặt bằng, đồng thời để thuận lợi cho việc lao động sinh hoạt của người La Chí. Về quy mô các ngôi nhà thường là 3 gian 1 trái, một số ít nhà quy mô 3 gian 2 trái. Toàn bộ các gian phía trên sàn thông nhau. Vật liệu làm nhà bằng cột gỗ rừng hoặc cây sa mộc, mái lợp cỏ tranh hoặc bằng ngói đất tự làm thủ công. Hiện nay nhiều nhà do điều kiện kinh tế được cải thiện và được hưởng chương trình chính sách của nhà nước về xoá nhà tạm tranh tre nứa lá nên đã mua ngói đất, ngói xi măng để lợp mái. Vách ngăn được làm bằng  gỗ hoặc đan tre, nứa ghép lại, sàn làm bằng ván hoặc tre băm thành dát.

2.2. Hệ thống cột, xà nhà.

Các ngôi nhà ở của người La Chí thường theo một mẫu khá tương đồng. Quan trọng nhất trong kết cấu ngôi nhà là hệ thống cột với tống số 28 hoặc 32 cột tùy theo quy mô và diện tích nhà 3 gian 2 trái hay 3 gian 1 trái. Trong đó hệ thống cột chính gồm 4 hàng, mỗi hàng  6 cột tổng cộng = 24 cột. Một hàng cột phụ tổng cộng = 04 cột. Các cây cột chủ yếu là cột tròn, một số ngôi nhà  được dựng nhiều năm về trước do các cây cột được xẻ từ những cây gỗ lớn nên dáng cột là cột vuông để tận dụng được tối đa nguyên liệu gỗ. Các chân cột thường được kê bằng đá phiến cách mặt đất từ 7 - 10cm để chống mối

Hệ thống xà nhà gồm xà dọc và xà ngang, trong đó xà ngang là xà xiên. Xà hình chữ nhật, kích thước bình quân 20cm x 5cm, được xẻ từ những cây gỗ thẳng và dài suốt chiều ngang của hệ thống cột trong ngôi nhà. Các thanh xà ngang được liên kết qua những lỗ mộng đục rỗng trên thân cột còn xà dọc liên lết bằng mộng thắt đuôi cá.

- Kiểu dáng, cấu trúc mái nhà.

Mái nhà là kiểu mái chảy, trong đó 2 mái chính trước sau có hình thang, 2 mái ở 2 đầu hồi hình tam giác. Hệ thống mái có kết cấu kèo đơn bằng gỗ xẻ hình chữ nhật, kích thước khoảng 20 cm x 5cm và lắp vào họng cột qua một khe rỗng đục thẳng từ phía trên xuống đến hết chiều rộng của thanh kèo. Phía trên đầu kèo được cắt và mở ngoãm theo kiểu 50 -50, tức là mỗi đầu kèo sẽ được cắt một nửa, sau đó chắp lại sao cho vừa khít với nhau. Dui mè bằng tre hoặc gỗ. Nếu lợp bằng cỏ tranh thì hệ thống dui mè được dựng theo cách dui phía dưới, mè phía trên các nắm cỏ được kết thành phên, sau đó lợp lần lượt từ dưới lên và buộc vào hệ thống mè bằng lạt tre. Nếu lợp bằng ngói máng thì hệ thống dui mè được dựng theo kết cấu mè phía dưới, dui phía trên, ngói được đặt 2 lớp vào khe giữa 2 tấm dui lần lượt từ dưới lên trên theo kiểu một lượt sấp, một lượt ngửa. Phía trên nóc phần giáp ranh giữa 2 mái thì lợp bằng ngói bò.

- Vách ngăn:

Hầu hết các ngôi nhà của người La Chí có kết cấu vách phía dưới được trình bằng tường đất, phía trên được ghép bằng ván hoặc đan bằng tre, nứa.

- Hệ thống cửa.

Hệ thống cửa gồm cửa chính được mở ở khu vực gian bếp phía đầu hồi nhà. Trước cửa từ bếp lên nhà qua cửa chính có một cầu thang nhỏ, chiều dài khoảng 1,5 - 1,8m. Cửa phụ được mở ở gian giữa, thông ra phía ngoài trước cửa được làm một sàn bằng tre. Mặc dù là cửa mở ở gian giữa, song cửa này ít được dùng mà chủ yếu để người nhà ra vào để phơi phóng đồ đạc, quần áo. Người La Chí quan niệm rằng cửa phụ mở ở gian giữa là chỉ dành cho những trường hợp đi khỏi nhà và không quay lại như con gái đi lấy chồng hoặc người chết. Vì vậy mọi thành viên trong gia đình hầu như không đi ra khỏi nhà qua cửa này. Cửa sổ thường có 2 cửa được làm nhỏ ở phía đầu hồi nhà cạnh gian bếp, chủ yếu để thông gió và lấy ánh sáng.

- Sơ đồ mặt bằng sinh hoạt trong nhà.

 


                    1                2                  3                 4               5

 

11

                                                                    9

    6

 
         13                                                                    14              7

12

 

    

      8                                                10  

 

1. Khu vực dành cho người cao tuổi trong nhà là nữ ngủ.

2. Khu vực dành cho người cao tuổi trong nhà là nam ngủ (chủ nhà).

3. Gian đặt bàn thờ tổ tiên có cửa thông ra sân bằng sàn tre.

4. Gian dành cho con trai trong nhà ngủ. Hoặc khách là đàn ông.

5. Gian dành cho vợ chồng  trẻ ngủ.

6, 7. Khu vực dành cho con gái hoặc con dâu trong nhà.

8. Cầu thang.

9. Bếp nấu cơm hàng ngày và tiếp khách.

10. Cầu nước và chạn để bát đũa, xoong nồi.

11. Bếp lò.

12. Cửa chính.

13,14. Khu vực để thóc, gạo.

- Những tập tục liên quan đến việc dựng nhà.

+ Chọn hướng nhà: Người La Chí khi làm nhà bao giờ cũng phải xem hướng đất phù hợp. Tiêu chí chính của hướng nhà là phải với tuổi của chủ nhà để cho cuộc sống gia đình chủ nhà không sung khắc với hướng nhà ở làm ăn thuận lợi. Nhà được dựng theo thế núi, lưng quay vào núi phía trước hướng ra ruộng hoặc nương, phía trước nhà phải không có gì cản trở ví dụ như có vách đá, đồi cao, đặc biệt trước mặt phải không có nhà khác chắn.

+ Chọn đất: Người La Chí thường chọn những vị trí đất ở gần ruộng, gần nguồn nước để làm nhà, nhiều trường hợp nhà được dựng ở giữa khu đồng ruộng. Các vị trí để dựng nhà phải đảm bảo độ dốc không lớn, phía sau không có cách núi cao để đảm bảo an toàn. Chính vì vậy hầu như trong khu vực đồng bào La Chí sinh sống không xảy ra các trường hợp bị sạt lở đất.

+ Tuổi của chủ nhà: Người La Chí cho rằng tuổi làm nhà không được trùng với năm sinh trong 12 con giáp của hệ can chi, trong đó riêng lượt đầu thì cộng thêm một năm. Gồm các tuổi 25, 37, 49, 61, 73, đặc biệt là tuổi thứ 49 thì tuyệt đối không được làm nhà. Nếu vì lý do gì đó buộc phải làm nhà thì lấy tuổi của con trai chứ không lấy tuổi của vợ hoặc con gái.

+ Chọn nguyên vật liệu:

Trước khi làm nhà, người La Chí phải có kế hoạch và chuẩn bị trước ít nhất từ 2 - 3 năm. Việc đầu tiên là họ chuẩn bị nguyên vật liệu để làm nhà. Họ chọn những cây gỗ hoặc tre tốt, có kích thước phù hợp và còn xanh tươi để chặt. Sau khi chặt gỗ, họ xẻ thành hình cột, kèo, xà ngay trên rừng, số lượng cột kèo, ván ... tương đương với quy mô ngôi nhà. Sau đó toàn bộ số gỗ được vận chuyển về gần nhà và ngâm nước khoảng 2 năm trước khi dựng nhà để cột nhà được bền chắc. Trước khi làm nhà khoảng từ 2 - 3 tháng họ chuẩn bị dây buộc là lạt tre, dây mây hoặc muống rừng để buộc, nối các cấu kiện của phần mái. Toàn bộ dây buộc được chế biến sẵn và treo lên gác bếp để hun khói để chống mối mọt nhằm tăng độ bền.

- Những kiêng kỵ trong việc chọn nguyên vật liệu.

Người La Chí không dùng các cây bị sét đánh, cụt ngọn hoặc tự chết để làm nhà. Các cây gỗ trong rừng cấm hoặc cây gỗ to trước đây đã có người cúng tế, đặt bát hương dưới gốc thì họ cũng không sử dụng để làm nhà vì họ cho rằng cây đó là nơi trú ngụ của thần linh.

Trong quá trình xây dựng, người La Chí đặc biệt chú trọng về hướng của các cây cột và kèo, tuyệt đối không để các cây cột hoặc vì kèo gốc có hướng lên phía trên.

 - Chọn ngày tháng tốt.

Người La Chí thường làm nhà vào tháng 10 là tháng tốt nhất hoặc những ngày mùa hè khi tiết trời nắng ráo. Họ đặc biệt tránh làm nhà vào tháng 7 âm lịch bởi tháng 7 là Tết Cu cù tê - là tết lớn nhất của người La Chí đồng thời cũng là tháng dành cho thế giới âm nên đây là tháng xấu. Ngày khởi công họ ít chọn, nếu điều kiện cho phép thì thường chọn vào ngày thìn bởi họ cho rằng đây là ngày tốt nhất.

- Những nghi lễ và nghi thức trong khởi công và quá trình xây dựng nhà.

 + Nghi lễ chọn đất: Một trong những nghi thức mang tính bắt buộc trong quá trình làm nhà của người La Chí là chọn đất để làm mặt bằng. Sau khi chọn được địa điểm ưng ý thì họ nhờ thầy cúng chôn 4 cái cọc ở 4 góc của bãi đất dự kiến làm nền nhà. Cạnh 4 cái cọc, chủ nhà đào 4 cái lỗ nhỏ, trong lỗ đặt 2 hay 4 hạt thóc theo hình dấu + rồi úp bát lên sau đó cúng khấn xin thổ địa phù hộ. Nếu sáng hôm sau, các hạt thóc còn nguyên tức là mảnh đất lành có thể làm nhà được, còn nếu bị con gì ăn mất hoặc các hạt thóc bị thay đổi vị trí tức là thổ công không phù hộ, vị trí đo không thuận tiện cho làm nhà nên phải chuyển chỗ khác.

+ Nghi lễ, nghi thức khi dựng nhà: Sau khi nhà được dựng xong xuôi, chủ nhà sẽ mời thầy cúng làm lễ cầu thổ địa và thổ công phù hộ, sau đó di dời bàn thờ từ nhà bố mẹ đẻ hoặc từ nhà cũ về nhà mới (Người La Chí mỗi một người con trai đều có 1 bàn thờ riêng). Nếu khi nhà mới dựng lên mà chưa kịp chuyển bàn thờ vào thì tổ tiên chưa vào ở nhà đó, song họ vẫn cần nên họ phải giữ gìn sự thiêng liêng cho ngôi nhà. Vì vậy ngay trong ngày dựng nhà thì chủ nhà phải đốt một đống lửa và giữ cho đống lửa phải cháy cả đêm, không được tắt, để tránh tà ma làm vấy bẩn ngôi nhà. Nếu chưa kịp lợp mái hoặc gia đình chưa kịp chuyển đến nhà mới thì các buổi đêm phải có người già ra giữ cho lửa không tắt và trải chiếu ngủ ngay dưới nền nhà để ngủ và trông coi.

Trong ngôi nhà của đồng bào La Chí, cả phần nhà sàn và nhà đất đều có bếp lửa, nhưng mỗi bếp lại có công dụng riêng vì họ quan niệm rằng nhà sàn không chỉ là nơi sinh hoạt, ăn ở của gia đình, mà đó còn là không gian thiêng nhất là bếp chính. Sau khi dựng nhà thì bếp lửa trên nhà sàn phải cháy trong suốt 12 ngày liên tục, có như vậy mới may mắn. Lửa thắp trên nhà mới phải được lấy từ nhà bố mẹ đẻ như một sự chia sẻ, kế thừa.

- Quá trình dựng nhà:

+ Làm nền nhà: Sau khi chuẩn bị đầy đủ nguyên vật liệu và các điều kiện khác như lương thực, thực phẩm thì họ vớt gỗ, tre và các vật liệu khác để phơi cho thật khô thì mới tiến hành làm nhà. Sau khi xác định được địa điểm thì đầu tiên là họ san nền và gia cố nền nhà. Do hầu hết các ngôi nhà đều được làm trên các thửa ruộng, xung quanh đều có nước nên dù sườn núi có độ dốc thế nào thì họ cũng phải san đất thật bằng phẳng để làm nền nhà. Hệ thống thoát nước được bố trí xung quanh nhà để nước mưa tràn xuống không thấm vào nền nhà. Vì thế, những ngôi nhà nửa nhà sàn, nửa nhà đất của người La Chí thường có độ bền vững hàng chục năm.

+ Thi công: Việc tiếp theo sau khi làm nền nhà là vận chuyển gỗ đến vị trí nền nhà đã san lấp. Đầu tiên, họ lựa chọn các cây gỗ có kích thước phù hợp để làm cột, kèo, xà....cho phù hợp, sau đó dùng cưa cắt, xẻ và dùng rìu, đục để làm mộng, sau khi xàm khớp các mộng vào nhau cho khít thì mới tiến hành bào cho nhẵn các cây cột và hệ thống xà, kèo. Cùng với việc thi công phần gỗ họ cũng tiến hành trình tường và hệ thống rãnh thoát nước cho khu vực nhà.

 + Dựng nhà: Sau khi hoàn thành việc đục đẽo, xàm khớp mộng thì họ tiến hành dựng nhà. Đầu tiên là dựng gian giữa trước. Để dựng gian giữa, họ lắp đặt hoàn chỉnh 02 vì của gian giữa gồm cột, xà ngang, kèo, chân cột hướng vào nhau, đầu kèo hướng ra phía đầu hồi, khoảng cách giữa 2 hàng chân rộng đúng bằng chiều rộng của gian nhà. Sau đó dùng cây chống vừa đẩy vừa giữ cho 02 vì cột đứng thẳng và lắp các xà dọc nối giữa 2 vì để cố định với nhau. Tiếp theo là dựng các gian hai bên cũng như cách dựng gian giữa.

Sau khi định hình được toàn bộ ngôi nhà thì họ tiến hành bắc cây nóc. Tiếp theo là lắp ráp hệ thống xà, dui mè và lợp mái. Sau khi lợp xong mái thì tiến hành lắp dát sàn và bưng ván.

+ Tập quán giúp đỡ nhau trong xây dựng nhà cửa: Do việc làm nhà cửa thường tốn rất nhiều công sức nên mỗi khi trong làng, thôn bản có người chuẩn bị làm nhà thì cả cộng đồng đều đến giúp, ít nhất là mỗi nhà 01 người. Nhất là ở các công đoạn: Khai thác nguyên vật liệu, san nền, dựng nhà, mỗi người khi đến đều mang theo các vật dụng, dụng cụ như dao, rìu, cưa, đục, cuốc, xẻng... Ngoài ra họ còn mang theo bát đũa, cơm hoặc gạo và thực phẩm để góp với gia đình.

+ Lễ vào nhà mới: Lễ vào nhà mới của người La Chí được tổ chức ngay sau khi lợp xong mái nhà. Khi đó chủ nhà mổ một con gà và mời thầy cúng đến giúp thực hiện nghi lễ. Trước tiên, chủ nhà lắp ráp bàn thờ của mình được chuyển từ nhà bố mẹ đẻ sang nhà mới, sau đó lắp một mảnh tre một đầu được chẻ thành nhiều nhánh và cuốn vào nhau như bông hoa gọi là cầu vồng (Tiếng La Chí gọi là Mìa khư) làm cầu nối để tổ tiên đi xuống bàn thờ, tiếp theo là treo một bộ xương đầu trâu (Nà kha co) lên phía trên bàn thờ. Cùng với đó, gia chủ chuẩn bị lễ vật gồm thịt trâu, thịt chuột, cá, thịt lợn, rượu hoẵng và sừng trâu đựng rượu để thầy cúng mời tổ tiên vào nhà mới.

- Những kiêng kỵ liên quan đến ngôi nhà của người La Chí:

+ Khi làm nhà phải chọn cột cây gỗ phải đẹp không bị chết khô hoặc bị gãy từ trước. Khi dựng nhà phải xem giờ, nhưng chủ yếu là xem ngày giờ tốt để đặt đòn tay nóc nhà, cây đòn nóc do một người bên họ ngoại đặt, nếu không có bố vợ thì phải là anh em có họ ngoại.

+ Vị trí dựng nhà phải không bị nhà phía trước che khuất.

+ Con dâu trong nhà không được đi vào hoặc ngồi ở gian bếp trên, gian này chỉ dành cho bố chồng và những người nam giới hoặc khách đến chơi nhà, nếu như con dâu có dọn dẹp nhà cửa quét ở gian đó phải dùng chổi cán dài lùa vào chứ không được bước lên. Ở gian phía dưới bàn thờ con dâu cũng không được ngồi, nếu ngồi ăn cơm ở gian giữa con dâu chỉ có thể ngồi phía dưới, vị trí dưới bàn thờ chỉ để dành cho người chủ là nam giới ở trong gia đình .

+ Khách đến nhà không ngồi lên ngưỡng cửa.

+ Làm nhà phải xem tuổi của chủ nhà, nếu vào năm hạn, năm xung của chủ thì không được làm nhà.

+ Bố chồng không được vào buồng con dâu và không ăn cơm cùng con dâu trong một mâm.

3. Các công trình kiến trúc công cộng.

3.1. Nhà quan.

- Miếu thờ Hoàng Vần Thùng.

Trong tiềm thức của cộng đồng dân tộc La Chí, nhân vật Hoàng Vần Thùng được tôn thờ và coi như ông tổ vì có công khai ấp lập làng và giúp người La Chí những kinh nghiệm sống và tồn tại, vì vậy sau khi ông mất đã được người dân lập miếu thờ. Hiện nay miếu thờ Hoàng Vần Thùng có 02 ngôi, trong đó một ngôi được xây dựng tại thôn Lủng Cẩu xã Bản Phùng huyện Hoàng Su Phì và một ngôi tại thôn Díu Thượng xã Bản Díu huyện Xín Mần tỉnh Hà Giang. Theo lời các cụ già kể lại thì 02 ngôi miếu này được xây dựng cách đây khoảng hơn 200 năm. Ban đầu miếu được dựng bằng gỗ, lợp cỏ tranh diện tích khoảng 20m2, riêng ngôi miếu tại thôn Díu Thượng thì có bệ thờ bằng đất cao khoảng 70cm, còn ngôi miếu tại thôn Lủng Cẩu thì không có bệ thờ mà chỉ có 02 chiếc bàn nhỏ bằng gỗ để đặt lễ vật mỗi khi tổ chức cúng tế. Năm 2014 ngôi miếu tại thôn Díu Thượng đã được xây mới bằng gạch và xi măng, mái lợp ngói, năm 2015 ngôi miếu tại thôn Lủng Cẩu xã Bản Phùng tiếp tục được xây mới bằng gạch, mái lợp bằng phibro xi măng. Cả hai ngôi miếu này đều được tất cả người La Chí quản lý, bảo vệ như một không gian thiêng của cộng đồng.

- Nhà quan (Khu qua theo cách gọi của nhóm La Chí xã Bản Phùng hoặc Thinh pùng theo cách gọi của nhóm La Chí xã Bản Díu huyện Xín Mần).

Nhà quan được xây dựng sát với miếu thờ Hoàng Vần Thùng dể làm nơi tổ chức các hoạt động tín ngưỡng chung của cộng đồng. Đây là nơi tổ chức các hoạt động nghi lễ của lễ hội Cu cù tê hoặc lễ cúng tổ tiên của mỗi dòng họ. Hiện chỉ có xã Bản Phùng huyện Hoàng Su Phì và xã Bản Díu huyện Xín Mần tỉnh Hà Giang là có nhà quan. Trong đó nhà quan của xã Bản Díu là nơi hoạt động của các thôn Díu Thượng, Díu Hạ xã bản Díu, còn nhà quan xã Bản Phùng là nơi tổ chức hoạt động của 2 xã Bản Phùng - Hoàng Su Phì và Nàn Xỉn huyện Xín Mần.

Nhà quan là ngôi nhà sàn nhỏ bằng gỗ, mái lợp cỏ tranh, xung quanh để trống. Phía trên sàn có gác những bộ xương đầu trâu được để lại sau mỗi lần cúng tế. Phía dưới là nền đất, là nơi tổ chức các hoạt động cúng tế, văn hóa văn nghệ và ăn uống sau mỗi lần tổ chức tế lễ.

- Các công trình kiến trúc công cộng khác.

Ngoài 2 công trình công cộng do cộng đồng người La Chí xây dựng như trên, tại các thôn đều có các công trình khác được Nhà nước hỗ trợ xây dựng để phục vụ yêu cầu sinh hoạt chung của cộng đồng như nhà văn hóa kiêm hội trường thôn, hội trường xã... Các công trình này được xây dựng theo hình thức Nhà nước và nhân dân cùng làm, trong đó Nhà nước hỗ trợ các vật liệu như sắt thép, xi măng, công xây dựng, người dân đóng góp cát, sỏi, gỗ để xây dựng. Các công trình này được dùng làm nơi tổ chức các hội nghị của thôn, xã, các buổi sinh hoạt của làng văn hóa hoặc các hoạt động văn hóa, văn nghệ do thôn và xã tổ chức.

III. Văn hóa ẩm thực.

1. Ẩm thực.

- Các món ăn hàng ngày.

Trước đây, đời sống của người La Chí còn khó khăn nên trong bữa ăn hàng ngày chủ yếu là cơm, rau, các loại rau, củ, quả, đậu phụ, canh đậu tương, cá khô, thịt chim, thịt chuột đôi khi họ bổ sung các loại thức ăn khác như thịt, cá, trứng do gia đình tự nuôi trồng và săn bắt được, hoặc mua thêm các thực phẩm khác... Vào dịp tết, họ thường mổ lợn hoặc một vài nhà cùng chung nhau mổ trâu để vừa làm thực phẩm sử dụng trong dịp tết, đồng thời dự trữ bằng cách làm thịt chua, treo hun khói trên gác bếp hoặc sấy khô để ăn dần.

Các món ăn chủ yếu được chế biến từ nguồn lương thực, thực phẩm do gia đình tự sản xuất, chế biến. Một số món ăn họ không tự chế biến được thì mua ngoài chợ như cá khô, đậu phụ, thịt, cá...

- Các món ăn trong ngày lễ, tết.

Trong các dịp lễ, tết, ngoài các món ăn được sử dụng thường xuyên trong cuộc sống hàng ngày thì bao giờ cũng phải có 3 loại thực phẩm là thịt lợn, thịt trâu, thịt chuột, trong đó chủ yếu là thịt trâu, các loại rau, củ quả trong dịp lế tết thì sử dụng không nhiều. Ngoài ra, tùy theo mỗi dịp lễ tết còn có thêm các loại bánh khác như xôi, bánh chưng, bánh dày...

- Cách chế biến.

Các món ăn của người La Chí đa số không chế biến cầu kỳ, tùy theo mỗi loại thực phẩm mà có cách chế biến khác nhau. Tiêu biểu là một số món như sau:

+ Cơm: Được nấu bằng cách đun sôi trong nước 2 - 3 phút, sau đó vớt ra cho ráo nước rồi đồ trong chõ bằng gỗ như đồ xôi. Hiện nay cách nấu này ít được sử dụng mà họ nấu trực tiếp bằng xoong trên bếp củi hoặc nấu bằng nồi nấu điện.

+ Xôi: Được chế biến từ gạo nếp ngâm trong nước từ 3 - 5 giờ, sau đó đồ bằng chõ gỗ.

+ Bánh dày: Được chế biến từ xôi gạo nếp, sau đó giã nát cho dẻo và nặn thành bánh hình tròn, dày từ 1,5 - 2 cm.

+ Bánh trưng: Được gói bằng gạo nếp, vỏ bằng lá dong, hình thang cân. Sau đó luộc trong nước từ 5 - 7 giờ.

+ Cốm: Được chế biến từ lúa nếp non. Hạt lúa được luộc chín trong nước, sau đó cho vào cối giã cho bong vỏ và làm sạch. Một số nhà dùng thóc nếp già để làm cốm, sau đó đồ cốm thành xôi.

+ Thịt trâu: Là món ăn chính trong các dịp lễ tết, đặc biệt là tết Cu cù tê. Thịt trâu được chế biến thành các món: Thắng cố (Canh thịt lẫn lòng và da, tiết nấu mềm với các gia vị như thảo quả, gừng), lòng xào, thịt xào, da trâu xào... Riêng món thịt trâu khô thì đem ngâm vào nước nóng từ 10 - 15 phút cho ngấm nước, sau đó vùi vào tro bếp nóng để nướng rồi đập và xé nhỏ.

+ Thịt lợn: Chủ yếu là món luộc, xào và món lòng. Riêng món thịt chua thì chế biến bằng cách thái miếng ướp muối sau đó bỏ vào chum bịt kín khoảng một tháng, sau đó rang gạo nếp và xay nhỏ làm thành bột mịn, bỏ thịt ra trộn đều với bột sau đó đem bỏ vào chum ủ tiếp khoảng ba tháng trở lên thì ăn được. Món thịt chua có thể để được rất lâu trong chum có thể vài tháng thậm chí có thể đến một năm nếu ướp để càng lâu càng ngon.

