|
SỞ VĂN HOÁ
TT&DL HÀ GIANG BẢO TÀNG TỈNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT Độc lập - Tự do
- Hạnh phúc |
![]()
![]()
LÝ LỊCH
DI TÍCH ĐỀN SUỐI
THẦU
(Thôn Suối Thầu II, xã Bản Luốc, huyện Hoàng
Su Phì, tỉnh Hà Giang)
I. TÊN GỌI DI TÍCH
Tên nhân dân
thường gọi: Đền Suối Thầu.
II. ĐỊA ĐIỂM PHÂN BỐ VÀ ĐƯỜNG ĐI ĐẾN
1. Địa điểm phân bố di tích
Đền Suối Thầu
tọa lạc ở lưng chừng núi thuộc thôn Suối Thầu II, đền quay hướng Đông Nam, bao
quát toàn bộ thôn Suối Thầu II, xã Bản Luốc, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang.
- Phía Đông và phía
- Phía Bắc: Giáp đất rừng.
- Phía Tây: Giáp đất ông Bôn Văn
Họp.
Xa xưa, vùng
đất huyện Hoàng Su Phì thuộc huyện Bình Nguyên (Tuyên Quang). Đến cuối đời Lê,
huyện Bình Nguyên đổi là Châu Vị Xuyên thuộc phủ Tương Yên, tỉnh Tuyên Quang.
Đến năm 1835, cắt phần đất nằm ở hữu ngạn sông Lô, thành lập huyện mới lấy tên
là Vĩnh Tuy (sau đổi là Bắc Quang). Phần đất còn lại gọi là huyện Vị Xuyên với
5 tổng, 31 xã.
Dưới thời Pháp
thuộc, trong danh mục các làng xã Bắc Kỳ của Ngô Vi Liễn xuất bản năm 1928 thì
Hà Giang có 02 châu: Châu Bắc Quang và Châu Vị Xuyên; 02 đại lý: Đồng Văn và
Hoàng Su Phì. Trong đó đại lý Hoàng Su Phì (còn gọi là Hoàng Thụ Bì) gồm các
tổng xã:
- Tổng Tụ
Nhân: Bản Luốc, Ho Tao, Trung Thịnh, Tụ nhân.
- Tổng Xín Mần
(Thành Môn) có Hữu Yên và Man Máy.
Dưới chế độ nước
Việt Nam dân chủ cộng hoà, ngày 30/4/1962, một số xã của Hoàng Su Phì được chia
thành nhiều xã nhỏ, trong đó xã Tụ Nhân chia thành 5 xã (Tụ Nhân, Đản Ván, Thèn
Chú Phùng, Pố Lồ, Chiến Phố); xã Bản Máy chia thành 5 xã: Bản Phùng, Bản Máy, Bản
Pàng, Nàn Xỉn, Thàng Tín; xã Chí Cà chia thành 2 xã: Chí Cà, Pà Vầy Sủ.
Ngày 13/12/1962,
xã Thèn Chú Phùng đổi tên là Thèn Chú Phìn, đồng thời chia các xã Trung Thịnh
thành 6 xã: Việt Thái, Trung Thịnh, Ngán Chiên, Thu Tà, Nàng Đôn, Pờ Ly Ngài;
xã Chế Là thành 4 xã: Cốc Rế, Tả Nhìu, Chế Là, Nấm Dẩn; xã Cốc Pài thành 3 xã:
Cốc Pài, Nàn Ma, Bản Ngò.
Ngày 1/4/1965,
Chính phủ ra Quyết định số 49-CP về việc chia tách huyện Hoàng Su Phì thành 2
huyện: Hoàng Su Phì và Xín Mần. Huyện
Hoàng Su Phì gồm 21 xã.
Ngày 18/11/1983, Nghị quyết số
136/HĐBT của Hội đồng bộ trưởng tách xã Nàng Đôn, Trung Thịnh nhập vào huyện
Xín Mần; xã Bản Máy (Xín Mần), xã Thông Nguyên, Tiên Nguyên (Bắc Quang) nhập
vào Hoàng Su Phì và thành lập xã Xuân Minh nâng tổng số xã là 23 xã. Năm 1986,
thành lập xã Nậm Khòa tách từ xã Thông Nguyên, tổng số 24 xã.
Ngày 24/12/2003: Tách các xã Xuân
Minh, Tiên Nguyên về huyện Quang Bình. Tổng số còn lại hiện nay là 24 xã và 01
thị trấn.