+ Thịt chuột: Thịt chuột được phơi khô rồi treo trên gác bếp để bảo quản. Khi có nhu cầu sử dụng thì ngâm trong nước nóng cho mềm rồi nấu với giềng như nấu thịt chó.

+ Cá: Chủ yếu được chế biến thành 2 món là cá nướng và nấu canh.

+ Thịt gà: Chủ yếu là món luộc và xào với gừng tươi.

+ Thịt dê: Chủ yếu chế biến thành 3 món là thắng cố, lòng nấu canh đắng và món xào.

+ Thịt bò: Cách chế biến giống như thịt trâu.

+ Các loại rau: Chủ yếu được chế biến thành món xào hoặc nấu canh. Riêng các loại bầu, bí, măng thì được chế biến thành món hầm với các loại xương.

- Các món kiêng cữ.

Nhìn chung, người La Chí không kiêng cữ nhiều về món ăn, chỉ có phụ nữ sau khi sinh con 3 tháng thì chỉ được sử dụng thịt gà, trứng và các loại rau, củ quả và không được sử dụng các loại thực phẩm khác.

- Các loại đồ uống.

Người La Chí có các loại đồ uống sau:

+ Rượu hoẵng: Được chế biến từ gạo nếp, sau khi đồ thành xôi thì để nguội, sau đó trộn với men và ủ kín trong chum hoặc vại từ  20 - 25 ngày. Đến khi rượu lên men và chuyển thành màu trắng đục, có vị ngọt của đường và mùi thơm của rượu thì sử dụng được. Khi sử dụng sẽ dùng một chiếc giỏ bằng tre đặt vào giữa chum để gạn bã rượu rồi dùng ca hoặc gáo để múc rượu ra.

+ Rượu trưng cất: Thường được chế biến từ củ sắn, một số ít nấu bằng gạo tẻ. Củ sắn tươi được bóc vỏ và luộc chín, sau đó để nguội, nếu nấu bằng gạo thì nấu như nấu cơm và để nguội và trộn men rồi ủ trong chum kín từ 15 - 20 ngày. Đến khi các miếng sắn hoặc cơm nhuyễn thì cho ra nồi, đổ thêm nước và gắn chiếc chõ gỗ để trưng rượu, trong chõ có chiếc rùa bằng gỗ, phía trên có một chiếc chậu đựng nước lạnh để rượu ngưng tụ rồi rơi xuống chiếc rùa và dẫn ra ngoài. Toàn bộ các cấu kiện kết nối gồm chõ gỗ, chậu nước đều phải được trát kín bằng cám hoặc lá cây khoai giã nát trộn với tro bếp để ngăn không cho rượu bay hơi.

+ Tập quán sử dụng: Trong bữa ăn hàng ngày, người La Chí thường sử dụng rượu. Riêng các dịp lễ tết, làm nhà cửa, khai phá ruộng, cấy lúa hoặc khi có khách đến nhà thì buộc phải có rượu, đặc biệt là món rượu hoẵng là lễ vật không thể thiếu trong các buổi tế lễ. Hàng năm, khoảng từ tháng 5 đến tháng 6 âm lịch người La Chí dành thời gian để ủ rượu chuẩn bị cho tết cu cù tê. Đây cũng là dịp người La Chí sử dụng nhiều rượu nhất trong năm. Khi uống rượu hoẵng họ thường uống trong bữa ăn cùng với các loại thực phẩm khác hoặc ruống nguyên rượu như một loại nước giải khát. Đối với rượu trưng cất họ thường dùng trong bữa ăn cùng với các loại thực phẩm khác mà ít khi sử dụng riêng như rượu hoẵng.

+ Khẩu vị: Người La Chí thích uống rượu có vị ngọt, nồng độ vừa phải.

- Cách ăn uống.

Người La Chí rất coi trọng các bữa ăn trong gia đình, vị trí thứ tự quanh bàn ăn cũng rất quan trọng, thường được sắp xếp thành 2 mâm, một mâm dành cho người già và nam giới, một mâm dành cho nữ giới con dâu trong nhà và các trẻ nhỏ, riêng con dâu không ngồi chung mâm cùng bố chồng. Mâm thứ nhất được sắp xếp tại gian chính (gian có đặt bàn thờ), chỉ có vị trí người chủ nhà là nam giới mới được ngồi tại vị trí bàn thờ, nếu có khách là nam giới được ngồi cạnh chủ nhà dưới bàn thờ, nếu là phụ nữ và trẻ em chỉ có thể ngồi phía dưới quay mặt lên phía bàn thờ, mâm thứ hai được đặt phía dưới, nồi cơm thường được đặt giữa hai mâm. Khi ăn, họ dùng đũa để lấy thức ăn, trẻ nhỏ thì dùng thìa. Khi ăn, các món ngon như gan gà, thịt nạc thường được các thành viên trong mâm gắp cho người già hoặc trẻ em. Đồng thời chủ nhà cũng thường xuyên tiếp thức ăn và rượu cho khách để thể hiện lòng hiếu khách và quý trọng nhau. Người La Chí coi bữa ăn là dịp để tâm sự, thổ lộ tình cảm, vì vậy trong suốt bữa ăn họ thường xuyên nói chuyện và tâm sự mọi công việc riêng tư hoặc bàn bạc những vấn đề hệ trọng trong gia đình, dòng họ và cộng đồng. Vì vậy bữa ăn thường kéo dài thời gian, nhiều khi từ trưa đến tối hoặc khuya.

Trong bữa ăn, người La Chí thường ăn trước một bát cơm, sau đó mới sử dụng rượu cùng với các món ăn. Một số món ăn như canh đắng, lòng thường được sử dụng trước, sau đó mới đến các món khác.

2. Hút thuốc.

- Các loại đồ hút.

Hầu hết nam giới người La Chí đều hút thuốc lào, là loại thuốc họ tự trồng có lá to màu vàng nhạt, mặt lá có lông mềm. Thuốc lào chế biến thành sợi nhỏ dạng khô, được đựng vào một cái ống bằng sừng trâu gọi là Há sù lú, nếu không có Há sù lú thì họ đựng vào một ống tre có nắp đậy hoặc túi nilon. Mỗi khi đi ra khỏi nhà bao giờ họ cũng đem theo thuốc lào bên người.

Ngoài nguyên liệu chính là lá thuốc lào, người La Chí dùng một đoạn cây sậy, nếu không có cây sậy thì dùng một đoạn cây tre hoặc cây trúc và lấy dao sắc để cạo bỏ lớp cật cứng, sau đó cạo thành những sợi thật mỏng màu trắng để hút kèm với lá thuốc lào. 2 loại nguyên liệu này để riêng, hút đến đâu sử dụng đến đó.

Thời gian gần đây một số người cũng sử dụng thuốc lá đóng bao bày bán ở chợ như người Kinh thay cho thuốc lào, song số này không nhiều.

- Dụng cụ hút.

Người La Chí hút thuốc bằng điếu cày, là một đoạn ống tre có đường kính từ 5 - 7cm, dài khoảng 70cm, đầu ống phía dưới kín, đầu phía trên hở, nếu là 2 gióng thì được đục thông nhau. Phía dưới ống cách khoảng 15cm có một lỗ khoan chéo và lắp thật khít vòi điếu, là một đoạn ống nhỏ hơn, đường kính khoảng 1 - 1,2cm, dài khoảng 20cm. Trong thân điếu thường đổ sẵn nước ngập 2/3 vòi điếu để lọc khói.

- Cách hút.

Khi hút, trước tiên họ lấy một ít sợi cây sậy hoặc cây tre, trúc đã được cạo sẵn rồi vê tròn như hạt lạc và tra vào vòi điếu, tiếp theo vê sợi thuốc lào thành viên với kích cỡ tương tự và để chồng lên phía trên sợi cây sậy, sau đó dùng que gắp một viên than hồng đặt vào cục thuốc lào đã viên tròn phía trên vòi điếu rồi dùng miệng để hút.

Thông thường, trong mỗi gia đình người La Chí bao giờ cũng có ít nhất một cây điếu để hút thuốc. Mỗi khi có khách, chủ nhà sẽ mời ngồi bên cạnh bếp lửa và đun nước để pha trà mời khách. Trong khi chờ nước sôi thì họ thường vệ sinh điếu như thay nước, rửa điếu để mời khách hút thuốc và chủ nhà thường mời khách hút trước để tỏ lòng hiếu khách.

- Sản xuất nguyên liệu.

Cây thuốc lào được hầu hết người La Chí trồng trên nương hoặc trên ruộng, lá cây già đến đâu thu hoạch đến đó và xâu vào một chiếc lạt phơi trong bóng dâm cho gần khô rồi xếp từ từ 3 - 4 lá với nhau và cuộn chặt lại như hình ống tre, phía ngoài cuốn bằng dây nilon hoặc dây lạt. Các cuộn lá tiếp tục được phơi cho thật khô rồi để vào ống tre hoặc ống vầu và treo lên gác bếp để bảo quản. Khi dùng, họ dùng dao sắc để thái nhỏ. Một số gia đình không trồng được hoặc không đủ dùng thì đi mua ở chợ.

3. Tập quán ẩm thực, hút trong cưới xin, ma chay, sinh đẻ.

3.1. Tập quán ẩm thực.

- Trong sinh đẻ.

Trước đây, do đời sống còn nhiều khó khăn, nguồn lương thực ít nên trong các gia đình có người sinh đẻ thì người La Chí thường dự trữ sẵn một lượng gạo nhất định cùng một số loại thực phẩm dành riêng cho sản phụ như gà, trứng, lạc, đậu tương... Trong bữa ăn, bao giờ gia đình cũng dành cho phụ nữ phần nhiều hơn để đảm bảo sức khỏe và đủ sửa để nuôi con. Trong khoảng một tháng sau khi sinh, sản phụ được ăn riêng, sau đó mới ăn cùng mâm với gia đình ở mâm dành cho nữ giới, con dâu trong nhà và các trẻ nhỏ.

- Trong cưới xin.

Ăn uống là một trong những hoạt động quan trọng nhất trong đám cưới của người La Chí vì họ cho rằng cưới hỏi không những là niềm vui của chủ nhà mà còn là niềm vui, trách nhiệm của cả cộng đồng. Mỗi khi một gia đình trong cộng đồng thôn bản tổ chức cưới xin thì hầu hết các gia đình đều có mặt để giúp làm rạp, nấu nướng, chuẩn bị cỗ bàn, sau đó cùng nhau ăn uống. Trong đám cưới, thực đơn không thể thiếu món thịt trâu, được chế biến thành các món thắng cố, xào, canh xương. Sau đó là các món được chế biến từ thịt lợn, thịt gà, các món rau, củ, quả nếu có cũng rất ít. Mỗi đám cưới thường kéo dài từ chiều hôm trước đến hết ngày hôm sau, thời gian chủ yếu dành cho việc ăn uống.

- Trong ma chay, tang lễ.

Trong quá trình tổ chức ma chay, ngoài việc làm các thủ tục cho người chết như phúng viếng, chôn cất thì bao giờ người La Chí cũng tổ chức ăn uống. Thành phần chủ yếu là các thành viên trong dòng họ, cộng đồng thôn bản. Các món ăn trong tang ma khá đơn giản, chủ yếu là thịt trâu được chế biến thành 2 hoặc 3 món. Mổ trâu và lợn trong đám ma là việc bắt buộc bởi ngoài việc lấy thịt làm thực phẩm thì họ còn lấy đầu trâu làm lễ vật cúng cho người chết, đồng thời phải mổ ít nhất một con lợn nái để cúng cho người chết làm giống để nuôi ở thế giới bên kia.

Sau khi chôn cất xong, các thành viên trong cộng đồng tiếp tục trở về gia đình tang chủ để động viên và uống rượu và ăn thịt trâu, thịt lợn. Sau 13 ngày gia đình làm lễ cúng gọi hồn về nhà cúng một con lợn, đồng thời mời anh em hàng xóm thân thích đến ăn uống.

- Trong các lễ hội, lễ thức.

Giống như các hoạt động cộng đồng khác, các lễ hội, tết nhất, cúng giỗ bao giờ người La Chí cũng tổ chức ăn uống. Ngoài các món ăn chế biến từ thịt trâu, thịt lợn, thịt và, cá thì rượu cũng được sử dụng rất nhiều, nhất là trong tết Cu cù tê, tết nguyên đán. Thậm chí khi sử dụng hết thức ăn thì họ vẫn có thể uống rượu đến thâu đêm suốt sáng.

Một điều đặc biệt khác trong việc tổ chức các nghi lễ, các ngày giỗ, tết hoặc cúng tế của người La Chí đó là thầy cúng có thể vừa cúng tế vừa bốc thức ăn hoặc uống rượu hoẵng dùng làm đồ lễ để ăn ngay khi đang hành lễ, vì họ quan niệm rằng thầy cúng là người có quyền năng ngang hàng với thế giới thần nên có thể vừa cúng vừa ăn uống cùng.

Sau khi kết thúc việc tế lễ, bao giờ gia chủ cũng phải sắp một mâm cơm riêng để các thầy cúng ăn với nhau. Một số thầy cúng cao tay biết xem ngày tháng hay tướng số thì trong tất cả các bữa kể cả trong sinh hoạt hàng ngày hoặc trong tế lễ đều phải ăn riêng mà không được ăn cùng với các thành viên khác trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Đối với các thầy cúng này trong thời gian đầu mới đi học nghề thì không được ăn cá, thịt lợn, sau khi được ban quyền năng thì mới được ăn như trước đó.

3.2. Tập quán hút.

Giống như nước uống, trong tất cả các hoạt động ma chay, cưới xin hay các lễ hội, tết nhất, người La Chí bao giờ cũng chuẩn bị một số điếu cày cho các nam giới sử dụng để hút thuốc lào như một việc bắt buộc. Nguyên liệu thuốc thì mỗi người ai cũng đều đem theo, chỉ một số ít không chuẩn bị thì họ có thể chia nhau một cách vui vẻ để thể hiện lòng hiếu khách.

III. Trang phục.

1. Y phục và trang sức.

Do đặc điểm điều kiện lao động, sinh hoạt ở vùng núi cao nên trang phục nam của dân tộc La Chí ngoài chức năng chính là bảo vệ cơ thể, che đậy nắng mưa giữ cho cơ thể ấm áp về mùa đông, song vẫn đảm bảo tính thẩm mỹ và phù hợp với điều kiện sống ở vùng núi.

- Kiểu dáng áo, quần nam:

+ Áo nam (Pù ni pồ): Là áo năm thân, cài khuy áo bên nách phải, tay áo phần trên khuỷu tay được cắt liền cùng thân áo và được nối thêm ở gần khuỷu khoảng 25-30 cm tuỳ theo tay ngắn hoặc dài. Áo nam của người La Chí không có hoa văn, được may bằng vải bông nhuộm màu xanh chàm.

+ Quần nam (Què): Là kiểu quần lá tọa, ống to, cạp rộng có thể cắt dài gấp lên hoặc đáp một mảnh vải khác màu buộc dây dút. Quần dài đến gót chân, gấu quần may gấp lên rộng gần bằng cạp quần.

+ Khăn (Kha ni pồ): Nam giới người La Chí dùng khăn quấn đầu là một mảnh vải màu xanh chàm, dài từ 1 - 1,2m và gập lại thành mảnh, chiều rộng khoảng 7cm. Nam giới nếu đã lấy vợ thì đeo vòng bạc ở tay thay nhẫn như một trong những cách nhận biết họ đã lập gia đình hay chưa.

+ Mũ (Pụ kha): Được may bằng vải mộc hoặc vải bông, mũ may bằng cách ghép các mảnh vải màu xanh, đỏ, chàm hoặc vàng hình tam giác với nhau, phía dưới có các hoa văn hình ô vuông, tam giác. Trên chóp mũ có một túm sợi chỉ màu để trang trí. Mũ của người La Chí chủ yếu dành cho trẻ em sử dụng.

- Kiểu dáng áo, quần nữ:

+ Áo nữ: Gồm có 2 loại, áo dành cho nữ chưa lấy chồng (Pù Ka pà là min mà) và áo dành cho nữ đã có chồng (Pù ni mìa).

Áo của nữ chưa lấy chồng là áo có 5 thân, gồm 2 thân trước và 2 thân sau dài thẳng, được may đính liền nhau bằng một đường chỉ thẳng từ trên cổ xuống hết thân áo, một thân lỡ ngắn bên cạnh nách phải, khuy áo được cài từ cổ chéo sang bên nách phải gồm có 5 khuy 1 khuy cài trên gần cổ, 1 khuy cài gần bên cạnh bên dưới vai phải, và 3 khuy được cài dọc theo từ phía nách phải xuống bên sườn, tà áo được xẻ hai bên cạnh sườn từ gấu lên xẻ khoảng 60-70 cm tuỳ theo độ dài của áo, hai mép trong của tà xẻ được may đệm bằng một mảnh vải khác màu, thân dài đến khoảng ngang bắp chân qua đầu gối khoảng 15-25 cm, tay nối hai bên khoảng 30-35 cm, áo không có eo.

Áo của nữ đã có chồng là áo 4 thân gồm 2 thân trước và 2 thân sau, áo dài đến dưới gối. Thân sau được may liền từ cổ áo đến hết thân áo, 2 thân trước tách rời, vạt áo có nẹp rộng khoảng 5cm, phía trên sát với cổ áo có một số hoa văn họa tiết hình tam giác hoặc hình vuông. Khi mặc, 2 vạt trước bắt chéo vào nhau vạt bên phải phía trong, vạt trái chùm bên ngoài,

+ Quần nữ: Quần ống thẳng to dài đến mắt cá chân, phía trên cạp thắt dây dút, quần áo nữ của người La Chí cắt may giống như quần của dân tộc Dao nhưng khác là gấu quần không có nẹp vải đỏ.

+ Thắt lưng: Bằng vải màu xanh chàm, chiều rộng khoảng 20 - 25cm, thắt lưng buộc phía trước, đầu trong ngắn, đầu ngoài dài đến cổ chân như chiếc yếm.

+ Áo yếm: Được mặc phía trong áo dài. Áo yếm (Nhum) rộng khoảng 13 - 15cm, dài khoảng 33 - 35cm có thêu hoa văn là những đường kẻ sọc thẳng hoặc ô quả trám. Khi mặc yếm có 2 dây buộc phía dưới vòng ra sau lưng và 2 dây phía trên buộc vòng qua cổ và để phía ngoài sau lưng áo. Đuôi dây có một mảnh vải hình dài khoảng 20cm, một đầu rộng khoảng 4cm một đầu 2cm, thêu hoa văn là những đường sọc thẳng.

+ Khăn: Gồm có 2 loại khăn, một loại cuốn theo tóc, thường là vải nhung màu đen hoặc màu tím để cuốn theo tóc. Một loại khăn nữa vuông rộng khoảng 60 cm được làm bằng vải sợi bông cuốn phía bên ngoài đầu.

- Phân loại trang phục.

+ Phân theo giới tính: Trang phục nam áo cài khuy chéo bên phải, vạt dài đến ngang mông, không có thắt lưng. Trang phục nữ vạt dài đến dưới gối, nếu là nữ đã lấy chồng thì 2 vạt vắt chéo trước ngực, áo không có cúc và sử dụng thắt lưng để cố định vạt áo.

+ Phân theo tuổi tác: Tùy theo lứa tuổi mà phụ nữ người La Chí có những bộ trang phục khác nhau. Đối với nữ chưa có chồng thì áo có 5 thân, vạt cài chéo về bên phải bằng khuy vải. Nữ có chồng thì hai vạt thẳng bắt chéo trước ngực.

+ Màu sắc: Tất cả trang phục của cả nam, nữ và các lứa tuổi đều sử dụng màu xanh chàm.

Hoa văn trang trí.

Hoa văn trang trí trên trang phục của người La Chí chủ yếu trên trang phục của phụ nữ, khăn, địu và mũ của trẻ em. Các họa tiết cơ bản được thêu bằng chỉ và ghép bằng vải.

Các mẫu hoa văn thêu trang trí trên trang phục của nữ được thêu ở hai bên cổ áo, khăn cuốn đầu, sau lưng áo và áo yếm. Hoa văn gồm các mẫu hình tam giác, hình chấm tròn, hình quả trám kết hợp với các đường viền với nhiều gam màu khác nhau như xanh, trắng, đỏ, vàng, tím tạo nên nét nổi bật của hoa văn. Kiểu trang trí phổ biến nhất là hoa văn nằm ở giữa, xung quanh là các đường viền được thêu móc thành hình chấm tròn với nhiều màu sắc khác nhau.

Hoa văn ghép vải chủ yếu là các đường viền, hoa văn hình tam giác cân với các màu sắc chính gồm màu đỏ và màu tím, đây cũng là hai màu mà người La Chí ưa thích, tượng trưng cho sự may mắn, hạnh phúc. Họa tiết ghép vải phổ biến nhất trên mũ, địu trẻ em. Các hoa văn được trang trí hài hòa trong các đường viền hình vuông, bên ngoài là các mẫu hoa văn ghép vải, phần tâm là các mẫu hoa văn thêu chỉ được phối hợp nhiều màu sắc khác nhau, tạo nên sự mềm mại, độc đáo trong cách trang trí của mình.

- Các loại trang phục sử dụng trong tôn giáo, tín ngưỡng.

+ Trang phục của thầy cúng.

Áo: Là loại áo 4 thân dài khoảng 130 - 140cm giống như áo của nữ giới, gồm có 2 loại là cài khuy lệch sang bên nách phải và 2 vạt thẳng giữa ngực. Áo may bằng vải bông nhuộm chàm màu xanh đậm.

Quần: Bằng vải bông nhuộm chàm may kiểu lá tọa, ống to, cạp rộng có thể cắt dài gấp lên hoặc đáp một mảnh vải khác màu buộc dây dút. Quần dài đến gót chân, gấu quần màu xanh da trời may gấp lên rộng gần bằng cạp quần.

Mũ: May bằng vải bông nhuộm chàm, kiểu mũ chào mào, dài khoảng 40cm, tượng trưng cho mái tóc của nữ giới. Dưới cạp mũ có thêu các hoa văn bằng chỉ màu theo kiểu sọc thẳng.

Khăn: Là một đoạn vải bông màu xanh chàm, dài khoảng 1,4m gióng như chiếc đai lưng của nữ giới. Khăn được sử dụng khi thầy cúng múa trong hành lễ.

Các trang phục trên của thầy cúng chỉ dùng trong khi tổ chức lễ hội Cu cù tê, trong tang ma hoặc các nghi lễ tổ chức tại miếu thờ. Đối với các nghi thức khác thì sử dụng trang phục mặc hàng ngày.

+ Các đồ nghề liên quan:

Miếng da trâu khô: Dài khoảng 50cm, rộng khoảng 20cm, được thầy cúng đeo sau lưng tượng trưng cho chiếc áo con của nữ giới.

Củ gừng: là một miếng gừng tươi được buộc vào một đoạn dây chỉ thay cho que hương được thầy cúng cầm trên tay khi hành lễ.

Sừng Trâu: Là phần ngọn của sừng trâu được khoét rỗng thay cho chiếc chén để đựng rượu hoẵng khi cúng tế.

+ Trống: Được làm từ một đoạn thân cây gỗ đục rỗng, dài khoảng 60 cm, đường kính khoảng 35cm, hai đầu bịt bằng da trâu hoặc da bò và néo với nhau bằng dây mây hoặc dây da trâu.

Chiếc sọt: Sọt được đan bằng tre hoặc giang, rộng khoảng 15cm, cao khoảng 10cm, khi cúng tế thì trải lá vào trong sọt và để lễ vật vào trong thay cho chiếc đĩa hoặc bát.

 

B. Văn hóa phi vật thể.

I. Tôn giáo, tín ngưỡng và lễ hội dân gian truyền thống.

1. Tín ngưỡng dân gian.

- Quan niệm về vũ trụ:

Người La Chí cho rằng thế giới gồm 3 tầng, tầng trời là nơi trú ngụ của vua trời gọi là Ngoài Hoàn cùng các thần tiên khác. Phần đất là nơi dành cho con người trú ngụ và âm ty tức phần trong lòng đất gọi là Pa phi u là nơi dành cho các hồn ma trú ngụ. Trong 3 tầng thì tầng trời có khả năng chi phối 2 tầng còn lại, có thể gây ra mưa, gió, sấm chớp hoặc những hiện tượng thiên nhiên khác.

- Quan niệm về hồn ma và các thần linh khác:

Người La Chí có tục thờ đa thần, họ cho rằng mọi vật đều có linh hồn cũng giống như thế giới người. Trong thế giới thần ma còn có các ma lành và ma ác bởi ma quỷ chính là linh hồn của sự sống đã chết, các loại ma này tồn tại ở mọi nơi. Trong các loại ma này thì ma lành là những loại ma không làm hại người như ma tổ tiên, ma bếp, ma thầy cúng… còn ma ác là những loại ma chuyên làm hại người như ma rừng, ma gốc cây to, ma suối, ma người chết đuối…Vì vậy muốn yên ổn khoẻ mạnh thì phải biết thờ cúng và làm các phép thuật để cầu mong các ma lành phù hộ hoặc phòng trừ các loại ma làm hại.

Cũng xuất phát từ quan niệm cho rằng trong vũ trụ vạn vật đều có linh hồn, có sống và có chết nên người La Chí cho rằng có thần mưa, thần gió, thần lúa gạo, thần chăn nuôi, thần ruộng, thần rừng và thường xuyên chi phối cuộc sống lao động sinh hoạt hàng ngày nên phải tổ chức các nghi lễ để cầu mong cho cây cối hoa màu và con người, vật nuôi phát triển tốt.