2. Đường đi đến di tích
Đền Suối Thầu cách trung tâm thành
phố Hà Giang hơn 115km về phía Tây
Khách tham quan đến vãn cảnh hay lễ
đền Suối Thầu có thể đi được bằng nhiều phương tiện như: ô tô, xe máy hoặc đi
bộ.
III. PHÂN LOẠI DI TÍCH
Đền Suối Thầu thuộc loại hình Di
tích lịch sử - văn hoá.
IV.
SỰ KIỆN NHÂN VẬT LỊCH SỬ, ĐẶC ĐIỂM CỦA DI TÍCH
Qua quá trình nghiên cứu, sưu tầm
các tài liệu chính sử do các triều đại phong kiến ghi chép cũng như nguồn thư
tịch cổ có liên quan, đến nay, vẫn chưa tìm thấy nguồn sử liệu thành văn nào
ghi chép những sự kiện có liên quan đến đền Suối Thầu. Hiện nay trong đền chỉ
còn có xà nóc (thượng lương), ghi năm xây dựng ngôi đền được phiên âm, dịch
nghĩa như sau:
Đại
Dịch nghĩa
Nước Đại Nam, năm Nhâm Ngọ, niên hiệu Minh Mệnh thứ 3 (1822), ngày tốt
lập nên.
Bên cạnh đó lý lịch di tích được nghiên
cứu thông qua nguồn tư liệu văn hoá dân gian truyền miệng của đồng bào các dân
tộc được lưu truyền trong nhân gian.
Chuyện kể rằng:
Vào thời điểm
trước khi xây dựng đền, tại khu vực thôn Suối Thầu thời kỳ đó có một nhóm hộ
gia đình dân tộc Dao áo dài (còn gọi là Dao Tiểu bản) từ thôn Bản Luốc, xã Bản
Luốc đến sinh sống. Khi đó, rừng núi còn hoang vu, cuộc sống người dân gặp
nhiều khó khăn, do bệnh tật, sâu bọ phá hoại mùa màng, dã thú hoành hành…. Quan
trấn thủ địa phương lúc đó là ông Đặng Minh Đông (bí danh Đặng Diễn) đã cho
người sang Trung Quốc thuê thầy cúng, nghệ nhân và thợ sang xây dựng đền, đắp
13 pho tượng thờ các thần linh, cầu cho người dân sức khoẻ, mưa thuận gió hoà,
mùa màng tươi tốt, tai qua nạn khỏi, cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Đồng thời,
cùng với việc dựng đền đắp tượng, ông Đặng Minh Đông còn hướng dẫn cộng đồng người
Dao khai hoang làm ruộng bậc thang trồng lúa nước và làm nương rẫy, vì vậy đời
sống của người dân dần ổn định.
Sau khi ông
mất, người dân trong làng vô cùng thương tiếc, cảm phục. Để ghi nhớ công ơn của
ông, người dân trong vùng đã đắp thêm pho tượng của ông và lập bát hương đưa
vào thờ tại đền.
Cộng đồng người Dao ở khu vực Bản
Luốc, huyện Hoàng Su Phì coi ông Đặng Minh Đông (còn gọi là Đặng Diễn) là vị thần, ông có vị trí quan trọng
trong đời sống tâm linh của họ trong việc bảo vệ mùa màng và cuộc sống bình yên
của người dân trong vùng, ông được coi như Thành Hoàng làng của người Việt ở
vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Từ khi đền được
xây dựng đến nay đã qua nhiều lần trùng tu song vẫn giữ nguyên dáng vẻ ban đầu.
V. SINH HOẠT VĂN HÓA, TÍN NGƯỠNG LIÊN QUAN ĐẾN DI TÍCH
1. Đền Bản Luốc với đời sống văn hoá tâm linh của nhân dân.
Đền Bản Luốc là một trong những cơ
sở tín ngưỡng và được nhân dân 3 thôn: Suối Thầu I, Suối Thầu II và thôn Nậm Lỳ
đến lễ vào ngày rằm, mùng 1 để cầu mong cho cuộc sống bình an, dân làng khoẻ
mạnh, hạnh phúc, mưa thuận gió hoà, làm ăn gặp nhiều may mắn ….
2. Ngày lễ chính diễn ra tại đền.
Hàng năm đến ngày 15 tháng 7 âm
lịch, nhân dân 3 thôn mang lễ vật đến cúng tế tại đền. Mỗi hộ gia đình đại diện
chủ hộ đến lễ, khi đi mang theo 1 con gà hoặc 1 miếng thịt lợn, 1 chai rượu, 1
nắm cơm, vàng hương. Lễ cúng kết thúc, họ tổ chức ăn uống ngay tại đền. Đây
cũng là hoạt động mang đậm tính sinh hoạt cộng đồng, có ý nghĩa nhân văn của
người dân nơi đây.
VI.
KHẢO TẢ DI TÍCH
Đền Suối Thầu tọa lạc trên lưng
chừng núi của thôn Suối Thầu II, xã Bản Luốc. Đền tự lưng vào núi, quay hướng
Đông
Đến lễ hay vãn cảnh đền chúng ta
phải đi qua 8 bậc, rộng 1,6m, dài 4m được xây kiên cố bằng gạch, xi măng.
Qua lời kể của các cụ cao tuổi thì
ngôi đền xưa kia tường thưng bằng gỗ, có các hàng chân cột, vì, xà làm bằng gỗ,
mái lợp gianh. Trải qua thời gian cũng như biến cố lịch sử nên ngôi đền đã bị
hư hỏng và sửa chữa nhiều lần. Năm 2006, nhân dân trong vùng đã trùng tu tôn
tạo lại đền trên nền đất cũ, chất liệu chủ yếu bằng đất, gỗ và gạch, gồm có 1
gian với tộng diện tích 33m2, dài 7,5m, rộng 4,4m.
Khác
với những ngôi đền truyền thống thường chỉ có 1 hiên, nhưng đền Suối Thầu có
hiên trong và hiên ngoài với 4 hàng chân cột bằng gỗ nghiến vuông 20cm, cao
1,7m. Cột hiên được liên kết với nhau bởi 2 thanh xà xiên chạy dọc phía trên 4
hàng cột: dày 5cm, rộng 17cm và 2 xà ở 2 đầu ngoài cùng có tác dụng đỡ cho các
hàng chân cột không bị đổ. Hàng chân cột đỡ vì kèo và mái.
Tường
trước được bưng bằng ván gỗ từ dưới nền lên đến mái: dài 3,8m, cao 2,2m, dày
3cm. Cửa được mở ở giữa theo kiểu cửa đóng then cài, có 2 cánh: Rộng 80cm, cao
1,5m, chất liệu bằng gỗ. Đỡ cho bộ cánh cửa có 2 cột bằng gỗ vuông 20cm, dài
1,7m. Phía dưới của 2 cánh cửa có 1 thanh xà ngưỡng: dài 80cm, rộng 20cm, dày
10cm. Mỗi khi có người đến lễ thánh, thần thì xà ngưỡng có tác dụng gạt bỏ tà
mà không cho vào đền.
Qua
cửa đầu tiên ta lại bắt gặp một khoảng trống gọi là hiên và có tường bưng bằng
ván gỗ, cửa đóng then cài. Lớp cửa này cũng giống như cửa ngoài, nó tạo cho sự
chắc chắn của ngôi đền. Đền Suối Thầu có 3 bức tường (2 tường hồi và tường sau)
trình bằng đất, dày 51cm, cao 2m. Phía trong đền không có hàng cột và chân cột,
quá giang và vì kèo được đặt lên tường. Vì vậy, tường có tác dụng đỡ 2 quá
giang, vì kèo và mái. Hai vì kèo được làm theo kiểu “vì kèo cốn mê” rất chắc
chắn. Gắn kết bộ vị kèo có 3 cột chốn 1 vì, 1 cột cái và 2 cột quân, nối 2 vì
bởi 5 thanh xà gỗ. Mái lợp bằng tấm Prô xi
măng, đỡ tấm lợp bởi các hoành gỗ. Hiện nay ngôi đền còn duy nhất xà nóc là chứng cứ minh
chứng cho thời gian xây dựng ngôi đền vào năm 1822 (Niên hiệu Minh Mệnh thứ 3.
Ngoài ra còn có một số dòng chữ nhỏ
ghi tên những người cùng nhau lập lên đền, nội dung phiên âm, dịch nghĩa như
sau:
Phiên âm
Pháp luân cao truyền Thủy Ân Tín sĩ
Đặng Diễn đẳng tu tạo cùng kiến tứ độc mộc hướng: .... Lý Quang Tài, Ngô Cổ Hậu,
Phan Tử Liên….
Dịch nghĩa:
“Một thầy pháp có danh hiệu là Thủy Ân Tín sĩ tên là Đặng Diễn cùng một
số người sau đốn cây phạt mộc dựng nên” Lý
Quang Tài, Ngô Cổ Hậu, Phan Tử Liên….