- Tục thờ tổ tiên:

Trong quan niệm của mình, người La Chí cho rằng con người gồm 2 phần là phần xác là cái đang tồn tại là cái có thực, phần hồn là cái đang tồn tại song song với con người mà con người không nhìn thấy, nó chi phối gián tiếp đến cuộc sống con người và các loài vật. Con người khi chết thì hồn sẽ được trở về bên kia thế giới, ở đó họ cũng làm ăn sinh sống như người sống và thường xuyên bảo vệ chăm sóc cho những người trong tộc họ còn sống trên trần thế. Vì vậy con cháu phải có nghĩa vụ thờ cúng và cung cấp những thứ cần thiết cho sinh hoạt hàng ngày của tổ tiên. Còn ma tổ tiên là ma của những người thân trong gia đình đã qua đời. Ở mỗi tộc họ lại có các ma của dòng tộc, ở mỗi chi lại có các ma nhỏ hơn.

Tục thờ tổ tiên của người La Chí được cúng ba đời đối với nam, hai đời đối với nữ. Theo phong tục, bố mẹ chôn ngày nào con cái nhớ suốt đời không được gieo giống hay cho vay, mượn vào ngày đó vì họ cho rằng đó không phải là ngày sinh sôi, phát triển.

Trong mỗi ngôi nhà của người La Chí có bao nhiêu nam giới thì có bấy nhiêu bàn thờ tổ tiên. Mỗi nam giới sở hữu một bàn thờ và được lập trước khi người nam giới ra ở riêng. Bàn thờ được lập ở vách 2 gian nhà sát với cửa phía trước của gian giữa. Khi trưởng thành, lập gia đình và ra ở riêng thì người nam giới đó sẽ đem theo bàn thờ tổ tiên của mình về nhà mới.

- Tục thờ Hoàng Vần Thùng:

Cộng đồng người La Chí coi Hoàng Vần Thùng là người có công khai ấp lập làng, dạy người dân biết cách đào đất, san đất đồi thành bậc thang để trồng lúa nước, dạy bà con nuôi gà, nuôi lợn, bẫy thú rừng đến phá ruộng, nương. Đồng thời giúp người La Chí chống lại giặc giã cướp bóc để bảo vệ xóm làng. Khi mất, ông được người La Chí lập miếu thờ. Hiện nay có 2 ngôi miếu thờ Hoàng Vần Thùng được lập tại thôn Díu Thượng xã Bản Díu huyện Xín Mần và thôn Lủng Cẩu xã Bản Phùng huyện Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang là 2 nơi định cư đầu tiên của người La Chí. Người La Chí cũng cho rằng khu mộ cổ với hàng ngàn ngôi trải dài suốt vùng đất mà họ định cư đều là mộ giả của Hoàng Vần Thùng được con cháu ông lập lên nhằm ngăn chặn việc xâm hại ngôi mộ thật.

Trong truyền thuyết dân gian của người La Chí còn lưu truyền câu truyện kể về Hoàng Dìn Thùng, cho rằng ông là tổ tiên của người La Chí, thân thể của ông được biểu tượng là các dãy núi trùng điệp, trên đó có các bản làng của người La Chí sinh sống. Trong đó, người Bản Díu được coi là anh cả vì được sinh ra từ đầu của ông, người Bản Phùng là anh thứ hai được sinh ra từ bụng và người em út là Bản Máy được sinh ra từ đôi chân.

Hàng năm, người La Chí thường tổ chức cúng Hoàng Vần Thùng tại miếu thờ vào ngày mùng 2 tết nguyên đán. Nếu trong cộng đồng người La Chí mà gặp nhiều thiên tai địch họa thì thầy cúng sẽ tổ chức mổ trâu và tổ chức lễ cúng chung cho cả cộng đồng để cúng Hoàng Vần Thùng. Hoặc khi một trong 3 thầy cúng lớn nhất đại diện cho các dòng họ qua đời thì cộng đồng sẽ mổ trâu để cúng tế nhằm lựa chọn ra thầy cúng khác để thay thế người đã mất.

Đối với các gia đình, tết Cu cù tê được tổ chức vào thời gian từ mùng 1 đến ngày 14 tháng 7 âm lịch để cúng Hoàng Vần Thùng và tổ tiên. Đây cũng là lễ thức lớn nhất trong năm của người La Chí.

- Tín ngưỡng và nghi lễ liên quan đến nông nghiệp:

Người La Chí là một trong những tộc người có truyền thống lâu đời và nhiều kinh nghiệm về canh tác nông nghiệp, nhất là trồng lúa nước. Bên cạnh đó, sản xuất nông nghiệp có vai trò đặc biệt trong đời sống kinh tế của người La Chí, trong khi hầu hết dựa vào thiên nhiên với độ rủi do cao. Vì vậy họ có nhiều tín ngưỡng và nghi lễ độc đáo liên quan đến lĩnh vực này. Trong một năm họ phải tổ chức 4 nghi lễ liên quan đến chu kỳ mùa vụ đó là:

+ Lễ mở kho xin giống: Được tổ chức vào tháng 4 hoặc tháng 4 âm lịch hàng năm. Người La Chí quan niệm rằng, sau khi mùa vụ thu hoạch xong họ sẽ làm lễ gửi hồn của cây lúa và các loại hoa màu để Hoàng Vần Thùng giữ hộ cho đến vụ gieo cấy năm sau. Đây là một khoảng thời gian dài nhàn rỗi, hồn của cây lúa thường ngủ quên chưa tỉnh giấc. Bên cạnh đó có một số phần hồn đi chơi lang thang, do vậy, gia đình phải nhờ thầy cúng gọi hồn lúa về nhập vào hạt giống, giúp cho cây trồng phát triển tươi tốt, gia đình có vụ mùa bội thu và chỉ sau khi tổ chức xong lễ này thì các gia đình mới được cấy một vụ mới.

+ Lễ cúng vụ cấy: Được tổ chức theo quy mô hộ gia đình sau khi cấy xong toàn bộ diện tích ruộng của mỗi gia đình. Lễ cúng này nhằm cầu mong cây lúa sinh sôi phát triển tốt.

+ Lễ cúng cúng cơm mới:  

Theo quan niệm của người La Chí, trước mùa gặt trước khi được ăn những hạt lúa mới, bà con phải làm lễ mừng cơm mới để cúng báo tổ tiên, tạ ơn trời đất, tạ ơn thần linh đã phù hộ một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, giúp La Chí có được một vụ mùa bội thu. Lễ cúng này được tổ chức vào đầu tháng 9 âm lịch trước khi tổ chức thu hoạch lúa. Các lễ vật gồm: Rượu hoẵng, thịt chim, cá chép ruộng. Các gia đình người La Chí chỉ sau khi cúng cơm mới thì các gia đình mới được đem thóc mới thu hoạch vào nhà và ăn cơm nấu từ gạo mới, đồng thời trước khi cúng cơm mới thì không được đốt rơm rạ vì khi đó hồn lúa vẫn còn ở trên cây rơm cây rạ, nếu đốt thì năm sau sẽ bị mất mùa.

+ Lễ cúng thần nương rẫy, thần rừng.

Được tổ chức quy mô từng thôn sau khi toàn bộ các gia đình thu hoạch lúa xong với sự tham gia của đại diện tất cả các hộ gia đình trong thôn.

+ Lễ đóng kho:

Lễ đóng kho được tổ chức vào đầu tháng 10 âm lịch hàng năm, sau khi  thu hoạch xong lúa ngô và các loại hoa màu và kết thúc một năm canh tác, sản xuất. Mục đích nhằm gửi phần hồn các loại giống cây trồng vào kho của Hoàng Vần Thùng để Hoàng Vần Thùng giữ hộ cho đến vụ gieo cấy năm sau.

- Quan niệm về hồn lúa:

Người La Chí quan niệm rằng cây lúa cũng có 2 phần là phần hồn và phần xác. Trong cây lúa thì mỗi phần lại có một phần hồn khác nhau như hồn lá lúa, hồn cây lúa, hồn hạt lúa. Cai quản các phần hồn này là Mẹ lúa. Vì vậy trong quá trình canh tác họ phải tôn trọng, thờ phụng mẹ lúa và các phần hồn của cây lúa thì mới có mùa màng tươi tốt, việc cấy trồng mới được thuận lợi.

- Việc chọn ngày gieo cấy.

Người La Chí không quá coi trọng việc chọn ngày gieo cấy. Tùy theo mỗi gia đình mà họ lựa chọn ngày gieo cấy khác nhau và tránh trùng với ngày giỗ của ông, bà, cha mẹ hoặc các thành viên trong gia đình. Khi chọn được ngày phù hợp thì họ thông báo cho anh em hoặc bà con hàng xóm để đến giúp theo hình thức đổi công. Sau khi cấy xong toàn bộ các thửa ruộng thì họ mới tổ chức lễ cúng và ăn mừng.

- Những ngày và những dịp kiêng kỵ trong canh tác.

Hầu hết các dòng họ người La Chí đều không kiêng kỵ những ngày và những dịp không được gieo cấy và làm nương rẫy. Chỉ có những ngày trùng với ngày mất của tổ tiên, ông bà, cha mẹ hoặc các thành viên trong gia đình là họ không đi làm. Riêng nhóm hộ các gia đình họ Long thì kiêng từ 2 - 3 ngày trong khoảng thời gian từ ngày mùng 2 đến ngày mùng 6 tết để xem bói chân gà nhằm tìm ra những ngày xấu, những vận hạn trong năm để làm lễ hóa giải. Trong những ngày này toàn bộ các thành viên trong gia đình đều không làm việc mà chỉ ở nhà để cúng tế và ăn uống.

- Các lễ thức trước và sau vụ gặt.

Trước khi gặt, bao giờ các gia đình cũng phải tổ chức lễ cúng cơm mới, sau đó mới được gặt. Nếu vì lý do nào đó buộc phải gặt trước thì họ chỉ được để lúa ở ngoài ruộng nương hoặc sân vườn và chưa được ăn. Sau khi cúng xong lễ này thì mới được đưa lúa vào nhà và mới được ăn gạo mới.

Sau khi gặt xong toàn bộ các thửa ruộng thì họ tổ chức lễ đóng kho để gửi phần hồn các loại giống cây trồng vào kho của Hoàng Vần Thùng để Hoàng Vần Thùng giữ hộ cho đến vụ gieo cấy năm sau.

- Quan niệm về thần nương rẫy và thần ruộng.

Người La Chí quan niệm rằng mỗi khu rừng, vạt nương hay mảnh ruộng đều có các vị thần cai quản. Họ gọi thần nương là Ngui Ui, thần ruộng là Ngui Nui. Các thần này có nhiệm vụ canh giữ cho cây cối phát triển tươi tốt. Nếu trong khu rừng, vạt nương hoặc thửa ruộng bị cháy, sạt lở thì phải tổ chức cúng ngay tại chỗ đó để xin thần phù hộ. Còn mọi sự việc diễn ra thuận lợi thì không phải cúng tế. Riêng thần rừng thì chỉ tổ chức mỗi năm một lần vào tháng 9 âm lịch hàng năm.

- Các lễ hội liên quan đến tín ngưỡng cầu mùa, rừng cấm.

+ Lễ cúng thần nương rẫy, thần rừng (Ngui Ui).

Được tổ chức quy mô từng thôn sau khi toàn bộ các gia đình thu hoạch lúa xong với sự tham gia của đại diện tất cả các hộ gia đình trong thôn. Lễ vật gồm có thịt chó, thịt lợn, thịt trâu, thịt gà, rượu, cơm... các lễ vật và món ăn được chuẩn bị sơ chế sẵn, sau đó đem vào rừng hoặc nương để cúng vào buổi chiều rồi ăn uống tại chỗ đến tối. Khi về toàn bộ các thành phần tham gia buổi lễ phải tắt hết đèn đóm và đi trong bóng tối về nhà, vì họ quan niệm rằng như vậy thì thần ma sẽ không nhìn thấy và không biết đường để theo về làm hại gia đình.

2. Các nghi lễ cộng đồng.

- Các ngày tết.

Trong một năm, người La Chí có 2 tết chính như sau.

+ Tết nguyên đán: Được tổ chức trùng với tết nguyên đán của các dân tộc khác để đón năm mới và thường bắt đầu từ khoảng 26 - 27 tháng 12 âm lịch đến ngày 05 tháng giêng của năm mới. Trong dịp này, các gia đình mổ lợn, gà để cúng tế. Vào ngày sắp lễ cúng đầu tiên, mỗi gia đình phải sắp một mâm cỗ riêng để cúng tổ tiên gồm một miếng thịt lợn sống được cắt từ phần thịt và da ở cổ lợn, một củ gừng, một chiếc sừng trâu. Lễ cúng được bày trên một chiếc bàn gỗ thấp chân kê ở một chỗ bất kỳ trong gian giữa ngôi nhà. Khi cúng, thầy cúng ngồi cạnh mâm để cúng và không dùng hương. Khi cúng xong, thầy cúng sẽ gọi con cháu, đại diện của người đã mất vào ngồi cạnh mâm sau đó rót rượu vào những chiếc sừng trâu và chia đều cho mọi người trên mâm uống đến khi hết. Vào đêm 30, người La Chí sẽ dành thời gian nghỉ ngơi, không đón giao thừa; khoảng 1 - 2 giờ sáng ngày mùng 1, con trai, con gái trong làng sẽ thức dậy tắm nước mới để một năm gặp nhiều may mắn. Đầu năm mới, trai gái trong thôn tập trung ở bãi rộng chơi đánh quay, đu quay hoặc đi thăm nhau chúc tết và uống rượu.

+ Tết Cu cù tê: Theo tiếng La Chí tức là "Tết uống rượu, đây là ngày tết quan trọng nhất trong một năm của người La Chí. Về nguồn gốc lễ thức, đây là tết cúng Hoàng Vần Thùng và cúng ông bà tổ tiên đã mất. Đồng thời đây cũng là dịp những người trong dòng họ có dịp gặp nhau, thể hiện tinh thần gắn kết cộng đồng, đồng thời cầu cho cuộc sống ấm no gia đình hạnh phúc. Tết cu cù tê được tổ chức từ ngày 1 đến 14 tháng 7 âm lịch hàng năm.

Trước khi tổ chức tết, thầy cúng sẽ chọn ngày và giờ đẹp cho dân làng tập trung tại nhà thờ của trưởng tộc để cúng tổ tiên dòng họ của người La Chí. Trong buổi lễ này, dân làng mổ trâu hoặc mổ lợn, gà và làm rượu hoẵng. Trong khi tổ chức tế lễ, thầy cúng sẽ đánh trống thiêng, sau đó uống rượu cả ngày và thâu đêm đến sáng.

Ngày hôm sau, mọi người về nhà mình làm thủ tục gọi tổ tiên, mời những người đã mất về ăn tết tháng 7 tại gia đình, lễ này cũng do thầy cúng chủ trì. Lễ vật chuẩn bị cho lễ cúng gồm có thịt gà, thịt lợn và nhất định phải có thịt chuột nướng hoặc nấu chín. Các đồ lễ được bày lên mảnh lá chuối trên chiếc bàn ăn cơm hàng ngày. Khi cúng, thầy cúng dùng một đoạn dây chỉ dài khoảng 20cm một đầu buộc vào củ gừng, đầu kia giữ vào ngón tay cho lắc lư trước mặt như chiếc dây dọi, họ quan niệm nếu củ gừng đung đưa theo một hướng nằm ngang tức là tổ tiên đã nhận lễ vật, trong khi cúng, thầy cúng có thể vừa cúng vừa bốc ăn lễ vật, điều đó thể hiện quan niệm bình đẳng giữa thầy cúng và thế giới thần linh.

Trong dịp tết Cu cù tê, người La Chí chủ yếu uống rượu hoẵng, khi uống người ta đổ nước lạnh vào rồi chắt lấy rượu có màu trắng đục ra để uống. Về cách thức uống, nam giới dùng sừng trâu thay chén còn phụ nữ uống bằng bát. Dịp này các gia đình đến nhà nhau ăn tết uống rượu, vui chơi đến khi hết tết mới thôi. Đặc biệt, đến buổi tối ngày cuối cùng tất cả trai gái trong làng nhất là những cặp vợ chồng đều tập trung ở nhà thầy cúng to nhất của làng để tham gia. Khi đến khoảng 9 giờ tối thì thầy cúng đánh 3 tiếng trống thiêng thì mọi người tắt đèn và đóng cửa sau đó mọi người đều có thể vô tư sờ soạng nhau nhưng không được đi quá giới hạn vì họ quan niệm như vậy sẽ bị ma làm hại. Nếu 1 phụ nữ được nhiều người sờ soạng thì đó là may mắn vì người đó vẫn còn xinh đẹp và được mọi người thích, đến khoảng 12 giờ đêm thì thầy cúng đánh 3 tiếng trống thì kết thúc hoạt động này và cũng là kết thúc lễ hội.

Hiện nay, các lễ thức, lễ hội trên vẫn được người La Chí duy trì theo đúng nghi thức truyền thống. Năm 2014 tết Cu cù tê đã được Bộ văn hóa thể thao & du lịch đưa vào danh mục di sản văn hoá phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 2684/QĐ - BVHTTDL ngày 25/8/2014 của Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch.

3. Tổ chức xã hội.

3.1. Bộ máy tổ chức truyền thống trong làng, bản.

- Trưởng làng:

Người La Chí chọn trưởng làng theo cách riêng của dân tộc họ, không nhất thiết đó có phải là người cao tuổi hay không, ví dụ như năm nay người giữ chức trưởng làng đó có gia cảnh không suôn sẻ như có tang ma hoặc gặp nhiều vận hạn thì chức trưởng làng đó được chuyển qua nhà khác. Tục lệ chọn trưởng làng như sau: Khi cần lựa chọn trưởng làng thì các gia đình trong làng sẽ chọn lấy 120 đôi chân gà được tích trữ trong những dịp cúng bái trước đây của các dòng họ để lại. Khi đó họ sẽ dự định chọn một người trong cộng đồng có đủ các điều kiện như có uy tín, có gia cảnh tốt, sau đó thì làm lễ cúng. Khi cúng lễ xong thầy cúng xóc lên để chọn một đôi chân gà và xem đôi chân gà đó có tốt không, nếu tốt thì người dự định đó được làm trưởng làng, nếu đôi chân gà đó không tốt thì tiếp tục cúng lễ và chọn lại người khác cứ như thế đến khi chọn được người tốt để làm trưởng làng mới thôi chứ không nhất thiết là phải người cao tuổi trong làng đó.

Trong cộng đồng, người trưởng làng chủ yếu cùng với các trưởng họ giải quyết các công việc liên quan đến mối quan hệ cộng đồng, chủ trì các hoạt động cúng tế, giải quyết những vướng mắc, tranh chấp giữa các gia đình nếu có. Khi có các vụ việc xảy ra trong thôn thì phải đưa đến trưởng làng giải quyết. Người được bầu làm trưởng làm làm việc với tinh thần tự nguyện và không nhận thù lao từ cộng đồng. Tuy nhiên họ luôn được cộng đồng kính trọng.

Trong thời kỳ duy trì mô hình hợp tác xã nông nghiệp thì mỗi thôn đều có hợp tác xã với ban quản trị, có chủ nhiệm hợp tác xã hoặc nếu là đội sản xuất thì có đội trưởng. Từ năm 1988 mô hình hợp tác xã được giải thể và trong cộng đồng có chức danh trưởng thôn. Bộ máy quản lý của hợp tác xã hoặc đội sản xuất hoặc trưởng thôn hoạt động và tồn tại song song với trưởng làng. Hiện nay mỗi thôn đều có bí thư chi bộ, trưởng thôn và các đoàn thể như phụ nữ, nông dân, đoàn thanh niên. Chức danh trưởng làng hiện vẫn được duy trì, song vài trò vị trí không được rõ nét như trước đây.

- Quan hệ nghĩa vụ và quyền lợi các thành viên trong làng, bản.

Do tập tính canh tác tự cung tự cấp nên các qui định liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ giữa các thành viên trong cộng đồng không nhiều. Chủ yếu là các hoạt động như giúp nhau khi có công to việc lớn như làm nhà, cưới vợ gả chồng, tang lễ thì tuỳ theo khả năng điều kiện của mỗi gia đình để có sự hỗ trợ, giúp đỡ nhau. Vào những dịp như cấy và thu hoạch lúa thì các nhóm hộ giúp nhau theo hình thức đổi công.

- Luật tục.

+ Tục mổ trâu cúng tổ tiên của dòng họ.

Thông thường, khi trong cộng đồng hoặc dòng họ có những biến cố bất thường như thiên tai, dịch bệnh hoặc mất mùa thì họ sẽ mời một thầy cúng to nhất để xem bói. Nếu thầy cúng cho rằng nguyên nhân là do tổ tiên của cộng đồng hoặc dòng họ chi phối thì phải mổ trâu để cúng. Khi đó, trong cộng đồng sẽ cử ra một người, thường là trưởng làng làm đầu mối để phối hợp với trưởng thôn và những người có trách nhiệm trong cộng đồng  bàn việc tổ chức cúng tế. Khi đó họ sẽ tìm trâu, định giá và phân bổ chia đều cho các gia đình để đóng góp, đủ mua trâu, lễ vật để cúng tế.

Đối với các lễ thức khác như lễ cúng thần rừng, thần nương (Ngui Ui), tết cu cù tê thì trưởng làng cũng chủ trì các hoạt động như trên, song với quy mô nhỏ hơn và đều được cộng đồng tự giác thực hiện.

+ Những vướng mắc, tranh chấp trong cộng đồng nếu xảy ra thì phải đưa đến trưởng làng giải quyết. Khi đó các chi phí ăn uống để giải quyết vụ việc do người sai phải chi trả ví dụ như: Trộm cắp vặt thì phạt tuỳ theo giá trị của đồ vật mà phạt tiền. Ngoài ra còn phải làm một bữa cơm mời các người hoà giải đó ăn và do người sai phạm chi trả, riêng tranh chấp đất đai thì chỉ phạt tiền chi trả một bữa cơm ngoài ra không phạt thêm.

+ Tục bảo vệ rừng cấm.

Trong cộng đồng người La Chí tục bảo vệ rừng cấm được mọi người nghiêm túc và tự giác thực hiện. Rừng cấm của người La Chí gồm 2 loại: Rừng cấm của cộng đồng là những khu rừng rộng, có vị trí đẹp, ở khu vực trên cao, cách xa các khu dân cư và được xác định ranh giới cụ thể. Đây là nơi tổ chức các nghi lễ chung của cộng đồng. Những khu rừng này thường được hình thành cùng với quá trình tồn tại và phát triển của cộng đồng người La Chí sinh sống tại khu vực lân cận. Rừng của gia đình, dòng họ là những khu rừng có diện tích không lớn và liền kề với các nương rẫy của mỗi gia đình. Tại các khu rừng này chỉ có gia đình hay dòng họ thuộc quyền sở hữu thì mới được khai thác và chăm sóc tôn tạo.

Người La Chí quan niệm rằng mỗi khu rừng đều có một vị thần (Ngui Ui) cai quản. Nếu rừng cấm bị xâm hại thì chính chủ rừng phải chịu hậu quả và phải làm lễ cúng tế. Vì vậy những khu rừng này thường được bảo vệ nghiêm ngặt, không ai được tự ý khai thác, chặt phá khi chưa được phép của cộng đồng hay người được trông coi, quản lý. Nếu vi phạm thường sẽ bị xử lý rất nặng.

+ Tục cúng đầu trâu cho người chết.

Tục cúng đầu trâu cho người chết được người La Chí thực hiện như một yêu cầu bắt buộc của người sống đối với người đã chết. Mặc dù việc cúng đầu trâu được thực hiện với quy mô hộ gia đình, song quá trình tổ chức lại có sự tham gia của cả cộng đồng. Khi có người thân trong gia đình chết đi, gia đình và bản làng sẽ mổ trâu cúng giỗ. Chiếc đầu của con trâu được cắm trên đầu cây gậy mang ra chôn trước mộ của người chết. Chỉ sau khi cúng đủ ít nhất 3 lần trở lên thì gia đình mới hoàn thành nghĩa vụ với người đã chết. 

+ Tục làm bàn thờ cho nam giới.

Trong mỗi ngôi nhà của người La Chí bao giờ cũng có nhiều bàn thờ tương ứng với số thành viên là nam giới trong gia đình. Bàn thờ được lập và dựng dọc hàng vách phía trước theo thứ tự: bàn thờ của bố, con út, các con thứ, trong cùng là của con cả. Bàn thờ của các con bao giờ cũng thấp hơn bàn thờ của bố. Mỗi nam giới người La Chí bắt buộc phải trải qua 3 bước lập bàn thờ. Lần thứ nhất lập bàn thờ với lễ vật hiến sinh là con gà. Sau một thời gian, họ đập đi lập bàn thờ lần thứ hai, lấy con dê làm vật hiến sinh. Và lần cuối cùng họ cũng đập bỏ bàn thờ này để lập bàn thờ mới lần thứ 3, khi đó lễ vật cúng tế sẽ là một con trâu. Riêng với những người hành nghề thầy cúng thì trên bàn thờ sẽ có thêm một mô hình chiếc đầu con ngựa được ghép bằng gỗ, bên trong để một đồng bạc già. Khi trưởng thành, lập gia đình và ra ở riêng thì người nam giới đó sẽ đem theo bàn thờ tổ tiên của mình về nhà mới. Khi người đàn ông chết đi, người ta phải phá bàn thờ đó và mang nó theo quan tài, đặt ở ngoài mộ.

- Hương ước.