VII: SƠ ĐỒ PHÂN BỐ, BÀI TRÍ TƯỢNG TRONG DI TÍCH
Đền có diện tích nhỏ, được xây sớm
ở dải đất biên cương địa đầu của tổ quốc nên rất đơn sơ. Trong đền gồm có 14
pho tượng bằng đất và được bài trí trên ban thờ theo hình
- Ban thờ chính giữa có 4 pho tượng,
2 tượng to lớn và 2 tượng nhỏ:
+ Tượng bên phải (nhìn từ trong ra)
là Ngọc Hoàng (Nhùi Vương - tiếng dân tộc Dao), đầu đội mũ bình thiên, mắt mở
to, sống mũi thẳng, miệng tươi cười, mặt đỏ, mặc áo hoàng bào màu vàng, hai tay
để trong lòng bụng đỡ gương thần soi chúng sinh. Tượng trong tư thế ngồi trên
ngai vàng, cao 1m;
+ Tượng bên trái (trong nhìn ra) là
Diêm Vương, đầu đội mũ, lông mày rậm, mắt mở to, sống mũi thẳng, khuôn mặt
hồng, áo màu đỏ, xanh và đen, tay phải để úp trên đầu gối, tay trái để ngửa
trên đầu gối. Tượng trong tư thế ngồi, cao 95cm.
+ Tượng Ngọc Nữ (đứng bên phải cạnh
Ngọc Hoàng), tóc búi tó hai bên, mắt mở to, miệng tươi cười, mặc áo màu xanh, 2
tay dâng tấu sớ trước ngực. Tượng trong tư thế đứng, cao 30cm.
+ Tượng Kim Đồng (đứng bên trái
cạnh Diêm Vương), mắt mở to, miệng tươi cười, sống mũi thẳng, mặc áo màu đỏ,
xanh, hai tay dâng tấu sớ trước ngực. Tượng trong tư thế đứng, cao 30cm.
- Ban thờ góc trong bên trái (trong
nhìn ra) có 3 pho tượng (tượng Quan Thế Âm toạ ở giữa và 2 tượng hầu cận):
+ Tượng Quan Thế Âm, đầu đội bảo
quan, mặt trái soan, mắt mở to, sống mũi thẳng, miệng hé mở, tay phải đặt trên
đầu gối, tay trái cầm lọ cam lồ trước bụng, chân trái khoanh tròn, chân phải để
chống. Tượng cao 70cm, toạ trên ban thờ (cao 30cm, dài 70cm, rộng 55cm), phía
trước của ban thờ được gắn ngói mũi hài tạo thành cánh sen màu đỏ.
+ Tượng Thiện Tài Đồng Tử, cắt tóc
ngắn, mắt mở to, sống mũi thẳng, miệng tươi cười, hai tay chắp trước ngực, mặc
áo đỏ, quần xanh. Tượng trong tư thế đứng, cao 35cm.
+ Tượng Thiện Tài Long Nữ, tóc để
dài chấm vai, mắt mở to, sống mũi thẳng, miệng hé mở, hai tay chắp trước bụng,
mặc áo màu xanh, quần đỏ. Tượng trong tư thế đứng, cao 40cm.
- Ban thờ góc trong bên phải (nhìn
từ trong ra) có 3 pho tượng:
+ Tượng thần Sấm Sét (Lôi Thần), có
khuôn mặt đen dữ tợn, đầu đội mũ, mắt mở trắng, mũi to, miệng như đang quát
tháo, mặc quần áo xanh, cổ áo và đai lưng màu đỏ, tay
phải cầm 1 cây huyền trượng giơ ngang vai, tay trái cầm 1 lệnh bài từa tựa
thánh giá ngang bụng. Tượng trong tư thế cưỡi mây, cao 81cm.
+ Hai tượng hầu cận Lôi Thần đứng 2
bên. Tượng bên trái đầu đội mũ, mắt mở to, miệng hé mở, mặc quần áo xanh, cổ áo
và viền ống tay màu vàng đỏ, tay phải cầm cây truỳ, tay trái đặt ngang bụng;
tượng bên phải đầu đội mũ, mắt mở to, mặt trái xoan, sống mãi thẳng, mặc áo đỏ,
cổ áo viên xanh, quần màu đen đỏ, 2 tay chắp trước ngực. Tượng cao 65cm.
Phía ngoài của ban thờ thần Sấm Sét
là ban thờ thần thổ Địa và ông Đăng Minh Đông. Thông thường thổ địa là vị thần
được bài trí ở phía ngoài cùng hoặc ban thờ bên dưới đất để cai quản di tích.
Tuy nhiên, ở đền Suối Thầu có diện tích hẹp nên sự bài trí không theo trình tự.
Tượng phía ngoài thờ ông Đăng Minh Đông (một vị quan trấn thủ địa phương), ông
là người dân tộc Dao, có công lao với nhân dân địa phương như: chăm lo đời
sống, giúp nhân dân khai phá ruộng bậc thang trồng lúa nước, phát triền kinh
tế. Trong lúc đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn, họ muốn có một nơi để
cầu nguyện những điều may mắn đến, điều không tốt rời xa họ. Vì vậy, ông đã cho
người lên rừng lấy cây về dựng đền và mời thầy từ Trung Quốc sang đắp tượng để
thờ. Sau khi ông chết, nhân dân coi ông như là vị thần và họ đã cho đắp tượng
ông thờ tại đền. Tượng toạ trên bệ, đầu đội mũ lồi, mắt mở to, mặt vuông chữa
điền, tai to, áo đỏ, cổ áo và ống tay áo được viền màu vàng xanh, quần xanh, tay
trái đặt úp trên gối, tay phải cầm đĩnh bạc để ngửa. Tượng cao 87cm; Thần Thổ
Địa toạ trên bệ, đầu đội mũ, mắt nhìn xuống, mặt đen, miệng tươi cười, mặc áo
màu xanh, cổ áo và ống tay áo được viền màu vàng, xanh, đen, quần màu vàng, tay
trái đặt úp trên gối, tay phải cầm đính bạc để ngửa trên gối. Tượng cao 91cm.
Đối diện với Thổ Địa, ông Đăng Minh
Đông là ban thờ Quan Âm và Mẫu. Phía ngoài là tượng Quan Âm: Ngồi trên lưng hổ, đội bảo quan, mắt mở to, mặt trái
xoan, tai vểnh về phía trước, sống mũi thẳng, tay trái để áp vào lòng bụng, tay
phải đặt úp lên gối phải, mặc thiên y màu xanh, đỏ, vàng, diên mạo rất đoan
nghiêm. Tượng cao 95cm; Toạ bên cạnh tượng Quán Âm là tượng Mẫu. Tượng Mẫu
trong tư thế ngồi, mắt hơi nhìn xuống, tai to hơi vểnh về phía trước, ngực để
trần, áo và quần màu xanh, 2 tay bế đứa trẻ đang cho bú, có một đứa trẻ ôm chân
phải. Tượng cao 90cm.
Trải qua bao biến
cố thăng trầm của lịch sử và không có người chăm nom bảo quản thường xuyên nên
hầu hết các di vật không còn nhiều. Qua khảo sát cho thấy, hiện nay trong đền
còn lưu giữ một số di vật như: 02 bát hương bằng đồng đỏ, cao 20cm, rộng 20,
trong đó có một bát hương bị gãy một quai; 01 lư hương gồm có 2 phần (đế và
thân), gãy một chân, miệng và đế bị xứt một phần. Chất liệu bằng gốm men gọc,
cũ, cao18cm; 01 đỉnh gồm có 3 phần (miệng, thân và chân đỉnh), có 3 chân (gãy
một chân), miệng bị vỡ cân hai bên. Chất liệu bằng gốm màu đỏ sẫm, cũ, cao
15cm, đường kính miệng rộng 12cm. Ngoài ra còn có 07 bát hương được nhân dân
cung tiến để lễ thánh, phật và thần linh vào các dịp lễ, tết, ngày rằm, mùng 1.
*
Sơ đồ bài trí tượng đền Suối Thầu:

Ghi
chú:
1. Tượng Ngọc
Hoàng (Nhùi Vương);
2. Tượng Diêm
Vương;
3. Tượng Ngọc Nữ;
4. Tượng Kim Đồng;
5. Tượng Quan Thế Âm;
6. Tượng Thiện Tài Long Nữ;
7. Tượng Thiện Tài Đồng Tử;
8. Tượng Lôi Thần;
9 - 10. Tượng hầu cận (Lôi Thần);
11. Tượng Thổ Địa;
12. Tượng Đặng Minh Đông;
13. Tượng Mẫu;
14. Tượng Quan Ân
VIII.