Trước đây, người La Chí không xây dựng hương ước, việc quản lý điều hành các hoạt động trong cộng đồng chủ yếu theo luật tục và những quy định của chính quyền. Song từ khoảng năm 1997 trở lại đây chính quyền địa phương trên cả nước đã triển khai xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa thì các thôn bản vùng đồng bào La Chí sinh sống đã triển khai xây dựng hương ước của thôn bản. Qua nhiều giai đoạn, đến nay hương ước của các thôn bản đã từng bước được hoàn thiện để đảm bảo phù hợp với thực tiễn của mỗi địa phương cũng như những quy định của pháp luật hiện hành.

Để triển khai thực hiện hương ước, các thôn bản cũng đã bầu ra Ban quản lý thôn hoặc Ban quản lý xây dựng làng văn hóa với sự tham gia của Trưởng thôn, bí thư chi bộ, đại diện các đoàn thể và các hộ gia đình. Một số thôn khác thì do Ban công tác mặt trận chịu trách nhiệm triển khai thực hiện và giám sát quá trình thực hiện.

Trong quá trình thực hiện hương ước đã phát sinh một số vướng mắc như mức xử phạt không phù hợp với quy định của Pháp luật hiện hành, chưa coi trọng tính giáo dục răn đe mà chủ yếu thiên về xử phạt. Vì vậy ở hầu hết các địa phương đã thay thế hương ước bằng quy ước của thôn, bản, hoặc được điều chỉnh lại cho phù hợp với pháp luật và các quy định hiện hành.

- Các hình thức sinh hoạt cộng đồng, làng bản.

Hầu hết các thôn bản vùng đồng bào La Chí hiện nay đều có 3 hình thức sinh hoạt chính như sau:

+ Sinh hoạt làng văn hóa: Dành cho những thôn bản đã đăng ký xây dựng làng văn hóa hoặc làng văn hóa du lịch cộng đồng. Hình thức này thường được tổ chức theo định kỳ mỗi tháng hoặc 2 tháng một lần. Ngoài ra, khi cộng đồng có công to việc lớn như chuẩn bị cúng tế hoặc các sự kiện liên quan đến đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng.

+ Họp thôn: Thường được tổ chức khi cIện Hầu hết

ó các công việc, sự kiện chính trị, văn hóa, thể thao do cấp ủy, chính quyền tổ chức như ngày hội đại đoàn kết ở khu dân cư, bầu cử, tổng vệ sinh làng bản...

+ Họp dòng họ: Được tổ chức khi có các sự kiện liên quan đến dòng họ, gia tộc như mổ trâu cúng cho tổ tiên dòng tộc, xảy ra các biến cố liên quan đến gia đình, dòng họ.

3.2. Quan hệ gia đình, dòng họ.

3.2.1. Dòng họ.

- Quan niệm tộc người về dòng họ.

Trong quan niệm của người La Chí thì tất cả các dòng họ đều là anh em một nhà, trong đó nhóm La Chí ở Bản Díu huyện Xín Mần được coi là anh cả, nhóm ở xã Bản Phùng huyện Hoàng Su Phì là anh thứ 2, nhóm ở xã Bản Máy cùng huyện là em út. Đối với nhóm La Chí thuộc xã Nàn Xỉn huyện Xín Mần thì trước đây được tách ra từ xã Bản Phùng nên các hoạt động liên quan đến cộng đồng thì đều tổ chức chung với xã Bản Phùng.

Trong các dòng họ thì họ cho rằng họ Vương và họ Long là lớn nhất và có ảnh hưởng nhất đối với cộng đồng, hầu hết các công to việc lớn liên quan đến cả cộng đồng đều phải có sự đồng ý của trưởng hai dòng họ này. Đặc biệt là trong các dịp cúng tế tổ chức tại miếu thờ chung của cộng đồng thì chỉ có đại diện của 2 dòng họ này mới được mở cửa miếu. Những truyền thuyết hiện còn được truyền tụng trong cộng đồng người La Chí đến ngày nay giải thích họ có chung nguồn gốc và là anh em một nhà.

- Tên gọi dòng họ bằng tiếng La Chí.

Tên gọi các dòng họ theo tiếng La Chí gần giống với cách gọi của các dân tộc khác ở vùng cao phía bắc, nhất là dân tộc Mông, dân tộc Nùng. Trong đó: họ Ly = họ Lý, họ Vương = họ Vàng, họ Tẩn = họ Tận, họ Long  = họ Lùng. Đối với nhóm La Chí Y Mié ở Bản Máy cùng huyện và nhóm Y Tó ở xã Bản Díu huyện Xín Mần thì dòng họ có sự giao thoa văn hóa của người Tày - Nùng, ví dụ ở 2 nơi này có họ Thèn thuộc nguồn gốc dân tộc Nùng, họ Lục (Lộc), họ Nông có nguồn gốc dân tộc Tày. Về tên gọi theo truyền thống thì tất cả nam nữ người La Chí khu vực xã Bản Phùng khi chưa lập gia đình đều có tên đệm đều giống nhau là A, sự khác nhau được phân biệt ở tên gọi, trong đó:

- Tên gọi của nữ giới: Chủng, Dể, Nề, Xá, Nguể, Úng, Óng (Ví dụ: Long A Chủng, Vàng A Úng, Ly A Óng...)

- Tên gọi của nam giới: Vả, Nú, Lý, Phô, Lỳ (Ví dụ: Vàng A Phô, Ly A Lỳ, Long A Vả...).

Sau khi lập gia đình và có con thì người La Chí có cách gọi tên theo công thức là: họ - pô (bố) + tên con + tên riêng của người được gọi. Người phụ nữ có con được gọi theo công thức: Mìa (mẹ) + tên con cả + tên chồng.

Như vậy có thể thấy số lượng tên gọi theo truyền thống của người La Chí Y Pí tại xã Bản Phùng huyện Hoàng Su Phì khá nghèo nàn. Đối với một số nhóm La Chí trước đây từ Bản Phủng di cư đến các địa phương khác cũng giữ được cách đặt tên theo cách này. Tuy nhiên vài chục năm trở lại đây thì cách đặt tên của một số người có thay đổi, không theo truyền thống như trên mà họ đặt tên giống như các dân tộc khác cùng sinh sống trên địa bàn. Ví dụ: Phong, Thành, Sinh, Nam... Tên đệm cũng không giữ nguyên là A như trước mà nữ giới có tên đệm là Thị, tên đệm của nam giới thì đa dạng hơn như Văn, Chính, Đức, Hữu, Phát, Xuân...

- Cấu trúc tộc phả: Người la Chí có phả hệ rất ngắn, đối với nam giới là 3 đời và nữ giới là 2 đời. Sau quãng thời gian trên thì coi như không có mối quan hệ ruột thịt. Chính vì vậy trước đây tình trạng hôn nhân cận huyết thống trong cộng đồng người La Chí diễn ra rất phức tạp, gần đây, nhờ có sự can thiệp của các cấp, ngành nên tình trạng này đã giảm nhiều so với trước.

- Cách xác định ngôi thứ trong các chi.

Việc xác định vai vế trong cộng đồng người La Chí tương đối đơn giản bởi họ cho rằng cứ ai sinh ra trước thì là chi trên, được làm anh hoặc chị. Tuy nhiên, trong một gia đình thì tên gọi của mỗi người là gì sẽ xác định người đó được sinh ra trước. Ví dụ: Con gái đầu là Chủng, con gái thứ hai là Dể.... Đối với nam thì con trai trưởng là Vả, con thứ hai là Nú, con thứ ba là Lý...

- Cách xác định các thành viên trong cùng một dòng của người La Chí chủ yếu dựa vào họ, ví dụ: Họ Vương là họ đầu, họ Long là thứ hai...

- Hình thức tụ cư: Theo truyền thống trước đây thì ở mỗi làng bản đều có một dòng họ chiếm đa số, hiện nay đã có sự xen kẽ giữa các dòng họ. Mặc dù là họ gì nhưng họ vẫn đề cao tinh thần đoàn kết gắn bó, ít xảy ra mâu thuẫn, nếu có đều được giải quyết kịp thời thông qua vai trò của các thầy cúng, trưởng thôn. Điều đó thể hiện tính cấu kết cộng đồng trong các tộc họ người La Chí cũng như các thôn bản người La Chí sinh sống trên địa bàn.

- Vai trò của trưởng họ.

Đối với người La Chí do có phả hệ rất ngắn (nam giới là 3 đời và nữ giới là 2 đời), vì vậy toàn bộ trưởng họ đều là thầy cúng mà không phân biệt về tuổi tác hoặc người đó thuộc họ gì, chi nào. Trong mỗi một dòng họ thì đều phải có một trưởng họ là thầy cúng to nhất. Nếu trưởng họ bị ốm chết thì trong dòng họ sẽ đóng góp tiền để mổ trâu làm lễ mai táng và bàn bạc, lựa chọn một thầy cúng khác để thay thế, cách lựa chọn được thực hiện bằng cách bói chân gà giống như chọn trưởng làng.

Cũng giống như trưởng làng, trưởng họ người La Chí ngoài việc thực hiện các nghi thức cúng tế thì họ phải nắm bắt và thực hành được các nghi thức tín ngưỡng để có thể giúp đỡ cho các gia đình trong các dịp lễ tết, là chỗ dựa tinh thần khi gặp thiên tai, địch họa... Khi có các vụ việc xảy ra trong thôn thì phải phối hợp với trưởng làng hoặc trưởng thôn giải quyết. Song ngoài việc cùng ăn uống thì họ không được trả thù lao gì thêm.

- Tài sản của dòng họ.

Các dòng họ người La Chí không có tài sản chung, họ chỉ có miếu thờ chung của cộng đồng và các dụng cụ để thực hành tín ngưỡng. Trước đây cộng đồng người La Chí của 2 huyện Hoàng Su Phì và Xín Mần tỉnh Hà Giang có một bộ trống và chiêng đồng (ẳn chủng) giống như trống đồng Đông Sơn của người Việt cổ. Bộ trống chiêng này là vật thiêng chung cho cả cộng đồng và chỉ được thầy cúng to nhất sử dụng trong tế lễ. Do quan niệm của người La Chí cho rằng Trống thiêng phải để riêng trong một hang đá nhất định nào đó mà trống chọn thông qua thầy cúng thì mới đem lại thịnh vượng cho cả dân tộc. Ngược lại trống sẽ kêu và mọi người sẽ gặp tai họa. Vì vậy bộ chiêng trống này đã bị mất từ năm 1977.

3.3.2. Gia đình.

- Quan niệm về gia đình, vai trò của gia đình trong cộng đồng.

Người La Chí cho rằng gia đình là nơi sinh sống của các thành viên trong gia đình, đồng thời cũng là nơi đặt bàn thờ để tổ tiên cùng trú ngụ. Vì vậy đây là nơi thiêng liêng nhất của mỗi con người. Sống trong gia đình mọi người phải có trách nhiệm yêu thương đùm bọc, che chở giúp đỡ nhau.

Gia đình truyền thống của người La Chí thường có 3 thế hệ cùng chung sống, đó là ông - bà, cha - mẹ, các con cháu. Tuy nhiên cũng có những gia đình có 4 thế hệ chung sống. Các gia đình có 4 thế hệ thường là những nhà ít con cái nên vì vậy mà cụ ông, cụ bà thường sống với con cháu, chắt. Trong quá trình sinh sống chung với ông bà, bố mẹ thì tài sản được xác định là tài sản chung. Các sản phẩm thu hoạch được cũng như chế độ sử dụng đều chung.

Mối quan hệ trong gia đình người La Chí theo qui tắc gia trưởng, nam giới là người đưa ra các quyết định và nữ giới là người thừa hành. Người nam giới cao tuổi nhất trong gia đình được coi là người trụ cột trong gia đình, có trách nhiệm điều hành cắt cử các thành viên cũng như quyết định các việc quan trọng trong gia đình. Nếu gia đình có 4 thế hệ thì bố mẹ là người trực tiếp thực hiện các công việc được ông bà phân công, có nghĩa vụ chăm sóc ông bà, con cái trong gia đình. Anh chị em là những người thừa hành thực hiện các công việc thường ngày trong gia đình như: Tham gia lao động sản xuất, tuân thủ các ý kiến của ông bà, cha mẹ. Trong khi đó nếu gia đình có con dâu, con rể thì họ cũng có nghĩa vụ như các anh chị em trong nhà.

Các thành viên trong gia đình sau khi lập gia đình và có con sẽ được chia một phần ruộng nương, trâu và được các thành viên trong gia đình làm nhà ra ở riêng và sinh sống lao động độc lập. Việc phân chia tài sản theo nguyên tắc bình đẳng chia đều. Song chỉ có con trai mới được chia vì họ quan niệm rằng con gái sau khi lấy chồng thì đã được bên nhà chồng lo. Cứ lần lượt như vậy, ai lấy vợ sau cùng thì sẽ được ở lại ngôi nhà đó cùng với bố mẹ. Vì vậy bố mẹ hoặc ông bà thường sinh sống cùng con út trong gia đình.

- Khi ông bà, bố mẹ mất đi thì tất cả các con trai phải cùng nhau gánh vác trách nhiệm trong việc làm tang lễ, các khoản phúng viếng sẽ được công khai và chi phí cho đám tang. Nếu sử dụng không hết sẽ được người con ở cùng nhà quản lý và để dành cho các nghe thức sau an táng. Chỉ đến khi tổ chức cúng xong 3 lần đầu trâu thì các con mới hết trách nhiệm. Khi đó, việc thờ cúng ông bà, bố mẹ sẽ do mỗi người con trai tự thực hiện tại gia đình mình.

4. Tập quán trong hôn nhân, sinh đẻ, nuôi dạy con cái và tang ma.

4.1. Sinh đẻ và nuôi con.

- Quan niệm về sinh đẻ vả ảnh hưởng đối với nữ giới.

Người La Chí cho rằng việc sinh con là bổn phận trách nhiệm của người phụ nữ khi về làm dâu để nối dõi. Việc đứa trẻ chào đời là niềm vui, là sự kiện quan trọng của gia đình. Nếu một người phụ nữ không sinh được con cái thì sẽ không được mọi thành viên trong gia đình coi trọng.

- Các tập tục liên quan trong quá trình mang thai.

- Khi người phụ nữ mang thai sắp đến tháng sinh con gia đình làm lễ gọi hồn cho người mẹ. Đồng thời sản phụ tự chuẩn bị mũ áo, tã lót cho con chào đời tã bằng vải bông nhuộm chàm tự làm hoặc vải mua ngoài chợ tuỳ theo điều kiện kinh tế của mỗi người, mỗi gia đình. Đối với mẹ chồng và chồng thì chuẩn bị phòng nghỉ riêng cho sản phụ trong khi sinh và sau khi sinh con.

Khi mang thai người phụ nữ La Chí kiêng không làm các việc nặng nhọc, ăn uống đủ no, không ăn thịt gà trống già, trứng vịt và cũng tuỳ theo điều kiện của mỗi gia đình mà có chế độ ăn uống khác nhau, Trong khi mang thai sản phụ đặc biệt kiêng kỵ việc đánh rắn khi gặp. Cũng trong quá trình mang thai, trong xã hội truyền thống trước đây thì họ hầu như không đi thăm khám mà chờ đủ tháng đủ ngày sẽ sinh nở ở tại nhà. Ngày nay hầu hết phụ nữ khi mang thai đã đến các cơ sở y tế để thăm khám và hộ sinh.

Khi sản phụ trở dạ đẻ thì người trong nhà đi đón bà đỡ thường là mẹ chồng hoặc chồng của sản phụ. Dụng cụ của bà đỡ gồm có chậu nước nóng để tắm rửa cho trẻ … Nhau thai được cuốn vào rơm và đem chôn ở những chỗ mát vì quan niệm chôn như vậy thì đứa trẻ được mát mẻ không yếu đau bệnh tật. Sau khi đẻ sản phụ được đưa vào buồng kín gió và ở đó trong thời kỳ ở cữ sau khi sinh ít nhất là 33 ngày.

Sau khi đẻ đủ 3 ngày gia đình làm lễ cúng tổ tiên báo cho tổ tiên biết đã có thêm thành viên và đặt tên cho đứa trẻ. Việc đặt tên đứa trẻ do gia đình nhà trai chủ yếu là những người đứng đầu như ông nội, cụ nội của trẻ và chỉ được thực hiện sau khi đứa trẻ sinh ra được 3 ngày, chắc chắn khoẻ mạnh.

 4.2. Hôn nhân.

- Quan niệm về hôn nhân.

Người La Chí cho rằng hôn nhân là điều kiện để duy trì nòi giống, là việcc bắt buộc của mỗi người khi đến tuổi trưởng thành. Người La Chí thuộc khu vực các tỉnh phía bắc ngày nay vẫn có tục lệ hôn nhân do cha mẹ cưới gả, chỉ có một số ít gia đình cho con được phép tự do tìm hiểu hôn nhân tự nguyện.

- Tuổi kết hôn: Trước đây, người La Chí lấy vợ lấy chồng rất sớm, đối với nữ thường từ 15 - 17 tuổi, nam giới thì khoảng từ 16 - 18 tuổi. Tuy nhiên hiện nay hầu hết các cặp vợ chồng đều kết hôn khi nữ từ đủ 18 tuổi, nam tử đủ 20 tuổi trở lên.

- Nguyên tắc kết hôn: Người La Chí kết hôn theo nguyên tắc một vợ một chồng, nữ  sau khi lấy chồng sẽ ở nhà bố mẹ chồng. Đa số người La Chí chỉ kết hôn với người trong cộng đồng trừ một số người đi làm ăn hoặc công tác xa. Đối với nhóm La Chí thuộc xã Bản Díu huyện Xín Mần, Bản Máy huyện Hoàng Su Phì thì có một số kết hôn với người Tày, Nùng.

- Kết hôn cận huyết thống: Do người la Chí có phả hệ rất ngắn, đối với nam giới là 3 đời và nữ giới là 2 đời, sau quãng thời gian trên thì coi như không có mối quan hệ ruột thịt. Chính vì vậy trước đây tình trạng hôn nhân cận huyết thống của người La Chí diễn ra rất phức tạp, gần đây, nhờ có sự can thiệp của các cấp, ngành nên tình trạng này đã giảm nhiều so với trước.

- Việc kết hôn trong dòng họ, dòng tộc.

Đối với người La Chí, khi hai gia đình đã làm thông gia thì coi như là gia gia đình và 2 gia đình không được gả những người là con cái còn lại cho nhau. Chỉ sau trong 3 đời đối với nam và 2 đời đối với nữ thì mới được gả cưới cho nhau.

C. Kinh tế

 

I. Đặc trưng về sản xuất kinh tế.

Do cư trú trên địa bàn có địa hình phức tạp, hầu hết là khu vực núi cao, độ dốc lớn nên hoạt động sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu kinh tế của người La Chí. Khảo sát tình hình đời sống kinh tế của người La Chí khu vực 2 huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần của tỉnh Hà Giang cho thấy sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ trên 95%[5]. Mặc dù diện tích rừng còn chiếm tỷ lệ lớn nhưng ngành kinh tế lâm nghiệp không phát triển do ý thức bảo vệ rừng của người La Chí tương đối tốt để bảo vệ nguồn nước. Ngoài ra người La Chí còn duy trì một số hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp như rèn, đúc, dệt vải.. song chủ yếu là để phục vụ nhu cầu tiêu dùng và sản xuất của mỗi gia đình mà chưa trở thành hàng hóa. Tại trung tâm các xã hoặc các cụm dân cư đã có một số hộ gia đình kinh doanh dịch vụ ăn uống, nghỉ trọ và bán lẻ hàng hóa, song nhóm này chiếm tỷ lệ ít và thu nhập chủ yếu là phụ thu, trong khi sản xuất nông nghiệp là chính.

II. Các hoạt động kinh tế chủ yếu của người La Chí.

1. Sản xuất nông nghiệp.

1.1. Làm ruộng.

Sản xuất nông nghiệp của người La Chí chủ yếu là làm ruộng trồng lúa nước. Qua tìm hiểu quá trình hình thành ruộng bậc thang trên địa bàn huyện Hoàng Su Phì và tại các hộ người dân tộc La Chí trên địa bàn tỉnh Hà Giang cho thấy cách đây trên dưới 200 năm người La Chí đã biết khai phá và canh tác lúa nước trên những ruộng bậc thang tại 2 huyện Hoàng Su Phì và Xín Mần - sớm hơn các dân tộc khác cùng địa bàn cư trú trên dưới 100 năm. Từ đó họ đã dần từ bỏ tập quán canh tác nương rẫy để định cư thành các làng bản. Bên cạnh đó, người La Chí còn giúp các dân tộc khác trên cùng địa bàn về kỹ thuật khai phá, chống thấm nước, chống sạt lở cho ruộng bậc thang.

Trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp của người La Chí thì cây lúa nước là loại cây trồng chủ yếu, chiếm tỷ lệ từ 70 - 77% trong tổng số các sản phẩm nông nghiệp, đồng thời là nguồn lương thực chính phục vụ nhu cầu đời sống hàng ngày. Song do đặc điểm về khí hậu và địa hình nên người La Chí chỉ cấy lúa một vụ, thời gian gieo cấy thường bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 6 âm lịch hàng năm và thu hoạch vào tháng 9 đến đầu tháng 10 âm lịch. Trước đây sau khi thu hoạch lúa xong thì người La Chí thường để đất hoang hóa đến tháng 4, tháng 5 năm (Âm lịch) sau thì mới cày cấy cho vụ mới. Song khoảng hơn 20 năm trở lại đây người La Chí đã biết trồng luân canh các loại cây hoa màu khác như ngô, đậu tương, đậu đỗ các loại và trồng bông lấy sợi dệt vải. Song chủ yếu là tự cung tự cấp để phục vụ đời sống mà chưa trở thành hàng hóa.

 

Do việc canh tác cây lúa một vụ, thời gian đành cho gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch lúa và các loại cây trồng khác mỗi năm chỉ chiếm khoảng từ 4 - 5 tháng, hầu hết thời gian còn lại trong năm là giai đoạn nông nhàn. Vì vậy nhu cầu giải quyết việc làm để tăng thu nhập cho người La Chí trong lúc nông nhàn đã và đang trở lên bức thiết.

Một điểm khác biệt trong tập quán canh tác nông nghiệp của dân tộc La Chí là họ biết tận dụng tối đa nguồn nước để phục vụ gieo trồng. Đối với các diện tích ruộng cấy lúa thuận tiện về nguồn nước thì sau khi thu hoạch họ sẽ tiến hành cày ải và tận dụng nước từ các khe suối hoặc mạch nước gần đó dẫn vào ruộng để ngâm nhằm chủ động được nước cho vụ sau, đồng thời tận dụng mặt nước ruộng để nuôi vịt. Các chân ruộng khác nếu không có nước thì họ trồng luân canh ngô và các loại hoa màu khác như đậu tương, rau xanh để cải thiện đời sống hàng ngày. Khác với các dân tộc khác cùng sinh sống trên địa bàn là chỉ mới biết sử dụng phân chuồng trong vài chục năm trở lại đây và đa số là phơi khô phân rồi đốt thành tro sau đó mới đem bón, ngược lại, người La Chí đã biết sử dụng phân chuồng cách đây hàng trăm năm và họ biết ủ phân cho hoai mục rồi mới đem bón nhằm diệt các loại hạt cỏ dại và các loại sâu bệnh khác có trong phân. Do vậy hầu hết năng suất cây trồng của người La Chí đều cao hơn so với các dân tộc khác canh tác trên cùng địa bàn. Một số loại cây trồng chính được người La Chí gieo trồng trên ruộng như sau:

+ Cây lúa nước.

- Vai trò và cơ cấu giống lúa.

Cây lúa là cây trồng chính và có vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế của người La Chí. Ngoài việc là cây lương thực chính, lúa là nguồn nguyên liệu quan trọng trong chế biến các loại thực phẩm, đồ uống trong đó có nhiều loại là đặc sản độc đáo của người La Chí như cốm nếp, rượu hoẵng, các loại bánh. Kết quả khảo sát vùng đồng bào dân tộc La Chí tại 2 huyện Hoàng Su Phì và Xín Mần tỉnh Hà Giang cũng như các ghi chép và các bài cúng trong nghi lễ Mở kho xin giống, lễ cúng cơm mới của các thầy cúng dân tộc La Chí cho thấy cách đây khoảng hơn 200 năm người La Chí đã biết làm ruộng để cấy lúa nước. Những năm trước đây do người dân tộc La Chí chủ yếu gieo cấy các loại giống địa phương nên năng suất không cao. Khoảng hai chục năm trở lại đây nhiều loại giống lúa lai mới phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng được đưa vào gieo trồng trong vùng đồng bào dân tộc vùng cao nói chung và đồng bào La Chí nói riêng như San ưu 63, Kim ưu 725, nhị ưu, HT1 với tỷ lệ trên 90% đã cho năng suất và sản lượng tăng mạnh so với trước, bình quân đạt trên 60 tạ/ha.

- Cách chọn đất.

Người La Chí có nhiều kinh nghiệm về khai phá và canh tác lúa nước trên ruộng bậc thang. Việc canh tác lúa nước đã giúp họ định cư thành các làng bản như hiện nay, đồng thời là biện pháp hiệu quả để chống xói mòn, rửa trôi đất. Trước kia do đất đai còn nhiều nên việc chọn nơi làm ruộng đối với người La Chí đòi hỏi nhiều yêu cầu hơn, nhất là việc tìm các vùng đất để khai phá ruộng phải được lựa chọn một cách cẩn thận. Khu vực đáp ứng đủ yêu cầu phải là nơi đất đai tơi xốp, màu mỡ, không có đá to. Độ dốc của đất không lớn, có khả năng tạo được mặt bằng ruộng có độ rộng, dài. Điều quan trọng nhất khi lựa chọn vùng đất để khai phá là trong khu vực hoặc gần đó phải có nguồn nước hoặc có thể đưa nước về ruộng được dễ dàng và không mất nhiều công sức. Hiện nay, do đất đai ngày một ít dần, những mảnh đất màu mỡ nhất cũng đã khai phá thành ruộng bậc thang nên việc lựa chọn vùng đất không đòi hỏi nhiều yêu cầu như trước đây. Đồng thời họ cũng tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu trong việc khai phá và canh tác nông nghiệp trên ruộng bậc thang để truyền lại cho đời sau. Cũng từ lý do đảm bảo thuận tiện cho việc canh tác nên hầu hết các ngôi nhà của người La Chí đều nằm sát hoặc ngay trên các thửa ruộng bậc thang nhằm giúp cho họ chăm sóc, thu hoạch lúa được dễ ràng, thuận tiện hơn. Tuy nhiên đến nay do diện tích ruộng ít, dân số đông nên họ ít có sự lựa chọn đất nên hầu hết các khoảng đất trống, có nước để canh tác thì họ đều tận dụng để khai phá thành ruộng.

- Quá trình khai phá ruộng.

Trước đây, việc khai phá ruộng chủ yếu là được thực hiện bằng sức người và sử dụng trâu làm sức kéo nên đây là công việc rất nặng nhọc. Để khai phá được một thửa ruộng đòi hỏi tốn rất nhiều công sức, nếu chỉ một gia đình làm thì sẽ rất lâu và vất vả hơn nên khi các gia đình có nhu cầu khai phá thêm ruộng mới thì họ sẽ tập hợp nhiều hộ gia đình cùng chung sức làm theo hình thức đổi công trong đó chủ yếu là do nam giới thực hiện.

Việc khai phá ruộng thường được các hộ gia đình dân tộc La Chí tiến hành vào tháng 1 và tháng 2 âm lịch do thời gian này đa số là nông nhàn, thuận tiện về thời tiết, khí hậu. Trước khi tiến hành khai phá ruộng người La Chí đặc biệt quan tâm tính toán kĩ lưỡng về độ cao thấp giữa các thửa ruộng, vị trí đặt các kênh dẫn nước, cách dẫn nước… để việc khai phá đỡ tốn sức, tốn thời gian sau đó mới khai phá ruộng và phải được bắt đầu từ nơi cao nhất xuống thấp với những dụng cụ thô sơ như cuốc, cuốc chim, bừa gỗ, dao dựa… Công việc đầu tiên là dùng dao quắm phát cỏ và các loại cây nhỏ rồi dọn sạch quang mặt đất, dùng cuốc đánh bật các gốc cây to, vần đá ra khỏi khu vực làm ruộng để kè bờ chống sạt lở cho ruộng, sau đó cuốc đất tạo mặt bằng. Trong quá trình san ruộng nếu gặp đá to không lăn đi được họ dùng cuốc đào một hố lớn, sâu ngay cạnh viên đá rồi vần viên đá để chôn xuống, sau đó lấp đất lên. Việc chôn đá này phải đảm bảo đủ độ sâu, sao cho khi cày lưỡi cày ko thể chạm đến. Khi đã có mặt bằng họ dùng bừa gỗ, là một tấm ván gỗ làm bàn trang cho hai người đi trước hoặc trâu kéo, người đi sau điều chỉnh để san đất sao cho phẳng đều mặt ruộng. Tùy vào địa hình và độ dốc của quả đồi mà độ cao và độ rộng của ruộng bậc thang được tạo ra cũng khác nhau. Khi đã có mặt bằng thì tiến hành đắp bờ rồi đưa nước vào ngâm chân ruộng. Căn cứ vào mực nước chảy, người La Chí sẽ tiếp tục san đất để tạo độ thăng bằng cho ruộng. Thông thường sau khi san ủi thì người La Chí sẽ bỏ hoang đất một năm, sang mùa vụ của năm sau họ mới tiến hành cày cấy để tạo độ màu mỡ cho ruộng.

Do đặc điểm địa hình canh tác chủ yếu trên các thửa ruộng bậc thang hoặc các diện tích nương trên các sườn núi có độ dốc lớn nên dụng cụ, phương tiện sản xuất hầu hết là thô sơ, lạc hậu như cuốc, xẻng, cày, bừa gỗ và dùng trâu hoặc bò làm sức kéo nên hiệu suất lao động thấp. Vài năm trở lại đây một số gia đình đã dùng máy cày bừa mini chạy bằng động cơ diezen nên phần nào đã tăng hiệu quả, năng suất lao động cho người dân

- Làm đất và gieo cấy.

Làm bờ ruộng là một trong những công việc quan trọng nhất trong một vụ gieo cấy của người La Chí. Trước khi làm bờ ruộng, vào tháng 3 âm lịch các hộ người La Chí đình tổ chức làm lễ mở kho xin giống, chỉ sau khi tổ chức xong lễ thức này thì các gia đình mới được tiến hành các hoạt động cấy lúa. Công việc đầu tiên của một vụ mới là làm bờ. Khi đó họ tận dụng tất cả các nguồn nước đưa vào ngâm chân ruộng, bờ ruộng chỉ được chỉnh sửa qua để giữ nước. Khác với các dân tộc khác, do địa bàn cư trú của họ hầu hết đều khô hạn nguồn nước ít nên ngay sau khi thu hoạch lúa xong, người La Chí đã tổ chức cày ải, sau đó đắp các rãnh nước và tận dụng các khe suối, mạch nước để dẫn vào tích trữ trên các thửa ruộng nhằm phục vụ cho vụ sau. Đến khoảng tháng 4 đầu tháng 5 âm lịch khi mùa mưa bắt đầu, lượng nước trữ trên ruộng nhiều hơn thì các gia đình tiến hành làm bờ để chuẩn bị bước vào mùa vụ mới. Trong quá trình làm bờ, các gia đình thường đổi công cho nhau để đảm bảo các thửa ruộng của mỗi hộ gia đình được hoàn thành trong thời gian ngắn, giúp cho việc cấy được thuận lợi và lúa sẽ chín đều.

Khi đắp bờ bà con lấy cuốc cào sạch cỏ sau đó lấy đất ngay trong ruộng đắp lên rồi dùng mặt sau của lưỡi cuốc vuốt cho tròn, ở thành ruộng thì dùng những chiếc xẻng cán dài đứng ở mép bờ bên trên nạo sạch cỏ, riêng đoạn thành bờ cao hơn mặt ruộng thì không làm sạch cỏ mà chỉ phát qua cho sạch nhằm giữ cho bờ có sự liên kết chắc chắn và không bị vỡ khi có mưa lớn hay nước chảy mạnh. Bờ ruộng của người La Chí thường nhỏ, chỉ rộng vừa một bàn chân, cao khoảng 15 cm nhằm tận dụng tối đa mặt bằng ruộng để gieo cấy. Sau khi hoàn thành việc làm bờ thì họ giữ nước ngập mặt ruộng để ngâm khoảng 20 - 30 ngày cho mục hết các cây cỏ sau đó mới cày, bừa khoảng 5 - 10 lần, cá biệt có ruộng phải cày bừa đến 17 - 18 lần nhằm chống thấm nước rồi bón lót phân chuồng sau đó mới tiến hành cấy.

- Gieo mạ.

Hàng năm, vào khoảng cuối tháng 4 đầu tháng 5 âm lịch, khi xuất hiện những cơn mưa đầu mùa thì các hộ gia đình dân tộc La Chí ngâm thóc giống và gieo mạ. Việc ngâm thóc giống thường tiến hành sau khi đắp bờ và cày bừa từ 1 - 2 lần để giữ nước và đảm bảo khả năng đủ nước để gieo cấy. Sau khi ngâm thóc giống từ 12 - 18 giờ trong nước tỷ lệ 3 sôi - 2 lạnh thì vớt thóc giống và ủ vào bao tải đồng thời thường xuyên tưới nước giữ ẩm. Thời gian ủ khoảng 2 ngày 2 đêm ngày đối với lúa thuần địa phương hoặc 2 ngày 1 đêm đối với lúa lai thì gieo mạ. 

Đất gieo mạ thường là đất nương có nền cứng, đất tơi xốp, có độ màu và ít đá, đủ độ ẩm để rễ cây mạ phát triển và có độ dốc vừa phải để không trôi hạt giống sau khi gieo, xung quanh có rãnh thoát nước. Việc gieo mạ trên đất nương vất vả hơn gieo dưới ruộng nhưng do cây mạ ở trên nương bộ rễ chậm phát triển, cây mạ bị háo nước khi cấy xuống gặp nước sẽ phát triển nhanh hơn, cây mọc khỏe hơn, đẻ nhánh nhiều nên năng suất cũng cao hơn mạ gieo dưới ruộng. Trước khi gieo mạ khoảng 3 - 5 ngày nương gieo được san phẳng và cào cho đất thật mịn, rồi mới reo hạt xuống, hạt reo xuống rồi lại phải tiếp tục cào phủ một lớp đất mỏng lên trên để mưa không làm trôi hạt đồng thời tránh bị chim, chuột đến ăn.

- Cấy lúa.

 Trước đây các gia đình dân tộc la Chí cấy giống lúa địa phương có thời gian sinh trưởng dài ngày thì thời gian từ khi gieo mạ đến khi cấy từ 25 - 30 ngày, hiện nay hầu hết các hộ gia đình gieo cấy giống lúa lai ngắn ngày thì thời gian từ khi gieo mạ đến khi cấy từ 18 - 22 ngày. Trong trường hợp hạn hán không đủ nước thì cây mạ không để quá 25 - 27 ngày, nếu quá thời gian trên thì mạ quá già sẽ cho năng suất thấp nên phải hủy bỏ để ngâm loạt giống khác.

Việc cấy lúa thường được tiến hành vào đầu hoặc giữa tháng 5 âm lịch, nếu năm nào hạn hán hoặc mưa muộn thì vụ cấy kéo dài đến cuối tháng 5 hoặc đầu tháng 6 khi trời đổ mưa để có đủ nước để cày cấy và duy trì sự sinh trưởng của cây lúa. Khi nhổ mạ phải nắm sát gốc, nhổ từng cụm nhỏ rồi dùng dây chuối hoặc lạt tre bó thành từng bó đem xuống ruộng cấy. Khi cấy mạ được ném đều ra khắp mặt ruộng rồi mới tiến hành cấy lúa.

Hiện nay, hầu hết các gia đình người La Chí vẫn giữ được tập quán đổi công nhau để vừa cày và cấy cho mỗi gia đình từ 3 - 5 ngày là xong. Trước khi cấy, tối hôm trước các hộ gia đình người La Chí bao giờ cũng phải tổ chức lễ cúng (Tẳng cá) tại gia đình. Lễ vật gồm thịt lợn, cá, thịt trâu, rượu hoẵng. Hôm sau thì các hộ trong thôn làng sẽ tập trung từ sáng sớm để giúp gia đình nhổ mạ, bừa lần cuối để sục bùn là làm phẳng mặt ruộng. Thông thường khi cấy ruộng các gia đình sẽ. Các thửa ruộng sẽ được cấy từ thửa trên xuống dưới để tận dụng nước và giữ lại được các chất dinh dưỡng cho các thửa ruộng. Mật độ cấy khoảng 25cm giữa các khóm. Sau khi cấy từ 1 - 2 ngày thì họ thả cá chép giống xuống ruộng nhằm tận dụng mặt nước ruộng để nuôi cá, đồng thời cá sẽ bắt sâu bọ, giúp cây lúa sinh trưởng và phát triển tốt.

- Chăm sóc và bảo vệ lúa.

Công việc chăm sóc và bảo vệ cây lúa diễn ra không thường xuyên. Sau khi cấy khoảng 40 ngày thì tiến hành làm cỏ và chỉ được làm một lần và dùng bằng tay. Khi thấy những cỏ to, cao mọc trong ruộng thì họ lội vào nhổ trực tiếp. Đến khi cây lúa đứng cái chuẩn bị trổ bông thì tiến hành phát cỏ bờ lần cuối.

Hầu hết các diện tích ruộng của người La Chí là ruộng bậc thang, cây lúa ít bị sâu, bệnh đặc biệt với những giống lúa địa phương giống khoẻ nên việc chống chọi với sâu bệnh rất tốt. Các loại sâu bệnh thường thấy ở cây lúa trên ruộng bậc thang là sâu cuốn lá, sâu đục thân và một số loại sâu ăn ngọn lúa. Hiện nay bên cạnh việc sử dụng những giống lúa lai các gia đình dân tộc La Chí cũng quen dần với việc phun thuốc hoá học bằng bình phun. Tuy nhiên chỉ khi nào cây lúa bị bệnh trên diện rộng thì họ mới phải dùng đến thuốc, nếu bị ít đồng bào thường chỉ bắt sâu bằng tay nhằm bảo vệ đàn cá chép được nuôi kết hợp trên ruộng lúa.

- Thu hoạch và bảo quản.

Trước kia, các cư dân trồng lúa nước vùng cao nói chung và người La Chí nói riêng chủ yếu cấy giống lúa thuần địa phương nên thời gian sinh trưởng của cây lúa kéo dài khoảng 4,5 tháng. Khoảng 20 năm trở lại đây tỷ lệ lúa lai cao sản được trồng đại trà thì thời gian sinh trưởng ngắn hơn. Tuỳ theo điều kiện khí hậu và độ chiếu sáng của từng năm mà thời gian từ khi cấy đến khi thu hoạch vào khoảng 100 -120 ngày.

Trước khi thu hoạch lúa khoảng 15 - 20 ngày, người La Chí tháo cạn nước để ruộng khô cho dễ gặt và thuận tiện cho việc vận chuyển, đồng thời thu hoạch cá chép ruộng được nuôi kết hợp trong ruộng lúa. Việc thu hoạch và đem thóc vào nhà của người La Chí chỉ được thực hiện sau khi tổ chức lễ cúng cơm mới bởi họ quan niệm rằng làm như vậy để tránh mất mùa trong các vụ sau. Trước đây, người La Chí thu hoạch lúa bằng cách dùng liềm cắt sát tận gốc rồi phơi tại ruộng từ 1 - 2 ngày cho khô, sau đó dùng tay đập bó lúa vào một chiếc máng bằng thân cây gỗ khoét rỗng hình chiếc thuyền, 2 bên có 2 mảnh phên liếp bằng tre gọi là thư pá dế lấy hạt. Hiện nay, hầu hết các hộ gia đình đã dùng máy tuốt đạp chân hoặc chạy bằng động cơ để tuốt hạt bằng máy ngay trên ruộng rồi đóng bao đem về bảo quản tại nhà. Đối với người La Chí, việc chở thóc từ ruộng về nhà trước đây đều do phụ nữ thực hiện bằng cách dùng gùi đan bằng tre bao tải đựng thóc rồi treo quai gùi hoặc một đoạn dây bằng vải từ sau lưng vòng qua đầu lên trán. Bởi họ quan niệm phụ nữ là mẹ lúa nên có trách nhiệm và vinh dự được đưa thóc về nhà và để tránh mất mùa trong các vụ sau.

Sau khi thu hoạch, rơm được đồng bào phơi ngay tại ruộng cho khô rồi đem về cất lên mái chuồng gia súc để dự trữ làm thức ăn cho trâu bò. Gốc dạ được để luôn tại ruộng cho tự phân huỷ làm màu cho đất. Sau khi thu hoạch xong thì tiến hành cày ải, nếu các thửa ruộng nào có mạch nước ngầm hoặc gần các khe suối thì sẽ trữ nước vào ruộng để chuẩn bị cho vụ sau.

+ Các loại hoa màu khác.

Sau khi thu hoạch xong lúa thì các hộ gia đình tiến hành cày ải và tận dụng các diện tích thiếu nước để trồng các loại hoa màu như rau cải, đỗ đậu, song diện tích không nhiều, chủ yếu là các thửa ruộng gần nhà để phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày, còn lại để hoang cho vụ sau được màu mỡ. Đối với các thửa ruộng thuận nước thì họ sẽ tận dụng tối đa các nguồn nước như nước mạch, nước từ các khe suối hoặc nước thải sinh hoạt để dẫn vào ruộng nhằm giữ nước cho vụ sau, đồng thời chăn thả các loại thủy cầm như ngan, vịt, ngỗng.

Khoảng  20 năm trở lại đây, các hộ gia đình đã biết tận dụng các diện tích đất ruộng để gieo trồng luân canh các loại hoa màu khác như cây ngô, đậu tương xuống các chân ruộng một vụ để tăng thêm thu nhập, tuy vậy nó đòi hỏi người dân phải đầu tư nhiều công sức để chăm sóc hơn, nhất là việc bón phân để tránh bạc màu, tăng độ phì nhiêu của đất cho vụ sau.

- Các lễ thức, nghi lễ liên quan đến chu kỳ mùa vụ lúa.

Người La Chí là một trong những dân tộc có quan niệm về đa thần, coi mọi vật đều có linh hồn, nhất là những cây cỏ, loài vật liên quan đến đời sống kinh tế xã hội của họ. Vì vậy họ đặc biệt quan tâm đến việc duy trì và tổ chức các nghi lễ, lễ thức thờ cúng, các nghi lễ, lễ thức này phản ánh những quan niệm về mùa vụ nhất là những yếu tố tác động liên quan đến quá trình hoạt động canh tác cũng như hiệu quả sản xuất gieo trồng.

* Lễ mở kho xin giống (Pai meu san): Là lễ thức được tất cả các gia đình người La Chí thực hiện trước khi làm đất chuẩn bị gieo cấy. Lễ thức này được tổ chức tại tất cả các hộ gia đình, thời gian thường vào đầu tháng ba âm lịch. Chỉ sau khi tổ chức lễ này thì các gia đình mới được tiến hành các hoạt động gieo cấy.

* Tết tháng 7 âm lịch (Cu ngùi): Tức là Tết uống rượu, đây là ngày tết quan trọng nhất trong một năm của người La Chí được tổ chức từ ngày 1 - 14 tháng 7 âm lịch hàng năm. Tết Cu cù tê thể hiện những yếu tố văn hóa thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng nguyên thủy, niềm tin vào thế giới thần linh với những biểu hiện đặc trưng của nền văn hoá sản xuất nông nghiệp của người La Chí.

* Lễ cúng mừng cơm mới (Cu nui): Được người La Chí tổ chức trước khi gặt lúa và đưa lúa về nhà. Chỉ sau khi cúng cơm mới thì các gia đình mới được đem thóc mới thu hoạch vào nhà và ăn cơm nấu từ gạo mới, đồng thời trước khi cúng cơm mới thì không được đốt rơm rạ vì họ cho rằng khi đó hồn lúa vẫn còn ở trên cây rơm cây rạ, nếu đốt thì năm sau sẽ bị mất mùa. Lễ này được tổ chức nhằm tạ ơn tổ tiên và thần lúa, thần gạo phù hộ cho gia đình mạnh khỏe, sản xuất được nhiều lúa gạo.

* Lễ đóng kho (Pai meu eu): Được tổ chức vào tháng 10 âm lịch, sau khi kết thúc toàn bộ một năm canh tác thu hoạch. Trong lễ này người La Chí mời thầy cúng đến nhà cúng để gửi hồn các loại cây trồng vào miếu thờ để Hoàng Vần Thùng coi giữ cho đến tháng 3 năm sau thì làm lễ mở kho để chuẩn bị cho một vụ gieo trồng mới.

1.2. Làm nương.

- Đặc điểm và thời gian khai phá nương.

Người La Chí cũng có nhiều kinh nghiệm về canh tác nương rẫy, nhất là việc chống rửa trôi bạc màu cho đất nương. Hầu hết các diện tích đất trống đều được họ tận dụng để làm nương trồng ngô, hoa màu và trồng bông dệt vải. Hàng năm, vào khoảng cuối tháng 2 đầu tháng 3 âm lịch là thời điểm người La Chí đi phát hoặc dọn dẹp nương dẫy để trồng các loại hoa màu như ngô, lạc, bông, đậu đỗ do thời gian này thời tiết khô hanh, cây cỏ nhanh khô nên việc khai phá, dọn dẹp thuận lợi  hơn.

Nương của người La Chí hầu hết đều có hướng quay về phía tây hoặc phía đông để đón được nhiều ánh nắng mặt trời nhằm tăng độ chiếu sáng cho cây trồng, độ dốc bình quân trên 25o, các khu vực dốc hơn thì họ ít sử dụng do dễ xói mòn, bạc màu và sạt lở. Đối với các diện tích đất rừng có các loại cây vầu, trúc hoặc đồi cỏ tranh thì họ cũng ít khai phá do bộ rễ các loại cây này mọc ngầm dưới mặt đất, khó diệt nên ảnh hưởng không tốt đến quá trình chăm sóc.

- Các bước tiến hành khai phá, làm nương.

Đối với các diện tích nương mới thì trước khi khai phá phải làm lễ cúng thổ địa (Ngui ui), sau đó dùng búa, rìu để chặt những cây to hoặc dùng dao phát có cán dài (Pù) để phát cỏ và theo hướng từ dưới lên, sau đó dàn mỏng và đều trên mặt đất rồi phơi từ 10 - 15 ngày sau đó mới đốt. Để tránh cho ngọn lửa lây lan sang các vạt rừng xung quanh, họ dùng cuốc hoặc cào để thu dọn toàn bộ cỏ rác xung quanh bờ vào phía giữa đám nương thành một khoảng đất trống có chiều rộng từ 2 - 5m tùy theo lượng cỏ cây nhiều hay ít, sau đó mới tiến hành đốt nương. Thời gian đốt nương thường được tiến hành vào buổi chiều khi tắt nắng là lúc cây cỏ có độ khô cao nhất hoặc vào những ngày ít nắng để dễ quan sát và có thể phát hiện những chỗ cháy lan nhằm kịp thời dập lửa khi ngọn lửa cháy lan ra ngoài đám nương. Nếu không may lán bị cháy thì phải làm lễ cúng thổ địa.

Đối với các khoảng nương đã được khai phá từ các vụ trước, ít cây to thì họ dùng những chiếc cuốc (So) để sới cỏ theo hướng từ dưới lên trên, sới đến đâu dùng chân đá tung đất bám ở gốc cỏ cho nhanh khô và phơi nắng từ 5 - 7 ngày, sau đó dùng cuốc để cuốc toàn bộ mặt nương với độ sâu từ 25 - 20 cm. Những vạt nương ít dốc thì họ dùng trâu và cái cày (Thiu) và bừa bằng tre (Pờ) để làm đất.

Cùng với việc khai phá nương, họ sẽ làm một chiếc lán bằng gỗ, tre, mái lợp bằng cỏ tranh ở sát với nương làm chỗ nghỉ và để đồ dùng, vật tư làm nương và phân bón.

- Gieo trồng.

Sau khi cuốc hoặc cày xong đám nương, họ tiếp tục để từ 10 - 15 ngày cho đất bớt hăng và diệt hết số cây cỏ còn sót lại, sau đó mới gieo trồng. Đối với những vạt nương mới khai phá thì trong vụ đầu họ không cày cuốc mà chỉ lấy cuốc đào hố rồi tra hạt và lấp đất lại nhằm giữ lại phần tro màu mỡ và hạn chế rửa trôi cho đất. Đối với các loại rau màu có hạt nhỏ, bộ rễ nông như rau cải, kê… thì sau khi đốt và phát các vạt nương mới họ không cày bừa mà gieo trực tiếp xuống nền nương để tận dụng lớp đất mùn màu mỡ trên bề mặt và tránh rửa trôi, bạc màu đất.

Để hạn chế việc rửa trôi, chống bạc màu cho đất, người La Chí thường tận dụng những viên đá được nhặt ra trong quá trình dọn dẹp bề mặt nương rẫy để xếp thành những bờ đá xung quanh các vạt nương và tạo những rãnh nhỏ để thoát nước, các hạt giống như ngô, đậu, đỗ… được gieo vào các hố có đường kính từ 25 - 30cm, sâu từ 7 - 10cm, các cây trồng khác như dong giềng, sắn thì khoảng cách thưa hơn, từ 70cm  -1 m. Các hố được tiến hành từ trên xuống dưới, mỗi hố được bón một vốc phân chuồng hoặc tro bếp và phủ một lớp đất mỏng rồi gieo hạt lên trên. Quá trình trồng được thực hiện bằng cách cuốc hố đến đâu tra hạt đến đấy để tránh bị xô lấp. Hầu hết các khoảng nương đều được trồng xen canh, luân canh các loại cây rễ có nốt sần như cây lạc, đậu tương để tạo độ màu mỡ cho đất.

Trong quá trình gieo trồng các loại hoa màu trên nương, mặc dù về thời gian chủ yếu phụ thuộc vào mùa vụ, song người La Chí tránh không gieo vào những ngày mưa hoặc những ngày nắng to và thường gieo hạt vào buổi tối để tận dụng độ ẩm của sương nhằm giúp cho hạt dễ nảy mầm.

- Chăm sóc.

Trước đây, do đất đai còn màu mỡ, chưa bạc màu và do tập quán du canh du cư nên mỗi khoảng nương chỉ canh tác gieo trồng từ 2 - 3 vụ sau đó bỏ hoang nên trong quá trình gieo trồng các loại cây trồng trên nương hầu hết người La Chí đều không sử dụng phân bón và ít chăm sóc, khi có cỏ dại mọc thì họ dùng tay để nhổ hoặc dùng cuốc để xới và phát các cây cỏ ở ven nương. Ngày nay do tình trạng du canh du cư đã chấm dứt, các hộ gia đình đã định cư thành làng bản nên đất đai hạn chế, các khoảng nương được canh tác liên tục trong tất cả các năm. Vì vậy họ đã đầu tư công sức, phân bón nhiều hơn, nhất là các loại ngũ cốc như ngô, đậu đỗ, bầu bí… sau khi gieo trồng thì tiếp tục làm cỏ, vun gốc và bón phân, đối với lúa nương thì chỉ làm cỏ bón phân mà không vun gốc. Ngoài việc bón lót phân trong khi gieo trồng thì họ đã biết sử dụng phân hóa học như đạm, lân, kali để bón thúc, giúp cây trồng sinh trưởng và cho năng suất cao.

- Thu hoạch.

Tùy theo đặc điểm của từng loại cây trồng mà người La Chí có cách thu hoạch khác nhau. Ví dụ đối với cây lúa nương thì họ dùng cái nhíp (Khà pà) đeo vào ngón tay để ngắt bông rồi túm thành từng bó. Cây ngô thì họ để trên nương đến khi khô bẹ thì bẻ lấy bắp và bóc từ 2 - 3 bẹ ngoài cùng rồi túm từ 7 - 10 bắp thành 1 bó. Cây đậu tương thì nhổ cả gốc rễ và bó thành bó to khoảng 7 - 10 cm. Các loại cây này sau khi đem về nhà sẽ được treo ngược lên xà nhà hoặc dưới mái hiên cho khô để bảo quản nhằm tránh mối mọt và dùng đến đâu sẽ vò hoặc bóc đến đấy để lấy hạt. Các loại đỗ, đậu khác thì được hái những quả già, quả chín rồi đem về phơi và vò, tách lấy hạt đựng vào ống tre hoặc chum, vại để bảo quản. Cây bông thì hái lấy ruột bông còn cây để lại nương. Đối với tất cả các loại hạt để làm giống thì được phơi thật khô, sau đó để nguội rồi đựng vào chum, vại, ống tre, phía trên phủ một lớp tro bếp rây nhỏ để chống mối mọt.

- Các nghi lễ liên quan đến canh tác nương rẫy.

Thông thường, trước khi khai phá nương thì người La Chí tổ chức lễ cúng Thổ địa. Nếu sau khi khai phá mà gặp điều không may mắn như ốm đau, bệnh tật hoặc mất mùa thì gia đình có nương phải nhờ thầy cúng giúp xem bói để tìm ra nguyên nhân và xác định loại ma gì để có lễ vật tương ứng rồi mới cúng tế.

- Các loại cây trồng chính trên nương và mùa vụ.

+ Cây ngô.

Ngô là loại cây đứng vị trí thứ hai trong cơ cấu giống cây trồng của người La Chí. Trước đây, cây ngô chủ yếu là giống ngô địa phương được trồng trên đất nương vào vụ hè - thu nên năng suất thấp, thời gian sinh trưởng kéo dài. Thời gian gần đây cây ngô đã được gieo trồng cả 2 vụ là vụ đông - xuân và xuân - hè, đồng thời nhiều diện tích ruộng không có nước đã được bà con tận dụng để đưa cây ngô xuống gieo trồng vào vụ đông - xuân nhằm tăng hệ số sử dụng đất, trong đó cơ cấu giống mới chủ yếu là giống ngô lai như Bioseed, Q2, CP 888, CP999 cho năng suất bình quân trên 70 tạ/ha. Khác với các dân tộc khác cùng sinh sống ở khu vực vùng núi cao, do địa bàn hẹp, đất đai ít nên người La Chí không canh tác nương rẫy theo hướng quảng canh và họ tận dụng tối đa các diện tích nương rẫy để canh tác.

Khoảng hơn 20 năm trở lại đây, các hộ gia đình dân tộc La Chí đã đưa cây ngô xuống trồng tại các chân ruộng cấy lúa một vụ nhằm tăng hệ số sử dụng đất. Để chuẩn bị cho việc gieo trồng, ngay sau khi thu hoạch xong lúa vụ mùa thì tiến hành cày ải đất. Sau tết nguyên đán, thường vào khoảng tháng 2 âm lịch thì tiến hành cày bừa và gieo hạt theo hàng cách hàng khoảng 50 - 60 cm, gốc cách gốc khoảng 40 50 cm tùy theo chỗ đất tốt hoặc xấu, bình quân khoảng 22 kg giống/ha.

Sau khi gieo trồng đến khi cây ngô có từ 5 - 7 lá thì tiến hành làm cỏ và vun đất vào xung quanh gốc ngô tạo thành mũ đất cao khoảng 15cm. Khi bắp ngô già họ tiếp tục để tại nương hoặc ruộng, đến khi vỏ (bẹ ngô) và thân cây khô kiệt thì thu hoạch và lột từ 2 - 3 bẹ phía ngoài cùng để buộc thành túm và treo lên xà nhà hoặc những cây sào dưới mái hiên để bảo quản, khi cần sử dụng đến đâu thì bóc bẹ đến đó để tách hạt nhằm tránh sâu bọ, chim chuột phá hoại.

+ Cây đậu tương.

Đậu tương là một trong những loại cây trồng quan trọng cung cấp protein trong bữa ăn hàng ngày của người La Chí và được các gia đình. Cây đậu tương chủ yếu được trồng trên nương với các giống DT 84, DT 95, năng suất bình quân đạt từ 14 - 16 tạ/ha. Thời vụ gieo trồng đậu tương trên nương vụ xuân từ tháng 1 đến tháng 2 âm lịch, thu hoạch từ tháng 5 đến tháng 6 âm lịch. Vụ hè thu gieo trồng từ đầu tháng đến 20 tháng 6 âm lịch hàng năm, thu hoạch từ đầu tháng 9 đến giữa tháng 9 âm lịch hàng năm.

Trước khi trồng đậu tương khoảng 10 - 15 ngày thì các gia đình tiến hành làm đất bằng cách cày bừa hoặc dùng cuốc để xới cỏ sau đò dùng cuốc để cuốc toàn bộ mặt nương và đập cho tơi đất, sau đó mới tiến hành trồng. Cây đậu tương trên nương được trồng theo cách sau khi làm tơi đất sẽ cuốc hố từ trên xuống dưới với diện tích hố cách hố từ 40 - 45cm, hố có độ sâu từ 7 - 10 cm để giữ đất màu và được bón lót bằng phân chuồng hoặc tro bếp, phân gia súc đốt thành tro. Khi thu hoạch đậu tương, người La Chí thường nhổ cả gốc để dễ buộc, sau đó treo lên xà nhà hoặc dưới mái hiên để bảo quản tránh mối mọt và sử dụng dần.

+ Cây rau.

Hầu hết các hộ gia đình người La Chí đều trồng các loại rau trên nương để phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. Các giống rau chủ yếu gồm: Rau cải xanh, cải củ, bí đỏ, dưa chuột, đậu cô ve, đậu đũa. Các loại rau này được trồng xen canh với ngô hoặc trồng rau cải luân canh vào vụ đông.

Nếu trồng xen canh thì sau khi trồng ngô họ gieo luôn hạt rau cải xuống nương để cây mọc và phát triển cùng với cây ngô. Sau khoảng 30 - 35 ngày thì thu hoạch rau cải bằng cách nhổ cả gốc, dùng đến đâu nhổ đến đó. Đối với các loại cây leo như dưa chuột, bí đỏ, đậu đũa, đậu cô ve thì cùng với việc cuốc hố trồng ngô họ đào luôn hố trồng, kích thước hố rộng khoảng 50 - 70 cm, sâu khoảng 20cm, khoảng cách mỗi hố cách nhau từ 3 - 4 đối với dưa chuột và 8 - 10m đối với bí đỏ. Mỗi hố trồng từ 3 - 7 hạt giống. Sau khi mọc, đối với dây bí họ để dây bò trên mặt đất, còn dưa chuột, đậu  cô ve, đậu đũa thì leo lên cây ngô. Sau khi thu hoạch ngô thì các loại cây này tiếp tục phát triển. Các loại đậu đỗ được thu hái quả non, cây dưa chuột khi ra quả từ 7 - 10 ngày thì được thu hái sử dụng, một số quả già thì để làm giống cho vụ sau. Cây bí sau khoảng 2 tháng thì cho ngọn, lá non và ra quả. Đa số người La Chí hái ngọn và quả bí non để dùng trong bữa ăn hàng ngày, một số quả thì để già tại ruộng, đến khoảng tháng 9 - 10 thì thu hái về nhà dự trữ bảo quản từ 2 - 3 tháng bằng cách để dưới gầm giường hoặc góc bếp để dùng dần làm thức ăn hoặc chăn nuôi.

Các loại rau cải nếu trồng luân canh thì vào khoảng cuối tháng 7, đầu tháng 8 âm lịch sẽ tiến hành làm đất để trồng cải củ và giữa tháng 8, đầu tháng 9 sẽ tiến hành làm đất trồng cải xanh. Nếu là nương cũ thì sau khi làm đất tơi xốp thì gieo thẳng hạt xuống đất rồi quãi một lớp tro mỏng lên trên để chống mối mọt và kiến. Nếu là nương mới khai phá vụ đầu thì sau khi đốt nương từ 1 - 2 ngày sẽ gieo thẳng hạt xuống đất mà không phải cày cuốc để tránh rửa trôi đất.

Các loại bầu, bí nếu trồng luân canh thì không cày bừa hoặc cuốc mà chỉ đào hố để trồng, các loại đỗ, đậu thì cày, bừa hoặc dùng cuốc để làm tơi đất rồi trồng như trồng xen canh nhưng mật độ dày hơn (Dưa chuột khóm cách khóm từ 60 - 70 cm, hàng cách hàng từ 1m - 1,2m, đậu co ve, đậu đũa khóm cách khóm từ 30 - 40 cm, hàng cách hàng từ 60 - 70 cm, đậu hà lan khóm cách khóm 40 - 50 cm). Trong các loại rau đậu trừ đậu cô ve thì cắm các loại cây như tay tre, cây đót hoặc cây tre, vầu chẻ nhỏ để làm giáo cho cây đậu leo lên, còn lại đều để bò tự nhiên dưới nền đất nhằm giúp bộ rễ phát triển theo các đốt để cây thu được nhiều chất dinh dưỡng hơn.

Đối với trồng luân canh, các công đoạn như chăm sóc, thu hái và bảo quản cũng giống như trồng luân canh với các loại hoa màu khác.

- Cây dong giềng.

Cây dong giềng là loại cây trồng quen thuộc của hầu hết các hộ gia đình người La Chí bởi đặc tính chịu hạn, năng suất cao, dễ trồng và được sử dụng cho cả con người và chăn nuôi gia súc, gia cầm. Dong riềng được người La Chí trồng trên các diện tích đất nương khô hạn, thiếu nước hoặc tận dụng các vạt đất hẹp như ven đường, bờ nương có độ dốc cao để trồng. Thời vụ trồng thường bắt đầu từ giữa tháng 2 đến cuối tháng 3 hàng năm. Từ cuối tháng 9 đến hết tháng 10 khi khóm dong riềng lụi, khô cây héo lá là thời điểm thu hoạch. Khi đó người La Chí dùng dao hoặc liềm cắt thân cây đến sát gốc rồi dùng cuốc bổ xung quanh gốc và lật cả khóm củ lên, sau đó úp ngược xuống đất thành đống từ 1 - 2 tuần để củ róc nước và tích trữ tinh bột. Nếu không có nhu cầu sử dụng ngay hoặc cần đất để canh tác các loại cây mới thì họ để luôn trong đất để bảo quản và sử dụng dần. Khi sử dụng họ cắt bỏ rễ, rửa sạch rồi cho vào cối giã và lọc để lấy tinh bột hoặc thái lát, nấu chín làm thức ăn gia súc hoặc nấu rượu. Riêng củ non thì để lại làm giống cho vụ sau.

- Cây sắn.

Cây sắn là loại cây hoa màu truyền thống, được người La Chí trồng phổ biến để độn với gạo nấu cơm làm thức ăn, nấu rượu hoặc chăn nuôi gia súc, gia cầm. Theo lời các cụ già kể lại, cũng từ lý do xưa kia khu vực các xã Bản Máy, Bản Phùng của huyện Hoàng Su Phì và xã Bản Díu, Nàn Xỉn của huyện Xín Mần là địa bàn cư trú chủ yếu của người La Chí và họ trồng rất nhiều sắn, từ đó có tên gọi là tổng Man May - tức là cây sắn. Về sau tên gọi này được các dân tộc khác trên địa bàn gọi là Bản Máy như ngày nay.

Cây sắn được người La Chí trồng trên những khoảng nương mà các loại cây trồng khác khó phát triển bởi độ dốc lớn hay khô hạn. Thời vụ trồng sắn thường bắt đầu từ tháng giêng đến hết tháng 2 âm lịch hàng năm. Trước khi trồng khoảng 15 - 20 ngày thì tiến hành phát hoặc đốt nương và phơi đều trên mặt đất đến khi cỏ khô thì đốt sau đó mới tiến hành trồng.

Để trồng sắn, họ lấy phần cây sắn của năm trước trừ đoạn cách gốc khoảng 50 - 60 cm để đảm bảo có mắt chồi khỏe, sinh trưởng mạnh rồi chặt thành từng đoạn hom dài từ 10 - 15cm, mỗi đoạn có từ 3 - 5 mắt rồi chấm hai đầu xuống tro bếp để chống mối. Khi trồng, họ lấy cuốc bổ mặt nương thành hố theo hướng từ trên xuống dưới, hố có chiều sâu từ 10 - 165 cm, chiều rộng từ 20 - 25 cm, bổ đến đâu trồng đến đó, mỗi hố cách nhau từ 70 - 80cm. Hom sắn được vùi sâu dưới mặt đất từ 7 - 10 cm và đặt dọc theo hướng dốc của nương, đầu phía gốc của hom sắn quay xuống phía dưới nhằm giúp cho bộ rễ và củ phát triển về phía dưới chân dốc để khi thu hoạch sẽ dễ dàng hơn.

Sau khi trồng từ 3 - 5 tháng họ tiến hành nhổ cỏ xung quanh gốc sắn rồi để cây tự phát triển. Thường thì họ để đến năm thứ 2 mới thu hoạch, khi đó củ sắn cho năng suất cao nhất mà không để sang năm thứ 3 bởi khi đó củ sắn sẽ xốp, ít tinh bột.

+ Cây khoai sọ.

Khoai sọ là loại cây trồng phổ biến của hầu hết các hộ gia đình dân tộc La Chí. Là loại cây ưa ánh sáng nên khoai sọ chủ yếu được trồng riêng từng khoảng trên nương. Vào tháng giêng âm lịch hàng năm người La Chí tiến hành cày nương hoặc dùng cuốc để cuốc và đập cho tơi đất, sau đó đào thành những hố có đường kính từ 40 - 50cm, sâu từ 15 - 20cm, hố cách hố khoảng 70 +- 80 cm, mỗi hố bỏ một vốc phân chuồng rồi phủ lên một lớp đất bột sau đó mới trồng mỗi hố từ một đến 2 củ giống.

Sau khi trồng khoảng 2 - 3 tháng thì tiến hành sới cỏ và vun đất vào gốc rồi cứ để cây khoai mọc tự nhiên. Đến cuối tháng 9, đầu tháng 10 khi lá và thân cây lụi tàn thì thu hoạch bằng cách dùng cuốc bổ xung quanh gốc để đào cả khóm đựng vào gùi đem về nhà bảo quản dưới gầm giường, góc bếp, nếu chưa cần đất cho vụ sau hoặc không sử dụng hết thì họ để khoai ngay trên nương, dùng đến đâu thì thu hoạch đến đó, nhưng thời gian không quá tháng giêng âm lịch vì khi đó khoai sẽ lên mầm làm giảm chất lượng củ.

+ Cây lạc.

Cây lạc được các hộ gia đình người La Chí gieo trồng làm thực phẩm phục vụ nhu cầu đời sống hàng ngày. Để trồng lạc, họ thường chọn những vạt nương ít dốc, đất pha cát, sau đó cày, bừa hoặc cuốc thật kỹ cho tơi đất để bộ rễ phát triển. Đối với những diện tích nương ít dốc thì rạch thành luống, khoảng cách luống cách nhau từ 40 - 50 cm, nếu đất quá dốc thì dùng cuốc bổ thành hố từ trên xuống dưới, khoảng cách hố cách nhau khoảng 40 cm. Sau khi rạch luống hoặc bổ hố thì bón lót bằng phân chuồng sau đó lấp một ít đất bột rồi gieo hạt với khoảng cách từ 25 - 30 cm và lấp đất lên.

Nếu là giống lạc địa phương dài ngày thì sau khi gieo hạt thì khoảng 40 - 50 ngày thì sới cỏ và làm tơi đất để cây lạc bò trên mặt đất và đâm tia xuống đất để tạo củ tại các mắt dọc thân cây. Nếu là giống lạc ngắn ngày thì sau khoảng 30 - 35 ngày khi cây lạc ra hoa và héo thành tia thì tiến hành vun đất vào gốc.

Sau khoảng 120 ngày đối với giống lạc địa phương hoặc 90 ngày đối với lạc giống mới thì họ thu hoạch bằng cách dùng tay nhổ cả khóm, sau đó cắt bỏ phần thân lá để lại trên nương cho tốt đất, còn lại phần thân và gốc có củ thì buộc thành túm rồi đựng vào gùi đem về treo trước hiên hoặc đầu hồi nhà để bảo quản, sử dụng đến đâu thì vặt củ và bóc đến đó.

Người La Chí thường dùng hạt lạc để rang hoặc giã nhỏ để nấu canh kèm với các loại rau quả khác như mướp, bí... Một số thì giã nhỏ và xào với hành.

 + Cây bông.

Người La Chí là một trong số ít dân tộc còn giữ được nghề trồng bông dệt vải. Tại xã Bản Phùng huyện Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang họ thường dành những khoảng nương tốt nhất để trồng bông. Ngoài ra, các hộ gia đình dân tộc La Chí còn đến các thôn, xã lân cận để mượn các khoảng đất trống của các dân tộc khác để cải tạo làm nương trồng bông.

Là loại cây chịu được khô hạn nên cây bông được trồng vào tháng 12 đến giữa tháng giêng âm lịch hàng năm trên các diện tích nương ít nước hoặc cằn cỗi. Hạt bông được người La Chí để giống từ vụ trước trong quá trình tách hạt bằng máy quay tay và đựng vào ống tre hoặc chai, lọ. Phía trên phủ một lớp tro bếp để chống mối mọt. Trước khi trồng, họ dùng cuốc hoặc cày, bừa làm tơi đất, sau đó gieo hạt bằng phương pháp gieo xạ. Sau khoảng 3 tháng khi quả bông chín, các múi quả nở bung thì thu hái phần bông và để lại cây trên nương cho tốt đất. Bông sau đó được đem về nhà để tách hạt, bật cho tơi sợivà dùng tay vê sợi bông xung quanh một chiếc đũa làm cốt để cuốn thành những cuốn hình con tằm có đường kính từ 1,5 - 2cm, dài từ 25 - 30cm và đựng bao bao tải để bảo quản, khi có điều kiện về thời gian thì họ se các cuốn bông thành sợi để dệt vải.

+ Cây chàm.

Cây chàm là loại cây được hầu hết các dân tộc của huyện Hoàng Su Phì trong đó có người La Chí dùng để nhuộm vải. Cây chàm có 2 loại là loại lá to và loại lá nhỏ. Trong đó loại chàm lá to là loài cây ưa nước nên người La Chí thường trồng cây chàm trên những đám nương màu mỡ nhất, có độ ẩm cao hoặc tận dụng những vạt đất ở khe suối để trồng.

Cây chàm được trồng bằng hạt. Hạt chàm được để giống bằng cách khi thu hoạch sẽ chừa lại những đám cây tốt của vụ trước, đến khoảng tháng 4 âm lịch khi hạt già thì thu hoạch và phơi khô rồi đựng vào ống tre hoặc chum, vại để bảo quản.

Cây chàm thường được trồng vào khoảng tháng 10 - 11 âm lịch. Đối với loại chàm lá to, trước khi trồng phải ươm giống bằng cách ngâm vào nước từ 5 - 7 giờ, sau đó gieo hạt vào một khoảng đất đã chuẩn bị sẵn như gieo mạ, đồng thời dùng cây đót hoặc cây chít để lợp mái tạo bóng râm ngăn ánh sáng. Đến khi cây chàm cao từ 20 -25 cm thì nhổ ra trồng trên nền đất nương đã được cày cuốc cho tơi xốp. Đối với giống chàm lá nhỏ thì sau khi cày bừa hoặc cuốc làm tơi xốp đất thì gieo thẳng hạt giống xuống mặt nương.

Sau khi gieo trồng khoảng 3 tháng, khi cây chàm ra hoa thì thì thu hái bằng cách nhổ cả gốc hoặc dùng liềm cắt sát gốc, sau đó ngâm vào bể hoặc thùng gỗ chứa nước để nhựa chàm tan vào nước. Sau đó dùng vôi bột pha vào nước rồi khuấy kỹ cho nhựa chàm bám vào vôi và lắng đọng xuống đáy để lọc lấy cao chàm. Cao chàm sau khi cô đặc được đựng vào bồ, xô, chậu để bảo quản và dùng quanh năm.

Ngoài các loại cây trồng chính nêu trên được người La Chí gieo trồng trên đất nương thì họ còn trồng một số các loại cây hoa màu khác như đậu xanh, cà chua... song số lượng không nhiều và chủ yếu là tự cung tự cấp để phục vụ đời sống mà chưa trở thành hàng hóa.

2. Chăn nuôi.

Chăn nuôi là một trong những hoạt động sản xuất kinh tế chủ yếu của dân tộc La Chí, bởi đây là nguồn sức kéo phục vụ sản xuất nông nghiệp và là nguồn cung cấp thực phẩm quan trọng phục vụ đời sống. Chính vì vậy, hoạt động chăn nuôi luôn gắn chặt với đời sống kinh tế, văn hóa và tín ngưỡng của dân tộc La Chí. Tuy nhiên, hoạt động chăn nuôi của người La Chí hầu hết là quy mô nhỏ, mang tính tự cung tự cấp. Đối với các loại gia súc như trâu, bò, lợn trước đây hầu hết là nuôi theo hình thức chăn thả tự nhiên, nhưng khoảng hơn 10 năm trở lại đây các hộ gia đình người La Chí đã biết tận dụng những khoảng đất trống để trồng cỏ và chuyển từ hình thức chăn thả tự nhiên sang chăn nuôi nhốt. Vì vậy đã giúp bảo vệ được đàn gia súc trong những ngày đông giá rét.

Vật nuôi của người La Chí chủ yếu gồm những loại sau:

- Trâu (Co).

Trâu là loại vật nuôi quan trọng nhất, đồng thời cũng là tài sản lớn nhất của người La Chí. Bình quân mỗi nhà phải có ít nhất từ 1 - 2 con để làm sức kéo, những nhà khá giả thì có từ 5 - 7 con và hầu hết là do đàn trâu của gia đình sinh sản và phát triển thành đàn. Trong mỗi hộ gia đình dân tộc La Chí thường có một đôi trâu gồm trâu đực và trâu cái để vừa phục vụ cày kéo vừa để sinh sản. Đối với những hộ mới tách hộ thì được bố mẹ cho một trâu cái để làm giống và cày kéo.

Do hầu hết các gia đình người La Chí đều ở nhà sàn được xây dựng ngay trên các thửa ruộng, diện tích dành cho chăn nuôi rất hẹp nên trâu được nuôi dưới gầm sàn, một số gia đình có điều kiện hơn về đất thì làm chuồng riêng, sát với khu vực nhà ở để dễ trông coi bảo vệ và tận dụng được nguồn phân để bón ruộng. Trâu của người La Chí được chăn thả tự do theo đàn trên các bãi cỏ hoặc sườn đồi,đến cuối buổi chiều mới dắt về chuồng hoặc gầm nhà.

Là nguồn sức kéo chủ lực phục vụ sản xuất nông nghiệp nên người La Chí rất coi trọng trâu cũng như các sản phẩm từ con trâu như thịt, da, sừng trâu... đều được người La Chí sử dụng làm món ăn và đồ cúng tế trong các dịp lễ tết, nghi lễ, cưới hỏi, trong đó món thịt, gân và lòng trâu được dùng để nấu thắng cố hoặc xào, xương trâu để nấu món canh với rau, củ quả, một phần da trâu được nấu thắng cố cùng với thịt, gân và lòng, còn lại được cắt thành miếng vuông như bàn tay và cho vào bếp đốt đến khi phồng rộp thì xâu vào dây lạt thành từng chùm và treo lên gác bếp để bảo quản, khi cần chế biến thì đem luộc trong nước từ 2 - 3 giờ, sau đó rửa sạch, thái nhỏ để xào với măng chua, cà chua và hành tỏi hoặc đem nướng trên than hồng cho giòn như phồng tôm để uống rượu. Bên cạnh đó, một số hộ gia đình còn dùng thịt trâu loại ngon thái thành miếng nhỏ và dài, ướp gia vị gồm: Hạt tiêu rừng, tỏi, ớt, muối... để chế biến thành món thịt trâu khô hun khói rất nổi tiếng được mọi người cả trong và ngoài cộng đồng người La Chí ưa thích.

Hiện nay, do máy móc, dụng cụ sản xuất nông nghiệp phát triển mạnh nên nhu cầu về sức kéo đối với trâu đã giảm mạnh so với trước. Tuy nhiên con trâu vẫn là tài sản quan trọng và lớn nhất, là tiêu chí đánh giá mức độ giàu nghèo trong cộng đồng người La Chí. Vì vậy đàn trâu vẫn được các hộ gia đình đầu tư chăm sóc, mở rộng đàn và có xu hướng tăng trưởng.

- Ngựa (Ú).

Ngựa là loài vật nuôi được người La Chí sử dụng để vận chuyển hàng hóa và làm phương tiện di chuyển. Bình quân mỗi nhà nuôi từ 1 - 2 con. Ngựa thường được người La Chí nuôi trong chiếc chuồng nhỏ dưới gầm sàn hoặc sát với đầu hồi nhà. Để đảm bảo khả năng vận chuyển, chuồng ngựa thường hẹp để giữ không cho ngựa nằm nhằm giữ cho bụng không phát triển. Cương ngựa được buộc cao để mõm vừa tới máng cỏ để ngựa ăn uống.

Khác với trâu là loài vật được chăn thả tự do, thức ăn của ngựa thường là cỏ được xen nhỏ bằng dao thái và trộn với một lượng nhỏ ngũ cốc như thóc, ngô, đậu tương, sau đó đổ vào máng cho ngựa ăn. Vì quy trình nuôi ngựa tương đối phức tạp nên các gia đình dân tộc La Chí thường nuôi không nhiều mà chỉ đủ để đáp ứng nhu cầu vận chuyển và đi lại cho gia đình. Nếu trong gia đình có ngựa sinh sản thì khi ngựa được 1 tuổi họ sẽ đem bán và chỉ giữ lại nuôi từ 1 - 2 con, rất ít nhà nuôi từ 3 con trở lên. Khi ngựa ốm hoặc bệnh tật thì mới mổ làm thực phẩm, chủ yếu là chế biến thành món thắng cố ngựa truyền thống hoặc xào gừng, tỏi, ớt trong bữa ăn hàng ngày.

Ngày nay, do đường xá giao thông đi lại thuận tiện, hầu hết các gia đình đã mua được xe máy làm phương tiện vận chuyển nên trong cộng đồng người La Chí rất ít gia đình còn nuôi ngựa.

- Bò (Mò).

Cùng với con trâu, bò được người La Chí nuôi để làm sức kéo và cung cấp thực phẩm, nhất là trong các dịp lễ tết, cúng tế lớn có nhiều người tham gia. Giống như con trâu, ban ngày bò được nuôi thả tự do, tối được lùa về buộc dưới gầm sàn hoặc chuồng trại dựng sát gần nhà. Do chỉ chăn nuôi để cung cấp thực phẩm là chính nên hiện nay số lượng bò nuôi của người La Chí không nhiều và chỉ có một số nhà nuôi.

Mỗi khi có công to việc lớn hoặc các kỳ cuộc tế lễ của cộng đồng, nếu không có trâu thì người La Chí sẽ mổ bò. Thịt bò đa số được chế biến thành 4 món là thắng cố, món thịt xào, lòng xào và canh xương nấu cùng rau, củ quả.

- Gà (La khá).

Gà là loài vật nuôi phổ biến ở tất cả các gia đình người La Chí với quy mô nhỏ lẻ để phục vụ nhu cầu trong gia đình, mỗi gia đình từ 5 - 20 con, chủ yếu là giống già ta chân đen do các hộ gia đình tự gây giống. Hầu hết các hộ gia đình người La Chí đều nuôi gà thả rông để tự tìm kiếm thức ăn, một số nhà làm một chuồng nhỏ đan bằng phên liếp gần với chuồng lợn. Chuồng được lợp mái bằng cỏ tranh, rơm rạ hoặc phibro xi măng, trên chuồng gà thường có một vài ổ gà bằng cách tận dụng những chiếc địu hỏng bằng tre, phía trong lót rơm cho gà đẻ trứng. Trứng gà một phần để ăn, một phần được ấp để duy trì đàn gà giống. Nếu không có chuồng thì ổ gà được treo dưới đầu hồi nhà hoặc dưới gầm sàn nhà.

Giống gà địa phương được người La Chí nuôi có khả năng kháng bệnh cao. Nếu không may xảy ra dịch bệnh thì họ thường tự điều trị bằng tỏi giã nhỏ pha với nước hoặc rượu cho uống và nhỏ mũi. Nếu có hiện tượng gà bị chết thì mới mua thuốc thú y về điều trị.

Do điều kiện kinh tế nên trong bữa ăn hàng ngày người La Chí ít khi có thịt gà mà chủ yếu được dùng trong các dịp lễ, tết hoặc những khi có khách quý. Thịt gà chủ yếu được chế biến thành món luộc, rang hoặc nấu canh gừng.

- Vịt (Cô cô).

Vịt là vật nuôi khá nổi tiếng của người La Chí, nhất là khu vực xã Bản Phùng của huyện Hoàng Su Phì. Giống vịt nuôi của người La Chí là giống vịt bầu địa phương có màu xám tro, cổ cườm, chân màu xám nhạt, được các hộ gia đình tự nhân giống. Đặc điểm của giống vịt này là chống chịu bệnh tốt, thịt thơm ngon, trứng to và nhiều lòng đỏ. Vì vậy sản phẩm thịt và trứng vịt của người La Chí luôn được ưa chuộng, tuy nhiên sản phẩm không nhiều do hầu hết được nuôi manh mún, nhỏ lẻ. Thời gian gần đây có một số hộ gia đình đã du nhập các loại vịt lai hoặc vịt từ nơi khác về nuôi nhưng chất lượng không ngon bằng giống vịt bản địa.

Đối với giống vịt địa phương, mỗi nhà thường có từ 3 - 5 đôi gồm cả vịt trống và vịt mái. Trứng vịt được cho gà ấp để nở thành con non, sau đó họ bắt và nhốt riêng từ 7 - 10 ngày thì mới thả vịt xuống nước, nếu là mùa đông thì phải sau 20 -30 ngày mới thả. Vịt được thả đến khi cấy lúa thì họ dùng tre bổ nhỏ để đan quây kín thành một ô nhỏ từ 7 - 10 m2 ở một khoảng ruộng gần nhà để nhốt vịt nhằm ngăn không cho vịt ăn cá con hoặc phá hại lúa. Nếu gia đình nào có khoảng ao nhỏ thì quây kín phía trên bờ, chỉ để một lối nhỏ cho vịt đi vào chuồng hoặc dùng phibro xi măng, rơm rạ, cỏ tranh để che một khoảng nhỏ trên bờ cho vịt ngủ. Do khan hiếm thức ăn nên trong thời gian này vịt thường gầy.

Sau khi thu hoạch lúa, các hộ gia đình tiến hành thả vịt và cày ải, đắp bờ, tích nước vào ruộng. Khi đó vịt có đủ thức ăn, có nước để tắm rửa, ngụp lặn nên rất béo và đẻ trứng nhiều, trứng to. Vì vậy từ khoảng giữa tháng 10 âm lịch là lúc vịt đạt chất lượng cao nhất cả về thịt và trứng.

Cũng giống như gà, ngoài món trứng thì thịt vịt ít khi xuất hiện trong bữa ăn hàng ngày của người La Chí, mà chủ yếu được dùng khi có khách quý. Thịt vịt chủ yếu được chế biến thành món luộc trộn muối lá dăm hoặc món nướng.

Lợn (Ny pí).

Cũng như các loại gia súc, gia cầm khác, lợn được nuôi phổ biến trong các gia đình dân tộc La Chí và là nguồn thực phẩm chủ yếu trong các dịp lễ tết, hội hè. Người La Chí chỉ nuôi giống lợn địa phương màu đen hoặc hung đỏ chứ không nuôi lợn trắng. Bình quân mỗi nhà nuôi ít nhất từ 3 - 5 con trong đó thường có một con lợn nái để làm giống, một vài nhà có từ 10 - 20 con. Người La Chí ít khi mua giống lợn từ nơi khác hoặc nhà khác về nuôi vì ít có tiền mặt, đồng thời họ cho rằng giống lợn nhà khác không tốt bằng giống do mình tự nuôi. Giống lợn địa phương của người La Chí có khả năng chống chịu, kháng bệnh cao nên ít ốm hoặc dịch. Khi lợn bị ốm họ thường tự mua thuốc về điều trị.

Khác với các dân tộc khác, người La Chí không thả rông lợn mà nuôi bằng hình thức nuôi nhốt trong chuồng để lợn không ủi phá làm hỏng bờ ruộng hoặc các loại cây trồng. Chuồng lợn thường được làm bằng tre, gỗ xếp trồng lên nhau như chiếc cũi, sàn lát bằng tre, gỗ cách mặt đất khoảng 50 - 70 cm, phía trên lợp mái bằng cỏ tranh hoặc tấm lợp, Chuồng được dựng cách nhà từ 15 - 20m và chia làm nhiều ngăn, mỗi ngăn từ 2 - 5 con, nếu có lợn nái thì nuôi riêng một ngăn khác. Một số nhà nuôi bằng cách bổ tre thành mảnh và quây một góc vườn để thả lợn.

Thức ăn hàng ngày của lợn thường là cám gạo, sắn, rau rừng, thân cây chuối, ngô hạt... được nấu bằng chảo trên bếp lò. Người La Chí không dùng cám công nghiệp để chăn nuôi nên lợn chậm lớn, song chất lượng thịt cao hơn.

Hàng năm, vào dịp tết tháng 7, tết nguyên đán hoặc khi nhà có công to việc lớn như cưới hỏi, tang ma, dựng nhà thì người La Chí mổ lợn lấy thịt làm thực phẩm, nếu sử dụng không hết thì làm thịt chua để ăn dần. Khi tổ chức các lễ nhỏ như lễ mở kho, lễ cúng cơm mới, lễ đóng kho và dịp đổi công cấy ruộng thì các gia đình cũng mổ lợn và gà, vịt để cúng tế và đãi khách, song đa số là lợn nhỏ, vừa đủ ăn trong buổi lễ. Thịt lợn chủ yếu được người La Chí chế biến thành món luộc, xào, canh xương nấu với củ quả hoặc rau cải, rau bí...

- Dê (Un bèn).

Trước đây, các hộ gia đình người La Chí nuôi nhiều dê, chủ yếu để làm thực phẩm khi có công to việc lớn. Dê được người La Chí nuôi trên nương gần với lán, chuồng dê bằng cây gỗ rừng hoặc tre, mai được xếp hình chiếc cũi, phía trước có cửa ra vào, mái bằng cỏ tranh hoặc tre vầu bổ đôi rồi úp ngược vào nhau. Ban ngày dê  được thả rông để tự kiếm ăn, tối tự về chuồng.

 Do đặc điểm nuôi dê cần có bãi chăn thả rộng, là loài vật ăn tạp hay phá hoại cây cối trong khi diện tích nương ngày một giảm nên hiện nay số lượng dê người La Chí nuôi tương đối ít, chủ yếu là các hộ gia đình có diện tích đất nương hoặc đất trống rộng.

Khi có công to việc lớn như cúng tế, cưới hỏi thì người La Chí mới mổ dê làm thức ăn. Thịt dê chủ yếu được chế biến thành 3 món gồm: Thắng cố, canh đắng (Gồm nội tạng, phân non, tiết, gia vị) và món xào.

- Cá (A ly).

Cá là vật nuôi của hầu hết các hộ gia đình người La Chí có hoạt động kinh tế làm ruộng cấy lúa nước. Giống cá được người La Chí nuôi là cá chép được nuôi kết hợp trên ruộng cấy lúa.

Trong các gia đình người La Chí thường có một chiếc ao nhỏ, rộng từ 10 - 20m2  được đào ngay cạnh cầu nước, dùng để nuôi cá chép giống. Nếu gia đình nào không có nguồn nước ổn định để làm ao nuôi cá giống thì đến mùa thả cá phải mua lại của các hộ gia đình trong xóm. Hàng năm vào đầu mùa mưa họ bắc máng dẫn nước chảy vào ao, đồng thời vứt các bụi cỏ trà xuống ao cho cá làm chỗ dựa để đẻ trứng. Sau khi cá đẻ trứng họ lấy chiếc màn quây thành ổ ở một góc ao rồi thả các búi cỏ trà có trứng cá vào trong chiếc màn và ươm cho nở thành con. Sau khi cấy lúa xong từ 1 - 2 ngày thì họ thả cá giống vào ruộng theo tỷ lệ bình quân khoảng 2m2/con. Kỹ thuật nuôi cá kết hợp trên ruộng lúa rất đơn giản, họ không phải chăm sóc hay cho thức ăn mà chỉ cần thăm đồng thường xuyên để giữ mực nước từ 5 - 15cm để cá phát triển cùng với cây lúa. Nếu hôm nào mưa nhiều, nước to thì họ tháo bớt nước và dùng cỏ chắn dòng nước không cho cá chảy theo.

Trước khi thu hoạch lúa khoảng 15 - 20 ngày thì tiến hành tháo cạn nước để bắt cá và cho khô ruộng chuẩn bị cho vụ thu hoạch lúa. Cá chép sau khi thu về sẽ được thả xuống chiếc ao nhỏ để nuôi và sử dụng dần. Nếu nhà nào không có ao thì nuôi vào chiếc thùng nhựa hoặc bể nước và cho nước thường xuyên chảy qua để cá không chết.

Cá chép ruộng là món thực phẩm không thể thiếu trong lễ cúng cơm mới và lễ đóng kho của dân tộc La Chí. Cá thường được chế biến thành 3 món là nướng, rán và nấu canh với thảo quả. Một số người còn dùng lòng cá để nấu với rau giảo cổ lam, lá đu đủ làm món canh đắng.

Ngoài các vật nuôi nêu trên, người La Chí còn nuôi các động vật khác như chó, mèo, chim cảnh, song số lượng không nhiều và không nhằm mục đích kinh tế.

3. Thủ công nghiệp.

3.1. Nghề dệt may.

- Lịch sử phát triển.

Do sinh sống ở địa bàn tương đối cách biệt trải qua một thời gian dài, thương nghiệp kém phát triển nên người La Chí là một trong số ít các dân tộc đến nay còn giữ được nghề trồng bông dệt vải. Nghề dệt may của người La Chí vốn có từ thời xa xưa dưới hình thức tự cung, tự cấp và do các gia đình thực hiện để phục vụ nhu cầu sử dụng của mỗi nhà. Người La Chí cho rằng kỹ năng dệt vải, thêu thùa và may vá là một trong những tiêu chí hàng đầu để đánh giá phẩm chất, đạo đức, sự khéo léo và chăm chỉ của phụ nữ. Chính vì thế họ luôn coi trọng, giữ gìn và bảo tồn được nghề trồng bông dệt vải và may mặc. Tuy nhiên hiện nay chỉ còn các hộ gia đình dân tộc La Chí xã Bản Phùng của huyện Hoàng Su Phì và xã Bản Díu của xã Xín Mần là còn giữ được toàn bộ quy trình 19 công đoạn từ giai đoạn trồng cây bông đến khi dệt may được các bộ trang phục hoàn chỉnh. Còn lại các hộ gia đình thuộc các xã vùng cao phía bắc khác thì chỉ thực hiện từ công đoạn nhuộm vải đến may trang phục.

- Sản xuất và chế biến nguyên liệu.

Nguyên liệu dùng để dệt may của người La Chí chỉ dùng sợi bông mà không dùng sợi lanh như các dân tộc khác. Cây bông được người La Chí trồng trên nương từ tháng 12 đến giữa tháng giêng âm lịch. Đến tháng tư âm lịch khi quả bông chín thì thu hoạch, sau đó dùng máy cán bông (Khó) để tách hạt bằng cách quay tay.

Sau khi tách, hạt được bảo quản trong ống tre hoặc bình, gốm, sành, sứ, lọ thủy tinh để trồng trong vụ sau. Bông được thu hoạch vào khoảng tháng 9 âm lịch. Sau khi tách hết hạt, bông được bật cho tơi bằng cái bật bông (Thé) gồm một đoạn cây gỗ dài khoảng 2m, một đầu có lắp một đoạn gỗ dài khoảng 40cm hình chữ r, trên đầu đoạn gỗ có một sợi dây thép được kéo thật căng nối với ngọn của cây gỗ. Khi bật, họ lấy một cây gậy vừa đập vào dây thép vừa rê đều trên đống bông, xung quanh đống bông được che bằng nilon hoặc vải bạt để bông không bắn ra ngoài.

Bông sau khi được bật tơi sẽ được để thành đống trên một tấm vải bạt hoặc nilon sạch rồi dùng chiếc đũa để cuộn lại thành những thỏi bông to cỡ ngón tay cái, dài khoảng 30cm. Từ những thỏi bông này họ dùng chiếc xa (Khung) để quay thành sợi. Sau khi xa, sợi bông được cuộn thành từng cục hình quả trám, kích thước khoảng 10cm x 20cm.

Sau khi xa bông thành sợi, họ dùng chiếc guồng sợi (Lời khung) để cuốn sợi thành những cuốn sợi có đường kính khoảng 40cm, cuốn đến đâu thì nối các cuộn sợi đến đó với nhau để mỗi cuốn có trọng lượng bình quân từ 200 - 300gram.

Sau khi cuốn, sợi bông được đưa vào luộc trong nước hạt cây kê và mỡ trâu từ 30 - 40 phút để sợi bông săn chắc và đem phơi khô rồi dùng gậy đập cho tơi. Sau đó lại tiếp tục luộc trong nước hạt kê và mỡ trâu, phơi và đem đập cho tơi từ 2 - 3 lần đến khi sợi thật chắc mới thôi.

Kết thúc công đoạn luộc, sợi bông được kéo phẳng và cạo sạch những bụi bám bẩn và hạt kê trên sợi vải, sau đó cuộn thành cuộn để chuẩn bị cho công đoạn dệt vải.

Vào những lúc nông nhàn, thường là sau vụ thu hoạch lúa người La Chí tiến hành dệt vải. Khung dệt được làm bằng gỗ có chiều cao khoảng 1,4 x 1,4m, một đầu có ghế ngồi, các sợi bông được dàn đều trên khung dàn sợi (Pun thung), giữa các sợi vải có một dây chỉ nhỏ vòng qua để tách thành 2 hàng song song để luồn con thoi (Cuồn thà) làm bằng gỗ, dài khoảng 40cm, đường kính khoảng 5cm đục rỗng ở giữa để chứa cuộn sợi. Vải được dệt bằng cách dùng chân đạp để tách và nâng các hàng sợi vải theo hướng lên - xuống rồi luồn con thoi qua lại theo chiều ngang, sau đó dùng một mảnh gỗ mỏng để ép cho các sợi vải khít vào nhau. Thông thường, các mảnh vải được dệt có chiều rộng khoảng 60cm, dài từ 10 - 15m.

Tiếp theo là công đoạn nhuộm vải. Người La Chí dùng nhựa chàm, tro bếp và củ nâu để nhuộm. Tùy theo yêu cầu về màu sắc của từng loại vải mà người La Chí dùng các nguyên liệu và cách nhuộm khác nhau, trong đó có 3 màu chính gồm: Đen, xanh lam, xanh đậm.

- Màu đen: Dùng nhựa chàm cô đặc đun trong nước lọc tro bếp đến khi sôi thì nhúng vải vào luộc từ 50 - 60 phút, thì đem phơi khô, sau đó lại cho vào luộc tiếp trong nước nhựa chàm. Lần lượt như vậy từ 4 - 5 lần đến khi giặt không thấy phai màu là được.

- Màu xanh đậm: Dùng nhựa chàm cô đặc đun với nước ngâm củ nâu, sau đó luộc vải khoảng 1 giờ rồi đem phơi khô, sau đó tiếp tục luộc và phơi từ 4 - 5 lần đến khi giặt không thấy phai là được.

- Màu nâu: Chỉ luộc vải trong nước ngâm củ nâu và nước lọc từ tro bếp giống như cách nhuộm vải màu xanh hoặc đen.

Trong các màu vải trên, màu đen được dùng nhiều nhất để may thân quần, áo, khăn đội đầu, còn màu nâu và màu xanh chủ yếu được dùng làm vải trang trí

Nhựa chàm được chiết xuất từ cây và và lá chàm, sau đó cô đặc với vôi bột thành nguyên liệu như đất bùn.

- Tập quán sử dụng và tiêu thụ sản phẩm.

Hiện nay, người La Chí thuộc các xã Bản Díu huyện Xín Mần, Bản Máy huyện Hoàng Su Phì hầu hết đều mặc trang phục của dân tộc Tày, chất liệu vải sợi được may sẵn. Đối với nhóm người La Chí sinh sống ở khu vực thành thị thì hầu như không sử dụng trang phục truyền thống. Còn lại các hộ La Chí thuộc các xã Bản Phùng huyện Hoàng Su Phì, Bản Díu huyện Xín Mần, Nậm Khánh huyện Bắc Hà vẫn giữ được tập quán trồng bông dệt vải với đầy đủ 11 công đoạn từ trồng bông đến khi may thành bộ trang phục hoàn chỉnh. Các bộ trang phục được người dân sử dụng thường xuyên, chỉ có một số ít nam giới sử dụng quần áo của dân tộc Kinh.

Do hầu hết các hộ gia đình đều tự dệt vải và may trang phục cho gia đình mình sử dụng việc mua bán, trao đổi tuy có nhưng khá ít.

- Các loại hoa văn trên trang phục.

Họa tiết hoa văn cơ bản trên trang phục của người La Chí là thêu bằng chỉ và ghép bằng vải, trong đó hoa văn thêu bằng chỉ là phổ biến nhất. Các hoa văn trên trang phục của nữ chủ yếu được thêu ở hai bên cổ áo gồm các mẫu hình tam giác, hình chấm tròn, hình quả trám kết hợp với các đường viền với nhiều gam màu khác nhau như xanh, trắng, đỏ, vàng, tím tạo nên nét nổi bật của họa tiết hoa văn. Mẫu trang trí chủ đạo là hoa văn nằm ở giữa, xung quanh là các đường viền được thêu móc thành hình chấm tròn với nhiều màu sắc khác nhau.

Các mẫu hoa văn ghép vải chủ yếu là các đường viền, hình tam giác cân với các màu sắc chủ đạo là màu đỏ và màu tím, đây cũng là hai màu mà người La Chí ưa thích vì nó tượng trưng cho sự may mắn, hạnh phúc.

3.2. Đan lát.

Nghề đan lát của người La Chí chủ yếu là tự cung tự cấp, họ tự đan các đồ dùng để phục vụ lao động sảm xuất và đời sống sinh hoạt trong gia đình như cót phơi thóc, bồ đựng thóc, gùi để vận chuyển nông sản. Ngoài ra họ còn đan những vật dụng có giá trị sử dụng lâu dài như hòm đựng quần áo, tư trang (Ka nu) để cho cô dâu sử dụng khi về nhà chồng và được giữ mãi cho đến hết đời.

- Nguyên liệu.

Tùy theo từng loại vật dụng mà người La Chí sử dụng các loại nguyên liệu khác nhau, trong đó chủ yếu là dùng từ cây tre, cây giang và dây mây do các loại cây này có độ dẻo dai và tương đối bền. Riêng các loại cây họ tre gồm cây vầu, mai, diễn thì không sử dụng để đan lát do các loại cây này rất ròn.

Cây tre được các gia đình người La Chí trồng trên nương, khe suối, còn cây giang và dây mây được khai thác từ rừng tự nhiên. Cây tre, giang được lựa chọn phải là những cây không cụt ngọn, không quá già hoặc quá non. Tre hoặc giang sau khi khai thác về được chẻ thành mảnh ngay khi còn tươi và lột bỏ phần lõi chỉ lấy phần cật để đảm bảo độ bền rồi dùng dao sắc vót nhẵn. Kích thước và độ dài các nan tre nhỏ hay to tùy thuộc vào loại sản phẩm cần đan, riêng dây mây thì chẻ nhỏ từ 5 - 6mm, độ dài theo suốt chiều dài mỗi dây. Các vật dụng, đồ dùng được đan khi nan còn tươi. Nếu chưa sử dụng thì họ cuộn thành bó hoặc khoanh thành vòng trò để trên gác bếp để bảo quản, trước khi sử dụng thì đem ngâm vào nước từ 30 - 50 phút cho dẻo trở lại. Khi đan, phần cật (vỏ) của nan được quay ra phía ngoài để tăng độ bền cho sản phẩm.

- Kỹ thuật đan lát.

Kỹ thuật đan lát của người La Chí chủ yếu theo kiểu cài lóng mốt, lóng đôi, lóng ba, cài chéo... các vật dụng như gùi, giỏ, bồ đựng thóc thì ở phần cạp sử dụng kỹ thuật quấn nan rất phức tạp. Các sản phẩm như nong, nia, sàng, rổ... thì phần cạp sử dụng cốt tre và cuốn bằng sợi dây mây để tạo độ cứng.

- Kỹ thuật trang trí.

Hầu hết các sản phẩm đan lát của người La Chí đều ít hoa văn, một số dụng cụ sinh hoạt như sàng, rổ.. thì sử dụng kỹ thuật bỏ lỗi để những mắt nan tạo thành những hình vuông đồng tâm từ giữa ra ngoài.

- Tập quán sử dụng.

Trong cuộc sống lao động và sinh hoạt của người La Chí, không thể thiếu những vật dụng đan lát. Mặc dù hiện nay trên thị trường đã có một số đồ dùng bằng nhựa khá tiện lợi được sản xuất và bày bán ở các chợ như rổ, rá, gùi... song người La Chí vẫn có thói quen sản xuất và sử dụng những vật dụng đan lát, mặc dù việc làm này rất tốn công sức, thời gian và cần có kỹ thuật. Vì vậy nghề đan lát luôn được người La Chí bảo tồn và giữ gìn.

- Tiêu thụ sản phẩm.

Do việc đan lát đòi hỏi có sự khéo léo và yêu cầu kỹ thuật cao nên trong cộng đồng dân tộc La Chí chỉ có một số ít người biết đan lát và sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng cao. Vì vậy, những người biết đan lát thường tranh thủ lúc nông nhàn để đan lát và bán cho những người có nhu cầu trong cộng đồng để sử dụng.

3.3. Nghề mộc.

- Công cụ.

Công cụ chế biến đồ gỗ của người La Chí gồm có:

+ Cái cưa (Khây).

+ Cái đục (Chó).

+ Cái bào (Thư po).

+ Cái rìu (Cu la).

- Chế biến nguyên liệu.

Do hầu hết các nguyên liệu gỗ có trên địa bàn sinh sống của người La Chí chủ yếu là gỗ tạp nên sau khi khai thác gỗ được ngâm trong bùn hoặc nước từ 3 tháng đến 1 năm sau đó mới sử dụng nhằm chống mối mọt, tăng độ bền cho gỗ. Trừ một số dụng cụ như cày, bừa được sản xuất bằng lõi cây lim xẹt hoặc cây dâu có độ cứng cao, không mối mọt thì được chế biến luôn mà không cần phải ngâm qua nước. Trước khi sử dụng gỗ được phơi thật khô để không co ngót.

- Các loại hình sản phẩm.

Các sản phẩm nghề mộc của người La Chí nhìn chung kỹ thuật sản xuất, chế tác không cao, không cầu kỳ về hình thức và không đa dạng về sản phẩm, chủ yếu là sản xuất nông cụ, dụng cụ phục vụ cuộc sống lao động sản xuất và sinh hoạt như làm cày, bừa, khung cửi dệt vải, guồng sợi, làm nhà ở... Các sản phẩm đòi hỏi trình độ tay nghề cao như đóng bàn ghế, đồ thủ công mỹ nghệ thì người La Chí không sản xuất được, nếu có nhu cầu thì mua trên thị trường hoặc của các dân tộc khác về sử dụng.

- Kỹ thuật chế tác.

Kỹ thuật chế tác đồ gỗ của dân tộc La Chí tương đối đơn giản. Chủ yếu đảm bảo bền, chắc và không chú trọng nhiều về hình thức. Đối với việc làm nhà ở họ dùng rìu để đẽo cột kèo hoặc dùng cưa để cắt và xẻ gỗ. Các kết cấu được sử dụng mộng thắt đuôi cá, nêm để liên kết với nhau. Đối với các dụng cụ, đồ dùng khác họ sử dụng mộng vuông hoặc nêm, một số đồ dùng khác được dùng đinh sắt để liên kết các kết cấu.

4. Trao đổi, buôn bán.

- Các hình thức trao đổi.

Người La Chí chủ yếu trao đổi buôn bán bằng tiền mặt. Việc trao đổi bằng hình thức vật đổi vật rất ít xảy ra, nếu có thì là những thứ không định lượng được bằng tiền hoặc giữa những người không có tiền mặt, ví dụ: Đổi các loại cây, con giống, đồ chơi, sinh vật cảnh...

- Các chợ phiên ở địa phương.

Trước đây, thị trường buôn bán trong vùng đồng bào La Chí không phát triển nên việc mua bán, trao đổi hàng hóa chủ yếu diễn ra tại các chợ phiên được mở tại trung tâm các huyện, tuy nhiên do khoảng cách tương đối xa trong khi phương tiện chủ yếu là ngựa thồ hoặc đi bộ nên người dân phải đi chợ từ rất sớm hoặc từ chiều hôm trước.

Hiện nay hầu hết các xã trong vùng đồng bào La Chí sinh sống đã có chợ nông thôn được tổ chức theo định kỳ, thường là 1 buổi/tuần tại trung tâm xã nên việc mua bán, trao đổi hàng hóa diễn ra thuận lợi. Nhiều hộ gia đình người La Chí đã biết mở các cửa hàng nhỏ để kinh doanh các mặt hàng hàng tiêu dùng, vật tư nông nghiệp, đồ điện tử, ăn uống... giải quyết được tình trạng khan hiếm hàng tiêu dùng, nhất là những mặt hàng thiết yếu. Ngoài ra, người dân trên địa bàn có điều kiện mua bán các mặt hàng nông sản như thóc gạo, thực phẩm, gia súc gia cầm... giúp người dân tiêu thụ kịp thời các mặt hàng nông lâm sản của địa phương. Từ đó làm tăng giá trị các mặt hàng, góp phần tích cực trong việc nâng cao đời sống, tăng thu nhập cho người La Chí.

5. Kinh tế tự nhiên.

5.1.Hái lượm.

 - Các hình thức hái lượm.

Trong sản xuất kinh tế, người La Chí có thói quen tự cung tự cấp. Hầu hết các sản phẩm sử dụng trong cuộc sống hàng ngày đều do các gia đình tự sản xuất, chế biến. Ngoài việc canh tác nông nghiệp và phục vụ chăn nuôi, họ còn có thói quen hái lượm, thu hái những sản phẩm từ vườn rừng, ruộng nương để bổ sung thêm cho nhu cầu đời sống. Việc hái lượm chủ yếu là thu lượm các sản phẩm như rau, củ quả, dược phẩm, các loại động vật như cua, ốc có sẵn trên rừng, ruộng nương.

- Công cụ.

Để thực hiện việc hái lượm, người La Chí chủ yếu dùng các loại công cụ sau:

+ Dao đi rừng: Vừa là công cụ tự vệ, đồng thời là dụng cụ sản xuất để chặt cây lấy lá, quả, đào đất để tìm kiếm thức ăn, củ quả.

+ Cuốc, liềm: Dùng để đào, cắt các loại cây, rau, củ quả.

+ Gùi hoặc túi đeo: Để đựng sản phẩm thu hái được, đồng thời đựng những dụng cụ, đồ dùng khác phục vụ cho việc hái lượm.

- Mùa vụ.

Thông thường, việc hái lượm không theo mùa vụ, tuy nhiên tập trung nhiều hơn cả là vào lúc nông nhàn, đồng thời phụ thuộc vào mùa vụ thu hoạch của mỗi loại sản phẩm cần thu hái. Ví dụ: Thu hoạch thảo quả thì vào khoảng tháng 9 đến tháng 10 hàng năm, các loại rau rừng thì vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày và trong năm khi họ có thời gian hoặc nhu cầu. Hái măng thì phụ thuộc vào mỗi loại khi cho thu hái... Mặt khác, khi các loại cây, củ, quả có thời điểm thu hái trùng với chu kỳ mùa vụ như vụ cấy, thu hoạch lúa thì họ không tiến hành hái lượm mà để dành thời gian công sức cho mùa vụ. Bên cạnh đó, việc hái lượm cũng thường được kết hợp với những công việc khác như tranh thủ thời gian rỗi trong giờ nghỉ của buổi làm ruộng nương, trên đường đi làm ruộng nương hoặc cuối buổi canh tác, trước bữa ăn hoặc khi phát hiện thấy những loại sản phẩm mà họ cần...

- Các loại sản phẩm.

Các loại sản phẩm hái lượm chủ yếu gồm:

+ Lương thực, thực phẩm: Rau rừng, rau dại, củ, quả, măng, nấm. Các loại động vật nhuyễn thể, giáp xác như cua núi, ốc, sâu măng.

+ Dược liệu: Các loại thuốc nam chữa bệnh, thuốc bổ (Sâm rừng, tam thất nam...)

+ Các nguyên vật liệu phục vụ lao động, sản xuất và xây dựng như mây, tre, nứa, lá

- Tầm quan trọng của hái lượm trong đời sống kinh tế.

Xuất phát từ cuộc sống tự cung, tự cấp, kinh tế chậm phát triển nên đời sống kinh tế của người La Chí còn nhiều khó khăn và phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên. Vì vậy hái lượm có vai trò quan trọng trong việc cung cấp bổ sung một lượng khẩu phần lương thực, thực phẩm và nguyên vật liệu phục vụ lao động, sản xuất và xây dựng. Mặt khác, việc hái lượm đã giúp người La Chí không mất thời gian và công sức canh tác, chăm sóc mà chỉ cần dành thời gian thu hái.

- Vai trò của nam giới trong hái lượm.

Đối với người La Chí, việc phân công giữa nam và nữ trong hái lượm thường không rõ ràng và phần lớn phụ thuộc vào điều kiện về thời gian của mỗi người. Song đối với những công việc nặng nhọc như khai thác nguyên vật liệu, trèo cây hái quả thì đa số là do nam giới thực hiện.

5.2. Săn bắt.

- Các hình thức săn bắt.

Trong cuộc sống hàng ngày hoạt động săn bắt của người La Chí không được diễn ra thường xuyên mà chủ yếu là vào các mùa nông nhàn để bổ sung thêm nguồn thức ăn và bảo vệ mùa màng. Đồng thời cung cấp các sản phẩm phục vụ hoạt động tín ngưỡng. Các hình thức săn bắt gồm:

+ Săn bắt cá nhân do mỗi cá nhân thực hiện, loại hình này chủ yếu là đánh bẫy hoặc săn những loại động vật nhỏ, các loại động vật gây hại cho cây trồng và thường do mỗi cá nhân tự thực hiện một cách linh hoạt vào những thời gian rỗi, khi cá nhân hoặc gia đình có nhu cầu về thực phẩm nên ít phụ thuộc vào mùa vụ.

+ Săn bắt tập thể. Chủ yếu là săn bắt những loài động vật lớn với sự tham gia của ít nhất từ 3 người trở lên, đôi khi đến hàng chục người. Loại hình này chủ yếu diễn ra trong lúc nông nhàn hoặc phát hiện có động vật lớn. Ngoài ra cũng có một số loài thú nhỏ nhưng cần nhiều người tham gia như đào dúi, bắt rắn. Những năm gần đây, loại hình này ít khi được người La Chí tổ chức.

- Công cụ săn bắt.

Tùy theo mỗi loại động vật cần săn bắt mà người La Chí sử dụng các công cụ cho phù hợp. Chủ yếu gồm:

+ Săn bắt thú lớn trên rừng: Công cụ gồm: Nỏ, các loại bẫy như: bẫy sập, bẫy kiềng, cạm tre, dao đi rừng... Trước đây đa số các hộ gia đình còn sử dụng súng kíp để bắn những động vật lớn như lợn rừng, khỉ, gấu hoặc một số loại động vật khó bẫy như cầy hương, sóc bay, cáo và các loại chim chóc. Hiện nay, săn bắt bằng súng đã không được sử dụng.

+ Săn bắt trên nương, đồng ruộng: Chủ yếu dùng bẫy, cạm, dao, lửa để hun khói...

- Các loại sản phẩm và tập quán phân phối sản phẩm săn bắt được.

Trước đây, khi diện tích rừng còn nhiều và nhiều thú lớn nên sản phẩm khá đa dạng. Ngoài những động vật nhỏ như chim, gà rừng, sóc, chuột, cầy, cáo, ... thì đôi khi người La Chí cũng bắt được các loại thú lớn như lợn rừng, gấu, sơn dương, hươu nai... Nhưng hiện nay các loại thú lớn này hầu như không còn.

Thông thường sau khi bắt được các loại thú lớn thì ngoài việc phân chia cho tất cả những người trực tiếp tham gia săn bắt mỗi người một phần như nhau, riêng người có công phát hiện thì được phần nhiều hơn thì họ sẽ dành một phần để sử dụng chung trong cộng đồng bằng cách nấu một bữa để ăn chung. Đối với các loại thú nhỏ do các cá nhân tự săn bắt được thì họ có quyền tự quyết định phương thức sử dụng là để ăn hoặc đem bán. Tuy nhiên nếu để ăn thì sẽ mời tất cả những ai có mặt vào thời điểm ăn uống để lấy may mắn cho lần săn bắt sau. Đối với một số loại thú nhỏ mà có nhiều người cùng tham gia săn bắt như dúi, rắn, gà rừng... thì họ sẽ sử dụng chung hoặc đem bán lấy tiền rồi chia đều cho mọi người trong nhóm.

- Vai trò của giới trong săn bắt.

Do việc săn bắt đòi hỏi phải có sức khỏe nên việc săn bắt trong cộng đồng người La Chí hầu hết đều do nam giới thực hiện, nữ giới chỉ làm công việc chế biến sau khi săn bắt được.

- Tầm quan trọng của săn bắt trong đời sống.

Xuất phát từ đời sống còn nhiều khó khăn và dựa nhiều vào thiên nhiên nên các nguồn thực phẩm từ tự nhiên có vai trò quan trọng trong đời sống của người La Chí. Vì vậy, cũng giống như hái lượm, săn bắt cung cấp một phần thức ăn đáng kể phục vụ cho bữa ăn hàng ngày của họ. Những năm gần đây, do diện tích rừng bị thu hẹp, số lượng động vật suy giảm mạnh nên việc săn bắt không được người La Chí thực hiện thường xuyên. Song khi có điều kiện họ vẫn dành thời gian để săn bắt các loại thú nhỏ, nhất là việc săn bắt chuột, cá suối vừa để làm lễ vật phục vụ cúng tế, vừa để bổ sung nguồn thực phẩm cho nhu cầu hàng ngày, đồng thời góp phần bảo vệ mùa màng. Bên cạnh đó, việc săn bắt còn là thú vui giải trí của một bộ phận nam giới người La Chí.

5.3. Khai thác thủy sản.

Hầu hết trong khu vực sinh sống của người La Chí đều không có ao hồ lớn nhưng có nhiều con suối nhỏ với nguồn lợi thủy sản mặc dù không lớn nhưng cũng đóng góp quan trọng trong việc bổ sung nguồn thực phẩm cho cuộc sống hàng ngày của họ.

- Các hình thức săn bắt thủy sản và mùa vụ.

Chủ yếu gồm 2 hình thức là đánh bắt cá nhân và đánh bắt tập thể. Việc đánh bắt cá nhân được thực hiện khi trong gia đình có nhu cầu về thực phẩm, chuẩn bị đồ cúng tế hoặc vào những ngày việc đánh bắt thuận lợi như mưa lũ, sông suối cạn nước, khi nhàn rỗi. Hình thức đánh bắt tập thể chỉ được thực hiện khi sông suối cạn nước vào khoảng tháng 2 - tháng 3 hàng năm. Chủ yếu là dùng lá cây hoặc hóa chất để ruốc cá tôm hoặc ngăn suối cho cạn nước để đánh bắt nên đòi hỏi phải có nhiều người tham gia.

- Các loại thủy sản.

Các loại thủy sản chủ yếu gồm: Cá, cua, ếch, tôm...

- Tập quán sử dụng thủy sản.

Người La Chí thường sử dụng tất cả các bộ phận của tôm, cá và chế biến thành món nướng và món rán là chủ yếu, ruột cá thường được nấu với các loại rau có vị đắng như lá đu đủ, giảo cổ lam để làm món canh đắng. Một số gia đình khi đánh bắt được nhiều thì kẹp vào mảnh tre tre rồi sấy trên gác bếp để bảo quản sử dụng dần.

- Vai trò của thủy sản trong đời sống.

Do số lượng thủy sản đánh bắt được không nhiều nên rrong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, các loại thủy sản là thực phẩm hiếm, có giá trị và không được sử dụng thường xuyên, chủ yếu là trong các dịp lễ tết, cúng tế, trong đó món cá suối là lễ vật không thể thiếu trong các lễ thức cúng Mở kho xin giống, cúng mừng cơm mới, lễ đóng kho.

5.4. Nghề rừng.

- Quan niệm về nghề rừng.

Người La Chí rất coi trọng việc trồng, bảo vệ và khai thác nguồn lợi từ vườn rừng bởi nó cung cấp nguyên vật liệu trong xây dựng nhà ở và các công trình phụ trợ, cung cấp một phần lương thực, thực phẩm, dược liệu cho nhu cầu cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Đồng thời giúp người dân bảo vệ, nuôi dưỡng nguồn nước. Vì vậy họ luôn có ý thức bảo vệ và giữ rừng.

- Tri thức về bảo vệ rừng, khai thác rừng.

Người La Chí cho rằng rừng là nơi cung cấp các sản vật để phục vụ đời sống sinh hoạt và sản xuất, đồng thời có chức năng bảo vệ cuộc sống, phòng chống lũ lụt, sạt lở. Tuy nhiên, họ cũng phân chia ra thành nhiều loại rừng khác nhau và có những quy định, luật tục để quản lý, bảo vệ và khai thác khác nhau như sau:

+ Rừng của tập thể: Là những khu rừng có diện tích lớn, rừng già, rừng nguyên sinh hoặc rừng đầu nguồn và có nhiều nguồn lợi hơn cả. Vì vậy tất cả mọi người trong cộng đồng đều có trách nhiệm quản lý bảo vệ và cùng nhau khai thác, săn bắn một cách hợp lý.

+ Rừng cấm: Là những khu rừng có vị trí đẹp, ở khu vực trên cao, cách xa các khu dân cư và được xác định ranh giới cụ thể. Đây là nơi tổ chức các nghi lễ chung của cộng đồng. Những khu rừng này thường được hình thành cùng với quá trình tồn tại và phát triển của cộng đồng người La Chí sinh sống tại khu vực lân cận. Những khu rừng này thường được cả cộng đồng bảo vệ nghiêm ngặt, không ai dám tự ý khai thác, chặt phá khi chưa được phép của cộng đồng hay người được trông coi, quản lý. Nếu vi phạm thường sẽ bị xử lý rất nặng.

+ Rừng của gia đình, dòng họ: Thường các khu rừng này có diện tích không lớn và liền kề với các nương rẫy của mỗi gia đình. Tại các khu rừng này chỉ có gia đình hay dòng họ thuộc quyền sở hữu thì mới được khai thác và chăm sóc tôn tạo.

Người La Chí có nhiều tri thức, quan niệm về khai thác rừng. Khi có nhu cầu về khai thác nguyên vật liệu từ rừng, nhất là để xây dựng các công trình lớn như làm nhà, làm chuồng trại thì người La Chí phải nhờ thầy cúng xem và chọn ngày giờ để đốn, chặt cây nhằm chống mối mọt. Khi chặt cây họ thường tránh chặt hạ vào mùa xuân hoặc những ngày mưa. Những cây cụt ngọn, cây chết do nguyên nhân tự nhiên hoặc bị sét đánh thì họ không sử dụng mà chỉ dùng để làm củi hoặc đốt làm than.

- Nuôi trồng và duy trì tài nguyên rừng.

Trước đây do diện tích rừng còn lớn nên người La Chí ít trồng rừng mà chủ yếu khoanh nuôi, bảo vệ. Khoảng hơn 30 năm trở lại đây nhiều diện tích đất trống, đồi núi trọc trên địa bàn sinh sống của người La Chí đã được trồng rừng tập trung từ các chương trình, dự án như Dự án 327, dự án 661... tại các xã Bản Phùng, Bản Máy của huyện Hoàng Su Phì, xã Nàn Xỉn, Bản Díu của huyện Xín Mần nhiều khu rừng thông với diện tích hàng trăm ha đã được trồng và được người dân chăm sóc, bảo vệ.

 - Tầm quan trọng của rừng trong đời sống của người La Chí.

Trong cuộc sống lao động, sinh hoạt của người La Chí, rừng giữ vai trò hết sức quan trọng và có nhiều ảnh hưởng cả trực tiếp và gián tiếp. Rừng cung cấp nguồn gỗ, củi, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, cung cấp dược liệu và một phần lương thực, thực phẩm cho cuộc sống. Điều hòa khí hậu, chống xói mòn đất, bảo vệ và duy trì nguồn nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp.

- Các hình thức khai thác.

+ Tỉa thưa: Khi có nhu cầu sử dụng nguyên vật liệu thì họ tiến hành tỉa thưa, tùy theo nhu cầu sử dụng mà họ lựa chọn các cây có kích thước và số lượng phù hợp. Quá trình tỉa thưa họ tránh chặt hạ nhiều cây trên cùng một khoảng rừng, lựa chọn hướng cho cây đổ để tránh gây đổ gãy cho các cây xung quanh. Đối với những loại cây khác như dược liệu, rau, nấm... bao giờ họ cũng để lại một phần hoặc đoạn gốc để làm giống chứ không khai thác tận diệt.

+ Khai thác trắng: Thường chỉ xảy ra khi có nhu cầu khai phá làm nương rẫy. Khi khai thác trắng một khoảng rừng họ tận dụng tối đa toàn bộ số cây chặt hạ. Tùy theo từng loại và kích thước của mỗi cây mà họ phân loại để bảo quản và sử dụng cho phù hợp.

+ Khai thác một phần: Là hình thức vừa khai thác vừa bảo đảm cho cây tiếp tục tồn tại. Thường xảy ra khi khai thác cây lấy nhựa như nhựa thông, nhựa trám. Khai thác dược liệu, các loại củ, quả, khai thác củi, tre, nứa...

- Mùa vụ khai thác.

Người La Chí khi khai thác rừng đối với loại cây nguyên liệu như gỗ, tre, nứa thường tránh khai thác vào mùa xuân hoặc những ngày mưa vì họ cho rằng nếu khai thác vào những thời điểm này thì cây sẽ bị mối mọt nên mùa vụ khai thác thường vào thời gian cuối năm. Các loại cây lấy nhựa thì ít phụ thuộc vào thời vụ. Các loại dược liệu thì đa số khai thác theo nhu cầu sử dụng.

- Các nghi lễ, luật tục về rừng.

Người La Chí có quan niệm về đa thần, họ cho rằng trong thế giới vạn vật tất cả đều có 2 phần là phần hồn và phần cốt. Mỗi cây cỏ cũng đều có phần hồn, sau khi chết sẽ thành ma. Cũng như vậy, mỗi khu rừng cũng đều có các vị thần cai quản. Thần trong các khu rừng cũng có các cấp bậc khác nhau. Những khu rừng lớn, rừng nguyên sinh của cộng đồng thì có thần ma của cả dân tộc, các khu rừng nhỏ hơn của dòng họ nào thì có thần ma của dòng họ đó. Đồng thời mỗi gia đình cũng có một khu rừng riêng là nơi các thần ma là ông, bà, cha mẹ của gia đình trú ngụ sau khi chết. Bên cạnh đó họ cũng quan niệm rằng nếu khu rừng do gia đình, dòng họ hoặc cộng đồng quản lý không tốt mà bị người khác, dòng họ hoặc cộng đồng khác phá hoại thì chính gia đình, dòng họ hoặc cộng đồng sở hữu khu rừng phải gánh chịu hậu quả. Khi đó họ phải mời thầy cúng về giúp xem bói và sửa soạn các lễ vật phù hợp theo yêu cầu của thế giới thần ma tương ứng với mỗi khu rừng để làm lễ. Vì vậy mỗi gia đình, dòng họ và cộng đồng đều phải có trách nhiệm bảo vệ các khu rừng, không được tự ý chặt phá và đặc biệt không được cho người không phải người trong gia đình, dòng họ hoặc cộng đồng chặt phá. Nếu vi phạm và bị phát hiện thì bị đưa ra cộng đồng để phạt bằng tiền hoặc vật chất. Mức phạt tùy theo mức độ vi phạm.

Các nghi lễ liên quan đến rừng bao gồm:

+ Lễ cúng rừng theo định kỳ hàng năm: Được tổ chức vào tháng 9 âm lịch, thời gian ngày giờ cụ thể do thầy cúng lựa chọn. Lễ này cúng các thần gồm: Thần gió, thần đất, thần lửa. Lễ vật gồm: Thịt chó, thịt lợn, thịt gà, rượu hoẵng, cơm, xôi. Nếu khu rừng của cộng đồng bị xâm hại khiến cộng đồng gặp hoạn nạn thiên tai thì tùy theo mức độ và đòi hỏi của các thần (Do thầy cúng xem bói) để chuẩn bị lễ vật để cúng tế. Khi đó cả cộng đồng phải góp tiền để mua. To nhất là mổ trâu, bò, nhỏ nhất là lợn và gà. Thời gian tổ chức lễ này không cố định mà do thầy cúng xem ngày và lựa chọn.

+ Lễ cúng tại khu rừng của gia đình: Chỉ tổ chức khu rừng của gia đình bị xâm hại. Lễ vật gồm một con gà, một con lợn nhỏ, rượu, cơm, xôi.

Ngoài các nghi lễ trên, tại các thôn có người La Chí sinh sống thuộc các xã Bản Máy, Bản Díu thì tổ chức lễ cúng thần rừng theo định kỳ vào ngày 02/2 âm lịch hàng năm. Trước đây lễ cúng này mổ một con trâu, một con lợn và gà, vịt làm lễ vật. Khoảng 20 năm trở lại đây thì khoảng 3 - 4 năm mới mổ trâu, còn lại chỉ mổ lợn và gà để làm lễ vật cúng tế.

 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 



[1] Theo sách Việt sử Thông giám Cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn thì 7 chủng tộc bản địa ở khu vực xứ Tuyên Quang thời Nguyễn gồm: Sơn trang bạch tộc, Sơn trang hắc tộc, Sơn tử bạch tộc, Sơn tử hắc tộc, Đại tiểu bản tộc, Bát tiên tộc, Cao Lan tộc. Như vậy thì người La Chí (La Quả) không phải là người bản địa mà di cư từ nơi khác đến.

[2] Thuộc địa bàn các huyện Yên Minh tỉnh Hà Giang và Bảo Lạc tỉnh Cao Bằng ngày nay.

[3] Nguyễn Quang Ân. Dựng đặt các đơn vị hành chính. Kỷ yếu Hội thảo ngày 16/11/2015, xác định ngày, tháng, năm thành lập tỉnh Hà Giang và một số huyện thuộc tỉnh.

 

[5] Báo cáo chính trị Đại hội Đảng bộ các xã Bản Phùng, Bản Máy huyện Hoàng Su Phì và xã Nàn Xỉn huyện Xín Mần nhiệm kỳ 2020 - 2025.