GIÁ TRỊ LỊCH SỬ, VĂN HOÁ, KHOA HỌC CỦA DI TÍCH
Đền Suối Thầu là
nơi thờ các vị nhiên thần theo tín ngưỡng dân gian của người Dao và thờ nhân
thần là ông Đặng Minh Đông – dân tộc Dao là nhân vật có thật, người có công
hướng dẫn nhân dân khai hoang lập làng, truyền dạy nhân dân làm ruộng bậc thang
trồng lúa nước, ông được tôn vinh tương tự như các vị Thành Hoàng làng ở vùng
đồng bằng bắc bộ.
Đền là nơi sinh
hoạt tín ngưỡng, tâm linh. Trong tiềm thức của nhân dân trong vùng thì ngôi đền
là chốn linh thiêng, được cộng đồng bà con nhân dân trong và ngoài khu vực
thường xuyên đế tế lễ.
IX.
THỰC TRẠNG BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CỦA DI TÍCH
Đền tọa lạc trên một sườn đồi, xa
khu dân cư, tường bằng đất có độ ẩm lớn và không có người thường xuyên lui tới
nên có hiện tượng mối mọt, ảnh hưởng đến di tích. Bên cạnh đó đền chưa được xếp
hạng di tích, chưa được đầu tư thích đáng trong việc trông coi, bảo quản nên
đền đang dần bị xuống cấp nghiêm trọng.
X.
PHƯƠNG HƯỚNG BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH
Đền Suối Thầu toạ lạc trên sườn núi
đất, phía sau là khu rừng đầu nguồn khá đẹp, trước là cánh đồng ruộng bậc thang
thơ mộng, cùng với những giá trị lịch sử, văn hoá của ngôi đền. Để bảo tồn và
phát huy tác dụng của cơ sở tín ngưỡng này, trước hết chính quyền địa phương
cần chủ động tuyên truyền sâu rộng đến các tầng lớp nhân dân về giá trị văn hoá
của ngôi đền nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của người dân trong việc bảo vệ
di tích và ngăn chặn tệ nạn mê tín dị đoan.
Công tác quản lý đền từ trước đến
nay đều do nhân dân 3 thôn: Nậm Lỳ, Suối Thầu I và Suối Thầu II bàn bạc, phân
công nhau trông nom, chưa có sự quản lý, hướng dẫn của chính quyền địa phương
và các đơn vị chức năng. Từ thực tế đó di
tích cần xếp hạng và thành lập Ban Quản lý đền, có quy chế quản lý nhằm bảo vệ
và phát huy di tích có hiệu quả.
XI. KẾT LUẬN
Với ý nghĩa lịch sử - văn hóa của đền Vinh Quang. Đền Vinh
Quang đủ tiêu chí đề nghị các cấp có thẩm quyền xếp hạng di tích cấp tỉnh.
XII. TÀI LIỆU
THAM KHẢO:
1. Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Hà Giang, Hà Giang 110 năm đấu tranh xây dựng và phát triển (1891-2011) NXB
chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001;
2. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Hoàng Su Phì, Lịch sử Đảng bộ huyện Hoàng Su Phì (1947 – 2000). Xuất bản năm 2000;
3. Hồ Đức Thọ, nghi lễ thờ cúng truyền
thống của người Việt (tại Chùa, đình, đền, miếu, phủ) danh sơn cổ tích - tái
bản lần thứ III, NXB VHTT, Hà Nội, 2005.
4. Lê Quý Đôn, toàn tập, tập II, kiến
văn tiểu lục, NXB KHXH, Hà Nội, 1977;
Lời kể của các cụ
cao tuổi ở thôn Suối Thầu:
1. Ông: Đặng Văn Bầu, 87 tuổi, dân tộc Dao, thôn Suối Thầu
II, xã Bản Luốc, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang. Là thầy cúng;
2. Ông: Đặng Văn Cánh, 35 tuổi, dân tộc Dao, thôn Suối Thầu
II, xã Bản Luốc, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang. Cán bộ xã Bản Luốc;
3. Ông: Đặng Văn Hu, 57 tuổi, dân tộc Dao, thôn Suối Thầu
I, xã Bản Luốc, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang. Là thầy cúng.
Hà Giang, ngày 04 tháng 6 năm 2013
|
NGƯỜI VIẾT LÝ LỊCH Cử nhân: Nguyễn Quang Bách |
BẢO TÀNG TỈNH HÀ GIANG |
SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO & DU LỊCH
TỈNH HÀ GIANG
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét