Người theo dõi

Thứ Hai, 15 tháng 10, 2018

TÌM HIỂU LỄ CÚNG GỌI HỒN LÚA CỦA DÂN TỘC DAO HUYỆN HOÀNG SU PHÌ


(Dành cho người thích tìm hiểu)
Hoàng Su Phì là một trong những vùng đất chứa đựng và bảo tồn, lưu giữ nhiều vốn văn hóa truyền thống độc đáo của các dân tộc  sinh sống trên địa bàn huyện, đặc biệt là các lễ hội, lễ thức văn hóa dân gian mang đậm nét đặc trưng pha trộn giữa nền văn minh nương rẫy và văn minh lúa nước. Các lễ hội lễ thức này thường được tổ chức tại khắp các vùng miền của huyện Hoàng Su Phì vào các dịp đầu mùa xuân hàng năm trước khi triển khai gieo trồng một mùa vụ mới hoặc sau khi thu hoạch, ước muốn cầu mong cho một năm mùa màng tươi tốt. Trong đó có lễ thức cúng gọi hồn lúa được tổ chức vào dịp tháng tư âm lịch hàng năm trước khi bắt đầu một vụ cấy là nét văn hóa độc đáo của cộng đồng người Dao đỏ của huyện Hoàng Su Phì.
Xuất phát từ quan niệm vạn vật hữu linh, người Dao đỏ huyện Hoàng Su Phì cho rằng cây lúa cùng các loại cây trồng khác cũng có những phần hồn và phần xác như con người. Trải qua những ngày tháng sinh trưởng trên những thửa ruộng đến khi đến bồ thóc của mỗi gia đình, một vài bộ phận của cây lúa hoặc những hạt thóc có thể bị chim chóc, chuột bọ, các loài thú phá hoại hoặc một vài hạt lúa bị rơi vãi trong quá trình thu hoạch nên không về được đến nhà mà lang thang bất định trong vũ trụ bao la. Vì vậy, muốn mùa màng tươi tốt bội thu thì hàng năm họ phải tổ chức cúng tế để gọi những phần hồn của cây lúa, lá lúa và hạt lúa để chúng cùng rủ nhau về với gia chủ, sinh trưởng khỏe mạnh, chống chọi được sâu bệnh và làm nên một mùa vàng tươi tốt. Đây là biểu hiện của tín ngưỡng thờ đa thần của người Dao đỏ, họ coi vạn vật đều có linh hồn với hai mặt thiện và ác và người chủ tế có vai trò như một cầu nối giữa loài người với thế giới thần để giúp gia chủ chế ngự cái ác, nhân rộng cái tốt đẹp ở cả 2 thế giới âm và dương.
Để chuẩn bị cho việc tổ chức lễ cúng gọi hồn lúa, thường trước đó khoảng một ngày, chủ nhà sẽ chuẩn bị các vật phẩm để cúng tế, trong đó ngoài những sản vật như thịt gà, rượu, bánh trưng gói bằng lá cây chít, xôi, cốm, cá chép ruộng, hương, giấy bản thì bắt buộc phải có các vật phẩm được khai thác từ ruộng vườn như con sâu măng, nhộng ong… bởi họ quan niệm rằng con ong là loại thiên địch giúp cho cây lúa chống lại dịch bệnh và sâu bọ, còn sâu măng là loài vật phá hoại cây cối nên phải cúng tế để chúng không phá hoại măng của gia chủ.
Cùng với việc sửa soạn các lễ thức trước bàn thờ tổ tiên cử gia chủ thì thầy cúng cũng lập một đàn tế Ngọc Hoàng tức Piền Hùng ở ngay trước cửa chính của ngôi nhà. Đàn lễ này chỉ có hương, giấy bản và các loại hạt giống mà gia chủ hay trồng như lúa, ngô, đậu tương, cao lương… các loại hạt giống này được buộc thành các bó và treo vào móc một chiếc cân để Thầy cúng thực hiện các nghi thức gọi hồn lúa và các loại cây giống. Ngoài ra còn có một mô hình chiếc thuyền bằng bẹ chuối và lợp mui bằng giấy bản để chở những rủi ro, những điều không may mắn ra khỏi nhà của gia chủ.
Khi cúng tế thường có 2 người gồm một thầy cúng gọi là Sài Ông và một phụ lễ gọi là Sài Cố. Trước tiên, Thầy cúng thực hiện nghi lễ trước bàn thờ tổ tiên tông tộc của chủ nhà, sau đó tiến hành cúng tế tại đàn tế Ngọc Hoàng tức Piền Hùng.
Sau 4 hồi tù và gọi Piền Hùng và các thần ma về nhận lễ, Thầy cúng đọc bài cúng gọi hồn lúa và các loại cây lương thực về cho gia chủ. Nội dung trích lược như sau: Một phần hồn cây lúa đi sẽ gọi 10 phần hồn cây lúa về, một hạt lúa đi sẽ gọi 10 hạt lúa về, 10 hạt lúa đi gọi 100 hạt lúa về, 100 hạt lúa gọi 1.000 hạt lúa để sinh sôi nảy nở thành bồ thóc, bồ thóc sinh sôi thành kho thóc cho con người con vật ăn quanh năm không hết…
Kết thúc bài cúng, thầy cúng tung hai mảnh sừng trâu hoặc mảnh gỗ gọi là "Cháo" từ cửa vào trong gian giữa ngôi nhà để xin âm dương, nếu các mảnh nằm theo thứ tự một sấp một ngửa, cả hai cùng sấp và cả hai cùng ngửa thì tức là các hồn lúa đã về đến nhà. Khi đó, thầy phụ lễ sẽ đốt các tờ giấy bản và chiếc thuyền bẹ chuối và nghi lễ kết thúc.
Cùng với việc thực hiện các nghi lễ, thì các thành viên trong gia đình cũng chuẩn bị các vật dụng cần thiết để chuẩn bị cho việc xuống đồng khai trương một mùa vụ mới. Đồng thời chủ nhà cùng các thầy cúng và bà con lối xóm ăn uống vui vẻ.
Trong đời sống cộng đồng, bất kỳ lễ hội nào cũng đều hàm chứa một tâm tưởng sâu xa. Tín ngưỡng nông nghiệp của dân tộc Dao đỏ huyện Hoàng Su Phì thông qua các lễ thức độc đáo trong đó có lễ cúng gọi hồn lúa đã thể hiện những cách thức ứng xử một cách dung hoà giữa con người với thiên nhiên để hướng tới sự phát triển thịnh vượng. Đây cũng là một trong những lý do đã tác động để người dân nơi đây trải qua hàng trăm năm vẫn luôn gắn bó với đồng ruộng để sáng tạo lên công trình lao động vĩ đại, đó là những thửa ruộng bậc thang kỳ vĩ mà hôm nay họ xứng đáng được tôn vinh là những “ nghệ sĩ” khi danh lam thắng cảnh ruộng bậc thang Hoàng Su Phì là địa phương thứ 2 trong cả nước được xếp hạng di tích quốc gia.


VÀI NÉT VỀ DANH THẮNG QUỐC GIA RUỘNG BẬC THANG HOÀNG SU PHÌ


Huyện Hoàng Su Phì có tổng số 3.720,6 ha ruộng bậc thang trải đều khắp 25/25 xã, thị trấn của huyện. Các thửa ruộng bậc thang của huyện Hoàng Su Phì uốn lượn trùng điệp và chạy dài từ ven suối lên đỉnh núi và xen lẫn những cánh rừng nguyên sinh, những nương chè cổ thụ và những dòng sông, khe suối, tạo thành bức tranh thiên nhiên hài hòa, nhiều màu sắc. Cảnh quan ruộng bậc thang của huyện đẹp nhất là vào mùa cấy từ tháng 4 đến tháng 6 hàng năm và mùa lúa chín từ tháng 8 đến giữa tháng 10 hàng năm.
Hiện nay, toàn huyện Hoàng Su Phì có 1.380 ha ruộng bậc thang tại 11 xã gồm Bản Phùng, Bản Luốc, Sán Sả Hồ, Hồ Thầu, Thông Nguyên, Nậm Ty, Tả Sử Choóng, Bản Nhùng, Pố Lồ, Thàng Tín, Nậm Khòa đã được Bộ Văn hóa Thể thao & DL đã ra quyết định xếp hạng danh thắng cấp Quốc gia. Đây là những khu ruộng đẹp nhất của huyện Hoàng Su Phì và từ lâu đã được khách du lịch trong và ngoài nước biết đến với một sự hấp dẫn đặc biệt.
Qua quá trình tìm hiểu tại các hộ gia đình của huyện Hoàng Su Phì cho thấy hình thức canh tác trên ruộng bậc thang xuất hiện ở vùng này vào khoảng trên, dưới 100 năm. Lúc đó việc khai phá để làm ruộng bậc thang rất ít do rừng còn nhiều, dần dần, việc canh tác nương rẫy không còn thuận lợi do rừng ngày một ít đi nên đồng bào chuyển dấn sang canh tác trên ruộng bậc thang ngày một nhiều hơn. Hiện nay việc canh tác trên ruộng bậc thang đã là hình thức chủ đạo trong sản xuất nông nghiệp của đồng bào nơi đây. Theo định nghĩa của đồng bào ruộng bậc thang là những mảnh đất được khai phá tạo thành mặt bằng, xung quanh đắp bờ ngăn nước trồng lúa. Để có được mảnh ruộng bà con đã phải bỏ nhiều công sức, tích luỹ nhiều kinh nghiệm, hoàn thiện và nâng cao kỹ thuật trong các khâu khai phá, tạo mặt bằng, đắp bờ, ngăn giữ nước...
1. Lựa chọn vùng đất:
Trước kia do đất đai còn nhiều việc chọn nơi làm ruộng đối với đồng bào nơi đây đòi hỏi nhiều yêu cầu hơn. Khu vực đáp ứng đủ yêu cầu phải là nơi đất đai tơi xốp, màu mỡ, không có đá to, trước kia từng là rừng nguyên sinh. Độ dốc của đất không lớn, có khả năng tạo được mặt bằng ruộng có độ rộng, dài. Điều quan trọng nhất khi lựa chọn vùng đất để khai phá là trong khu vực hoặc gần đó phải có nguồn nước, phải là nơi có thể đưa nước về ruộng được dễ dàng và không mất nhiều công sức. Hiện nay, do đất đai ngày một ít dần đi, những mảnh đất màu mỡ nhất cũng đã khai phá thành ruộng bậc thang, việc lựa chọn vùng đất không đòi hỏi nhiều yêu cầu như trước nữa. Chính sách giao đất giao rừng của nhà nước cũng phần nào giới hạn việc lựa chọn nơi khai phá làm ruộng của đồng bào. Hằng năm gia đình nào thấy thiếu đất canh tác sẽ lựa chọn trong khu vực đất rừng, nương rẫy của gia đình mình lấy vị trí thích hợp, gần nguồn nước để khai phá thành ruộng. Thông thường nếu khu đồi của năm trước khai phá còn đất họ sẽ làm nối tiếp theo đó, nếu hết đất mới đi tìm khu đồi khác để khai phá. Mỗi năm họ chỉ mở thêm 2 - 3 thửa ruộng mới và tập trung vào cải tạo ruộng cho màu mỡ.
2. Công việc khai phá ruộng:
Mùa khai phá được tiến hành ngay sau khi ăn tết xong, trong tháng 1 và tháng 2 âm lịch. Đầu tiên là việc tạo mặt bằng ruộng, công cụ để khai phá ruộng hết sức đơn giản chỉ có cuốc, cuốc chim, bừa gỗ và con dao. Quy trình khai phá ruộng được bắt đầu từ nơi cao nhất xuống thấp. Công việc đầu tiên là dùng dao phát cỏ và các loại cây nhỏ rồi dọn sạch quang mặt đất, sau đó dùng cuốc đánh bật các gốc cây to, vần đá ra khỏi khu vực làm ruộng. Để san ruộng phải cuốc đất, xẻ núi tạo mặt bằng, khi đã có mặt bằng nếu gặp đá to không lăn đi được họ dùng cuốc đào một hố lớn, sâu ngay cạnh viên đá rồi vần viên đá xuống, sau đó lấp đất lên. Việc chôn đá này phải đảm bảo đủ độ sâu, sao cho khi cày lưỡi cày ko thể chạm đến. Khi đã có mặt bằng họ dùng bừa gỗ, là một tấm ván gỗ dài khoảng 60 cm, có cán cầm phía sau, hai đầu buộc dây cho hai người đi trước hoặc trâu kéo, người đi sau điều chỉnh để san đất sao cho phẳng đều mặt ruộng. Tùy vào địa hình và độ dốc của quả đồi mà độ cao và độ rộng của ruộng bậc thang được tạo ra cũng khác nhau. Khi đã có mặt bằng họ tiến hành đắp bờ rồi đưa nước vào ngâm chân ruộng. Thông thường phải sang mùa vụ của năm sau họ mới tiến hành cày cấy.
3. Làm bờ ruộng:
Công việc này được tiến hành ngay sau khi đã có mặt bằng ruộng. Trong quá trình khai phá tạo mặt bằng ruộng, tới vị trí dự định làm bờ đồng bào sẽ để lại một dải đất rộng chừng 20 cm làm thành bờ ruộng, mặt ruộng sẽ san thấp xuống. Sau khi khai phá ruộng xong đồng bào đưa nước vào ngâm chân ruộng, bờ ruộng chỉ được chỉnh sửa qua để giữ nước. Công việc làm bờ chỉ thực sự bắt đầu khi chuẩn bị bước vào mùa vụ mới. Khi đất đã được cày ải và cho nước vào ruộng ngâm, các gia đình sẽ chia nhau ra đi đắp bờ ruộng và tu chỉnh lại những đoạn bờ đã hư hỏng từ năm trước. Bờ ruộng của đồng bào ở đây thường nhỏ, chỉ rộng vừa một bàn chân, cao khoảng 15 cm. Khi đắp bờ bà con lấy cuốc cào sạch cỏ sau đó lấy đất ngay trong ruộng đắp lên rồi dùng mặt sau của lưỡi cuốc vuốt cho tròn, ở thành ruộng thì dùng xẻng cán dài đứng ở mép bờ bên trên nạo sạch cỏ, riêng đoạn thành bờ cao hơn mặt ruộng thì không làm sạch cỏ mà chỉ phát qua cho sạch, mục đích để hàng cỏ đó giữ cho bờ có sự liên kết chắc chắn và không bị vỡ khi có mưa lớn, nước chảy mạnh. Khi hoàn thành công việc làm bờ cũng là lúc đồng bào chuẩn bị cho một vụ cấy mới. Ruộng sẽ được đưa nước vào cho đủ rồi cày, bừa lại lần cuối và bón lót phân chuồng sau đó mới tiến hành cấy.
4. Làm đất:
Đây là khâu quan trọng nhất trong quá trình canh tác, có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa. Đối với những thửa ruộng canh tác hai vụ lúa hoặc một vụ lúa xen một vụ ngô thì quá trình làm đất thường được tiến hành ngay sau khi thu hoạch. Một năm làm đất hai lần và vụ chính phải lùi lại chậm hơn khoảng nửa tháng so với ruộng cấy một vụ, công việc làm đất trở nên gấp gáp hơn tuy nhiên dù là ruộng một hay hai vụ thì việc làm đất bao giờ cũng phải đảm bảo đủ các bước và đúng kỹ thuật. Đối với những thửa ruộng chỉ cấy một vụ công việc làm đất thường bắt đầu ngay sau tết. Cũng như các dân tộc có truyền thống canh tác trên ruộng bậc thang khác công việc làm đất bao giờ cũng do những người đàn ông trong gia đình đảm nhiệm. Tuỳ thuộc vào từng gia đình mà sức kéo có thể là trâu hoặc bò. Các loại công cụ liên quan đến việc làm đất gồm có cày, bừa và cuốc.
Về kỹ thuật cày, bừa, đồng bào người ở đây thường làm 3 lần. Lần đầu trong khoảng từ tháng giêng đến tháng 3 âm lịch, tuỳ vào sự bố trí thời gian của từng gia đình. lần đầu này là cày khô hay còn gọi là cày ải, lúc này ruộng chưa có nước. sau khi cày song thì bừa qua một lượt để vơ cỏ. Sau đó để đất cho ải. Lần thứ hai không phụ thuộc vào thời gian, cứ ruộng nhà nào đưa được nước vào thì gia đình đó bắt đầu cày, bừa lần hai. Song song với việc cày, bừa lần thứ hai này các đồng bào cũng bắt đầu tiến hành đắp lại bờ để giữ và điều tiết nước trong ruộng. Lần cày, bừa thứ ba được tiến hành khi ruộng đã đủ nước và gieo mạ gần đến ngày cấy. Lần này nếu gia đình nào có nhiều phân chuồng, trước khi bừa lần cuối họ đem một lượng phân chuồng rải đều lên mặt ruộng sau đó bừa lại rồi mới tiến hành cấy lúa.
5. Gieo mạ và cấy:
Cũng giống như việc làm đất, gieo mạ và cấy lúa là công việc có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất của mùa vụ, chính vì vậy việc gieo mạ và cấy được đồng bào đặc biệt chú trọng.
Kỹ thuật gieo mạ: Đây là công việc thường dành cho những người phụ nữ. Nếu dùng giống địa phương thì thóc giống cũng được lựa chọn cẩn thận, thường phải được chọn từ những đám ruộng tốt nhất, gặt về sàng bỏ những hạt lép sau đó được cất kỹ trên gác bếp. Khi những người đàn ông bắt đầu bận rộn với việc cày bừa dưới ruộng thì những người phụ nữ cũng tiến hành làm đất gieo mạ trên nương. Việc chọn mảnh nương phù hợp để gieo mạ là rất quan trọng, thường thì mảnh nương đó phải nằm ở khu đồi thoải, đất tơi xốp, có độ màu và ít đá. Trước khi gieo mạ đồng bào phát sạch cỏ, phơi khô rồi đốt, tro được giữ lại làm tăng độ màu cho đất. Sau khi làm sạch đất, dùng cuốc bướm cuốc lật đất lên, dùng gáy cuốc đập cho tơi đất rồi vơ bỏ những rễ cây còn sót lại. Sau đó san phẳng và cào cho đất thật mịn, rồi mới reo hạt xuống, hạt reo xuống rồi lại phải tiếp tục cào phủ một lớp đất mỏng lên trên để mưa không làm trôi hạt đồng thời tránh bị chim, chuột đến ăn. Xung quanh mảnh nương đồng bào còn đào rãnh thoát nước để tránh những cơn mưa làm trôi đất. Hiện nay với những giống lúa lai đồng bào đã dần chuyển xuống gieo mạ ngay trên ruộng, tuy nhiên qua khảo sát hiện còn thấy một số gia đình vẫn giữ tập tục gieo mạ trên nương. Theo đồng bào cho biết gieo mạ nương vất vả hơn gieo dưới ruộng nhưng do cây mạ ở trên nương bị háo nước khi cấy xuống gặp nước sẽ phát triển nhanh hơn, cây mọc khỏe hơn, đẻ nhánh nhiều nên năng suất cũng cao hơn mạ gieo dưới ruộng. Việc gieo dưới ruộng tuy không vất vả bằng gieo trên nương nhưng cũng phải đảm bảo đầy đủ các bước như ngâm giống, làm đất mạ và gieo.
Kỹ thuật cấy: Vào khoảng giữa tháng 5 âm lịch, khi gieo mạ được chừng 25 đến 30 ngày, cây mạ lúc này đã cao 25 đến 30 cm và có từ 4 đến 5 lá. Đồng bào bắt đầu nhổ mạ đi cấy, khi nhổ mạ phải nắm sát gốc, nhổ từng cụm nhỏ rồi dùng dây chuối hoặc lạt tre bó thành từng bó đem xuống ruộng cấy. Khi cấy mạ được ném đều ra khắp mặt ruộng, đồng bào đeo theo người một giỏ phân chuồng đã ủ kỹ ở bên sườn, trước khi cắm cây mạ xuống phải chấm gốc dạ vào giỏ phân để cây mạ trực tiếp nhận được chất dinh dưỡng. Đối với đồng bào ở đây việc cấy đổi công giúp nhau đã thành nếp, bởi vậy khi cấy thường có rất đông người, họ xếp hàng và đi giật lùi từ đầu bờ tới cuối bờ. Khoảng cách giữa các khóm lúa khi cấy được áng chừng bằng một gang tay.
6. Chăm sóc và bảo vệ lúa.
Công việc chăm sóc và bảo vệ cây lúa diễn ra không thường xuyên nhưng nó được duy trì trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển cho tới khi thu hoạch. Việc chăm sóc và bảo vệ bao gồm các khâu như bón phân, làm cỏ và diệt trừ sâu.
Bón phân: Nguồn phân bón chủ yếu mà đồng bào ở đây sử dụng trong canh tác là phân chuồng và phân xanh, hàng ngay họ gom số phân tươi ở chuồng trâu, lợn, gia cầm... lại dồn vào thành đống riêng, dùng nilon hoặc bao tải phủ kín và để cho phân thật khô, sau đó đập cho tơi xốp, khi nào cần sử dụng thì vận chuyển đến ruộng. Phân xanh được làm từ cây chó đẻ cắt nhỏ ra rồi trộn với một lượng phân chuồng tươi nhất định sau đó cũng được ủ kỹ rồi mới đem ra sử dụng. Về kỹ thuật bón phân, trước khi bừa lần cuối đồng bào đem một lượng phân chuồng hoặc phân xanh ra rải đều lên mặt ruộng sau đó mới bừa lại, mỗi khi cấy lại chấm gốc mạ vào phân để rễ mạ trực tiếp nhận được nguồn thức ăn. Sau khi cấy xong đồng bào còn bón phân thêm hai lần nữa, một lần khi cấy được khoảng 15 ngày đồng bào cho phân chuồng vào chậu rồi đem ra bón từng nắm nhỏ vào khóm lúa, lần cuối là sau khi cấy khoảng một tháng. Hiện nay ngoài việc sử dụng ngồn phân chuồng, phân xanh là chủ yếu thì một số gia đình cũng đã sử dụng cả nguồn phân hóa học như đạm, lân, kali, tuy nhiên phân hóa học chỉ bón thúc một lần sau khi đã cấy mạ xuống ruộng, thường là bón vào lần cuối cùng.
Làm cỏ: Công việc làm cỏ được tiến hành sau khi cấy khoảng 40 ngày và chỉ được làm một lần duy nhất. Các loại cỏ thường thấy trên ruộng bậc thang là cỏ ấu, cỏ lác, cỏ gianh... Đây là những loại cỏ có rễ bán rất sâu nênviệc làm cỏ phải làm bằng tay. Khi thấy cỏ mọc trong ruộng đồng bào phải lội vào nhổ trực tiếp.
Trừ sâu: Do đặc điểm của ruộng bậc thang là cây lúa ít bị sâu, bệnh đặc biệt với những giống lúa địa phương giống khoẻ nên việc chống chọi với sâu bệnh rất tốt. Các loại sâu bệnh y ở cây lúa trên ruộng bậc thang là sâu cuốn lá, sâu đục thân và một số loại sâu ăn ngọn lúa, tuy nhiên rất hiếm khi xảy ra.
7. Thu hoạch và bảo quản.
Trước kia, người dân của huyện Hoàng Su Phì chủ yếu cấy giống lúa thuần địa phương nên thời gian sinh trưởng của cây lúa kéo dài khoảng hơn 4 tháng. Khoảng gần 10 năm trở lại đây tỷ lệ lúa lai cao sản được trồng đại trà thì thời gian sinh trưởng ngắn hơn. Tuỳ theo điều kiện khí hậu và độ chiếu sáng của từng năm mà thời gian từ khi cấy đến khi thu hoạch vào khoảng 100 -120 ngày.
Khi chuẩn bị đến ngày thu hoạch đồng bào tháo cạn nước để bắt cá chép ruộng và để ruộng khô cho dễ gặt và thuận tiện cho việc vận chuyển. Để thuận tiện cho việc đập lúa khi gặt thường được cắt sát gốc để dài thân. Lúa gặt xong được bó thành từng bó và đập hoặc tuốt hạt ngay tại ruộng. Sau khi gặt xong lúa được phơi ngay trên ruộng từ một đến hai ngày rồi mới đóng bao đem về cất vào bồ đựng thóc để trên gác. Đối với các loại lúa địa phương đồng bào sẽ chọn lúa giống cất riêng ra, bảo quản cẩn thận hơn để dành làm giống cấy vào vụ sau. Rơm được đồng bào phơi ngay tại ruộng cho khô rồi đem về cất lên mái chuồng gia súc dành làm thức ăn cho trâu bò. Gốc rạ được để luôn tại ruộng cho tự phân huỷ làm màu cho đất.

Sự tích trang phục và đồ trang sức của phụ nữ dân tộc Nùng.


Dành cho những người thích tìm hiểu
Ngày xưa, người Nùng rất giàu mạnh, cuộc sống no đủ và hạnh phúc. Bỗng một hôm vua người Hán sai quân đến xâm chiếm đất đai, cướp bóc của cải của người Nùng. Để bảo vệ đất đai, các thanh niên trai tráng tập hợp thành những đạo quân để chống lại. Quân giặc vốn tàn ác, nham hiểm, chúng bắt phụ nữ lấy cối đá đeo vào lưng, lấy kim bằng bạc cắm vào đầu, lại lấy những sợi dây xích bằng sắt buộc vào cổ, lấy vòng sắt đeo vào cổ tay sau đó bắt họ phải làm những công việc nặng nhọc để hành hạ nhằm làm cho các trai tráng nản lòng về quy hàng.
Nhiều ngày trôi qua, sức nặng của chiếc cối đá và vòng xích sắt đã khiến tấm lưng của người phụ nữ còng xuống nhưng họ vẫn một lòng nhớ đến chồng con đang đánh nhau với quân giặc để chờ ngày họ đến cứu.
Cuối cùng, câu chuyện về tấm lòng thuỷ chung của các phụ nữ người Nùng đã thấu đến tận tai vua người Hán khiến vua người Hán rủ lòng thương bèn sai quân lính tháo những chiếc cối đá, những vòng xích sắt ra khỏi cơ thể những chị em phụ nữ. Thay vào đó, vua người Hán sai may những tấm váy rộng bằng vải màu đen, phía trên cạp vặn soắn lại rồi dùng một dây vải treo lên ở phía thắt lưng tượng trưng cho chiếc cối đá. Lại sai quân lính đánh những chiếc vòng cổ (Hô căng), những chiếc dây xà tích bằng sắt (Sằn shồi), những cái vòng tay (ẳn khỏn) và chiếc nhẫn (Poọc mung) nhỏ hơn đeo vào cổ phụ nữ, đồng thời cho rút quân chấm dứt chiến tranh với người Nùng.
Hoà bình trở lại, các phụ nữ người Nùng được sum họp với gia đình. Để con cháu đời sau những ngày gian nan vất vả, các phụ nữ người Nùng đã mặc chiếc váy có chiếc cạp to phía sau và dùng nhiều những chiếc hô căng, sằn shồi để đeo vào cổ, dùng ẳn khỏn đao vào cổ tay, poọc mung đeo vào ngón tay. Từ đó, những đồ trang sức luôn được phụ nữ người Nùng đeo trên người đến tận ngày nay.

Thứ Sáu, 5 tháng 10, 2018

CHUYỆN Ở QUÁN NÉT CÔNG CỘNG



Chuyện ở quán internet công cộng.

I/ NHÂN VẬT:
1. Chị Tóe.
2. Anh Châu.
3. Giang - Cán bộ thư viện.
4. Chị Lúa.
II/ NỘI DUNG.
Chị Tóe:    Ối giời ơi, máy với chả móc... à kia rồi, bác gì ơi, bác chọc giúp em một cái. Đàn bà con gái em không biết làm nên chọc mãi mà chẳng ra được bác ạ.
Tiếng vọng: Bà kia nói cái gì thế, ban ngày ban mặt thế này tôi chịu, chả dám chọc đâu, xấu hổ chết. Mà người ta đang bận đọc báo, chọc chạch cái gì, bà tự mà làm lấy đi.
Chị Tóe:    Người gì mà khó tính thế nhể? bảo chọc giúp một cái thôi mà cũng kiệt sỉ, người ta chọc không ra được nên mới nhờ thôi. Anh cán bộ ơi, hộ tôi tý.
Giang:        (Đi vào) Dạ, em đây, có việc gì không chị?
Chị Tóe:    Khổ lắm, cái máy của chú nó thế nào ấy chứ cái máy của ông xã nhà chị nhậy lắm, cứ chọc một cái là ra luôn thằng con, chọc một cái lại ra cái chữ, thế mới lạ. Hôm nay ông chồng chị đi vắng nên chị phải tự làm nhưng chọc mãi, chọc mãi mà chẳng ra được cái gì cả. Chú! chú chọc giúp chị một tý, nhể?
Giang:        Chọc cái gì hả chị?
Chị Tóe:    Thì chọc cái máy của chú cho chị mượn ấy... mà hình như là nó hỏng rồi hay sao ấy, chủ đổi cho chị cái này nhá... nhá.
Giang:        Cái máy tính này là để soạn văn bản hoặc truy cập Internet chứ có phải cái bàn bi a đâu mà chọc.
Chị Tóe:    ấy ấy... đúng rồi! chú vừa nói cái gì ấy nhỉ?
Giang:        Cái máy tính này là để soạn văn bản hoặc truy cập Internet chứ không phải để chọc chị ạ.
Chị Tóe:    Đấy, đúng rồi. Chả là chị có thằng con trai đi xuất khẩu lao động ở Ma lai mấy tháng rồi. Chị thấy mỗi lần nhớ nó, ông chồng chị lại mở máy ra rồi chọc mấy cái vào in nhét hu hu ấy, thế là thằng con hiện ra ngay, bố con vừa ngắm vừa viết thư cho nhau thỏa mái, vui lắm. Chú giúp chị làm in nhét y hu hu một tý đi để chị gặp nó cái.
Giang:        à! đó không phải là in nhét hu hu như chị nói mà nó là Internet và yahoo. Đấy là tiện ích rất thông dụng để mọi người trao đổi thông tin trên mạng Internet.
Chị Tóe:    Chị thì cứ quen tiếng Tày, tiếng Dao rồi, giờ nói tiếng Tây nó khó lắm. Thôi, chú cho chị gặp thằng con một tý, hết bao nhiêu tiền chị trả ngay.
Giang:        Chị ơi, đây là điểm truy cập Internet công cộng miễn phí do Dự án nâng cao khả năng sử dụng máy tính và truy cập internet công cộng tại Việt Nam tài trợ để phục vụ tất cả mọi người. Đến đây chị có thể đọc báo, xem tin tức thời sự trong nước và quốc tế hoặc có thể làm văn bản, viết thư từ mà không phải trả tiền đâu.
Chị Tóe:    Ô! thế à, thế thì tốt quá nhỉ, mà này chú: Nếu miễn phí không phải trả tiền thì ai cũng chọc cái máy này được à?
Giang:        Chị ơi, dùng máy tính người ta gõ hoặc bấm phím chứ không phải là chọc. Tất cả mọi người chúng ta nếu tuân thủ mọi nội quy của điểm truy cập thì mọi người đều có thể vào sử dụng máy chị ạ.
Chị Tóe:    ừ, hay đấy, thế thì chị về sẽ rủ thêm mọi người đi cùng. Nhưng mà... chú ạ, ở xã chị toàn những người quanh năm chỉ biết đến cái cày cái bừa, ngón tay to cứ như quả chuối, cả đời chưa được sờ vào máy như chị, đến nơi họ chọc hai phát hỏng máy của chú thì có mà mang nợ.
Giang:        Chị ơi, mục đích của Dự án là nâng cao khả năng sử dụng máy tính và internet cho mọi người, nhất là vùng nông thôn nên chị cứ bảo mọi người đến đây, có gì chúng em sẽ hướng dẫn cho các chị. Đây, mời chị ra đây em sẽ hướng dẫn cho chị sử dụng.
Chị Tóe:    ồ, cảm ơn chú nhá.
Chị Tóe ngồi vào máy tính, vừa lúc đó anh Châu vào.
Châu:         Chào anh cán bộ, ở đây cho thuê máy tính phải không nhể?
Giang:        Chào anh, ở đây máy tính phục vụ miễn phí, tất cả những ai tuân thủ nội quy của phòng máy thì đều được sử dụng. Mời anh vào đây ạ.
Châu:         Ồ, thế thì hay quá, anh cho mượn một tý nhá.
Anh Châu vào mở máy và gõ mấy cái vào bàn phím.
Châu:         Hay!... quá hay... Giời ơi, nó vừa to vừa dài, cơ bắp nổi cuồn cuộn thế này thì làm gì mà chả ... Chơi này... chơi này... ấy! đừng chơi vào mông thế kia, vòng ra trước đi chứ...
Chị Tóe:    Ông gì ơi sao mất trật tự thế, nói bé thôi để người ta còn trò chuyện chứ (Đập mạnh vào bàn).
Châu:         (Giật mình), ối giời, làm người ta giật cả mình. Thôi! đang hay lại mất bố nó rồi, tại bà ấy, tự nhiên lại vào đập một cái làm hỏng cả máy của người ta.
Chị Tóe:    Tại ông ấy, cứ nói chuyện rầm rầm lại còn đập bàn đập ghế ai mà chịu được. Đã thế dùng máy mà chẳng có tý lịch sự nào cả, cứ nói rõ to: Chơi vào mông, chơi vào mông, xấu hổ bỏ mẹ.
Châu:         Thì tôi đang xem chọi trâu chứ có xem cái gì đâu mà xấu hổ, mà xem chọi trâu thì phải hô mới khoái chứ.
Chị Tóe:    à, thì ra ông đang xem chọi trâu, nhưng phải giữ trật tự một tý cho bà con nhờ ông ạ, ông cứ làm như đây là nhà ông ý.
Châu:         Thôi được rồi, tôi xin rút kinh nghiệm. Và bà cũng im đi cho tôi nhờ để tôi xem nốt, nhá.
Châu:         (Tiếp tục gõ máy tính rồi trố mắt nhìn) ối! cái gì thế này? ... (Nhắm mắt lại, lấy tay che mặt rồi lại mở mắt và nhìn qua kẽ ngón tay, vẻ xấu hổ). ối!!! cán bộ ơi, không xem cái này đâu, nó làm xấu lắm.
Chị Tóe:    (Ngó sang) ối giời ôi! cái ông giời đánh này, già rồi mà còn dê cụ... Báo cáo chú cán bộ, cái ông này... ông này ông ấy dùng máy tính để mở cái phim... ối giời... xấu lắm cán bộ ơi, không thể xem được đâu. Ông là ông xem phim ngoài luồng nhá, rõ ràng lúc nãy tôi nghe thấy ông bảo “Vào mông, vào mông” xem phim ngoài luồng lại còn bảo xem chọi trâu, tôi đề nghị chú cán bộ tắt ngay đi ạ.
Giang:        (Vào sân khấu): Gì thế bác?
Châu:         Tôi chịu, đang xem chọi trâu thì tự nhiên đi đâu mất, gõ mấy cái thì lại nhảy ra cái phim này chứ tôi có chủ định mở nó để xem đâu. Cán bộ tắt nó đi hộ tôi cái.
Chị Tóe:    Ông nói thế nào ấy chứ, cái y hu hu tôi chọc mãi còn không ra, thế mà cái phim này ông không chọc mà nó tự ra được à. Để tôi tắt cho (Đứng dậy rút ố cắm điện máy tính ra khỏi ổ điện).
Giang:        Ấy ấy! chị ơi, chị tắt máy sai quy trình rồi.
Chị Tóe:    Ô! thế á? Chị tưởng tắt máy tính nó cũng như cái ti vi, rút điện ra một phát là xong, có mà sét đánh cũng không sợ cháy.
Giang:        Trước khi tắt máy tính ta phải tắt hết các chương trình đang hoạt động trên máy để lưu giữ thông tin và để máy tính không bị lỗi, sau đó mới tắt máy và tắt nguồn điện, nếu tắt đột ngột như vậy thì sẽ nhanh hỏng máy lắm chị ạ.
Châu:         Khổ lắm, dùng cái máy tính sao mà khó thế, chọc mà không đúng thì có mà vỡ máy cũng không ra, nếu chọc nhầm thì nó lại ra cái khác, như cái phim của nợ này này. Tôi là tôi gõ nhầm chứ không chủ định thế. Thôi, để tôi mở lại.
Vừa lúc ấy chị Lúa bê rổ rau lợn vào
Chị Lúa:    Chào anh cán bộ, chào các ông các bà nhá, ối giời, may quá cứ tưởng là không có ai, làm tôi cố hái xong rổ rau lợn để lên đây vì sợ muộn, thằng con thì cứ giục ồi ồi bảo là không đến nhanh, cán bộ đóng cửa sớm. Cán bộ à, cho tôi hỏi cái! ở đây có dạy cách nuôi chó lai lợn không nhể?
Chị Tóe:    Cái chị này, muốn học cách chăn nuôi thì phải lên Phòng nông nghiệp hay trạm thú y, chứ ở đây chỉ có làm cái máy tính thôi.
Chị Lúa:    Thì tôi có biết đâu, thằng con tôi nó bảo thế mà.
Giang:        Bác à, đây là điểm truy cập Internet công cộng để phục vụ bà con ta đến khai thác thông tin như đọc sách báo, xem ti vi hoặc giải trí như nghe nhạc, chơi game và tập sử dụng máy tính thôi.
Chị Lúa:    Thì rõ là thằng con trai mình vừa hôm qua nó còn đến đây được các chị sinh viên tình nguyện của cái cơ quan gì ấy ở Hà Nội đến hướng dẫn cho mà, nó bảo ở đây có cái chương trình “Gâu gâu chấm éc éc” mà lại.
Châu:         Bà này nhầm, nhầm to rồi. Đấy là mạng internet chứ gâu gâu éc éc gì ở đây. Đây! tôi còn cả cái quyển sách hướng dẫn đây này, thích thì tôi cho mượn mà nghiên cứu nhá.
Giang:        (Xem cuốn sách): à, đúng rồi, bác ơi đây là sách giới thiệu về mạng Intenet gọi là Go.vn của Việt Nam ta chứ không phải là Gâu chấm éc éc đâu, đây là mạng máy tính do Tổng công ty truyền thông đa phương tiện VTC triển khai nhằm tạo điều kiện cho người dùng Việt nam lần đầu tiên tiếp cận với máy tính. Bác vào trang mạng này thì có thể tìm được rất nhiều thông tin về các lĩnh vực trong cuộc sống hàng ngày. Nếu bác có nhu cầu tìm hiểu những kiến thức về chăn nuôi thì có thể sử dụng máy tính để vào mạng tìm đọc rất nhiều những bài viết hướng dẫn về lĩnh vực này đấy bác ạ.
Chị Tóe:    Đấy thấy chưa, chị đã bảo mà, người miền núi quen với tiếng Tày, Dao, Mông rồi, bây giờ nói tiếng Tây toàn là y hu hu, nào là gúc gồ, rồi thì Gâu chấm éc éc, nghe khó vào cái tai lắm.
Chị Lúa:    Chả là nhà tôi mấy năm nay nhờ phát triển chăn nuôi lợn đen, gà đen, vịt cổ cườm mà khấm khá có đồng ra đồng vào lên nên ông nhà tôi cứ nghe nói ở đâu có loài vật nuôi gì mới là đòi mua về bằng được. Hôm qua nghe thằng con nói ông nhà tôi thì nặng tai nghe không ra cứ tưởng Gâu chấm éc éc tức là loài vật nuôi giống mới - là chó lai lợn nên bảo tôi phải đến đây tìm hiểu xem có làm ăn gì được không. Mà cán bộ này, Sao cán bộ không dùng ngay tiếng nước ta để sử dụng máy tính đi mà cứ dùng cái tiếng Tây làm gì cho khó ra nhể.
Giang:        Chị ạ, máy tính này sử dụng Internet, mà internet thì sử dụng trên phạm vi toàn thế giới để giao tiếp với nhau nên phải sử dụng các từ phiên âm nước ngoài.
Chị Lúa:    Nhưng chúng tôi là đàn bà nông thôn ít chữ, anh có cách nào giúp chúng tôi dùng cái máy nó dễ hơn không.
Giang:        Đây, cháu có tập tài liệu này, có cả một số địa chỉ mạng hữu ích nữa, khi muốn vào mạng internet thì các bác đọc những danh mục này để lựa chọn các lĩnh vực yêu thích và đánh những chữ này vào đây, sau đó gõ phím Enter này là có ngay. Đây bác xem: Nếu Bác có người thân ở nước ngoài đi xuất khẩu lao động chẳng hạn thì có thể dùng phần mềm này để trò chuyện và xem hình ảnh nữa. Còn Bác, nếu muốn tìm hiểu kiến thức lao động sản xuất thì vào trang này. Sau này khi dùng thạo rồi các bác có thể dùng rất nhiều các tiện ích khác của mạng Internet nữa.
Chị Tóe:    ấy ấy, dừng lại, dừng lại một tý, sao có cái ảnh khu ruộng bậc thang của nhà chị ở trong máy tính này nhỉ? đấy đấy, đúng rồi, đúng nhà chị đây rồi...
Châu:         Cái bà này, ai chả biết là quê bà có ruộng bậc thang vừa được công nhận di sản, trên mạng có đầy ra rồi vẫn còn khoe.      
Chị Tóe:    Thích thật đấy bà con ạ, nhà tôi thế mà cũng được đưa lên mạng cho cả thế giới biết đấy. Tôi phải gọi cho thằng con cho nó biết để nó khoe bạn bè nó.
Giang:        ấy, gọi điện ra nước ngoài đắt lắm, chị có thể dùng cái tai nghe này để nói chuyện với con trai bác.
Chị Tóe:    Thế mà từ nãy chú không bảo làm chị gõ toàn trượt, mãi chả được một chữ. Dùng cái này cũng thấy hay phết nhể. Thế có rễ nghe không chú?
Giang:        Nghe rõ, rõ như nghe điện thoại luôn.
Chị Tóe:    Thích nhể, Hay chú cho chị mượn cái này về nhà mấy hôm rồi trả đi.
Chị Lúa:    Đúng đấy cán bộ ạ, nhà tôi cũng không có cái máy này, hay là cán bộ cho tôi mượn cái máy của cán bộ vài hôm trả được không. Tôi hứa sẽ giữ máy cho cán bộ, hỏng đến đâu đền đến đấy.
Giang:        ấy không được chị ạ. Điểm truy cập này là để phục vụ chung cho mọi người. Toàn bộ máy móc thiết bị được lắp đặt cố định không được thay đổi vị hay vận chuyển đi nơi khác. Đây, chúng em còn có cả bảng nội quy đây ạ, tất cả mọi người khi tham gia hoạt động tại điểm truy cập đều phải tuân thủ nội quy này. Các bác, các chị đến đây có gì không hiểu chúng em sẽ hướng dẫn cho các chị sử dụng.
Châu:         Đúng đấy, mang về thế nào được, tôi là tôi cứ đến đây, có gì không biết thì cán bộ làm giúp, không biết mà tự làm có khi còn cháy máy là chết ấy chứ.
Chị Lúa:    Thế thì vất vả cho cán bộ quá. Mà này, tôi thì tôi chưa biết dùng đến cái máy này, cán bộ giúp tôi dùng với được không.
Giang:        Được, chị ạ, nếu chị và mọi người muốn sử dụng máy tính thì có thể ở đây để chúng em hướng dẫn cho các chị. Đó là nhiệm vụ của cán bộ thư viện chúng em mà.
Chị Lúa + chị Tóe: ồ! thế thì cảm ơn cán bộ nhiều lắm.

HẾT.





TRUYỀN THUYẾT CẢN LỦNG (THẦN RỪNG)


  KỊCH BẢN CHƯƠNG TRÌNH NGHỆ THUẬT
Truyền thuyết Cản Lủng - di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia Lễ cúng rừng (mo Đống Trư) dân tộc Nùng huyện Hoàng Su Phì.

- Kịch bản và lời dẫn: Trần Chí Nhân.
- Đạo diễn dàn dựng: Trần Chí Nhân - Thu Hiên.
- Thiết kế sân khấu, đạo cụ: Trần Chí Nhân, Nguyễn Đức Trang.
- Âm nhạc, tiếng động: Đức Tần.
TT
NỘI DUNG
THỜI LƯỢNG
DIỄN XUẤT
ÂM THANH, ÁNH SÁNG
TRANG PHỤC, ĐẠO CỤ

Phân cảnh 1:
8 phút



1
Lời dẫn.
Dân tộc Nùng là một trong những dân tộc chiếm đa số trong cơ cấu các dân tộc của huyện Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang. Địa bàn sinh sống chủ yếu tập chung ở các xã phía bắc và phía tây như: Pố Lồ, Thàng Tín, Đản Ván, Tân Tiến, Sán Sả Hồ, Pờ Ly Ngài, Nàng Đôn, Tụ Nhân, Chiến Phố, Bản Nhùng...
Chuyện xưa kể rằng: Cách đây mấy trăm năm các tộc họ dân tộc Nùng cùng một số dân tộc khác như Tày, Mông, Dao cùng sống yên vui và sung túc quanh các sườn núi. Dưới sự cai quản của một vị tù trưởng thông minh tài trí là Cản Lủng và phó tướng là ông Tí Táo cùng 2 cận thần là ông Bảo và ông Liều, được ông dạy cách trồng lúa nước trên các thửa ruộng bậc thang, trồng ngô, đậu tương, trồng bông dệt vải trên nương dẫy. Cuộc sống ấm no nhà nhà hòa thuận, khắp các thôn bản đâu đâu cũng đầy ắp tiếng cười, lời ca tiếng hát rộn vang sườn núi. Vì vậy, Cản Lủng được mọi người tin yêu, tôn là Thủ lĩnh.

Cảnh sinh hoạt, lao động sản xuất của các nhóm dân tộc Nùng: Nam rèn đúc nông cụ, nữ quay xa dệt vải, thu hoạch lúa, một nhóm khác đang đánh yến, ném còn.
Cản Lủng và 3 cận thần vừa đi vừa vuốt râu đi vào vẻ hài lòng, đến giữa sân khấu thì cả 4 người quay ra phía trước, Cản Lủng chỉ tay giới thiệu các vùng đất cho các cận vệ, sau đó đi ra.

Nhạc dựa trên nền ca khúc Tiếng sáo nài.
Bối cảnh là một khu rừng với nhiều cây to và tre vầu. Trang phục dân tộc Nùng.
Đạo cụ: 01 lò rèn đúc, 01 máng đập lúa, 3 - 5 chiếc gùi, quả còn, quả yến và vợt.

Ca khúc: Tiếng sáo nài của NS Trùng Thương.

Song ca nam nữ bài Tiếng sáo nài.
Đèn tối dần khi kết bài
Nhóm múa phụ họa.

Phân cảnh 2:
5 phút




Lời dẫn.
Trải qua nhiều năm, cuộc sống yên bình ấm no sung túc của các thôn bản miền biên ải của huyện Hoàng Su Phì khi đó đã khiến cho nhiều thế lực ganh ghét ghen tỵ.
  Một ngày kia, bọn giặc từ Phương bắc đã tràn xuống các làng bản phía nam, trong đó có nơi định cư của các gia đình tộc họ dân tộc Nùng huyện Hoàng Su Phì, chúng cậy sức đông, quân mạnh đã ra sức cướp bóc của cải, chém giết dân lành, đẩy bao người vào cuộc sống ly tán lầm than.
Già Seo: Ô dô Mề ơi, sao ta lại khổ thế này, ông trời ơi, ông không thương người Nùng ta nữa rồi... Lũ cướp kia, sao chúng mày tàn ác, nỡ giết hại dân lành như thế này...
Chế Sao: Mề ơi, cố lên, ta phải vào rừng sâu thôi, ở đó cỏ cây sẽ che trở cho ta  khỏi tay quân giặc tàn ác, ta ở lại sẽ không chống lại được với chúng đâu…
Sào Văn: Mề ơi, mọi người ơi cố lên đi, bọn giặc dù có tàn ác nhưng cũng không thể giết hết được người Nùng chúng ta, người Nùng ta còn có Cản Lủng, còn có tổ tiên, có trời đất, tổ tiên trời đất, núi rừng này sẽ bảo vệ chúng ta, Cản Lủng sẽ bảo vệ chúng ta…
Già Seo: Các con ơi, hãy đi… hãy đi đi, mề già rồi cái thân này không tiếc nữa…
Tướng cướp: Ha ha…. Chúng bay chạy đâu cho thoát! Tưởng gì chứ mấy kẻ chân không tới đất, cật không tới trời thế này thì làm sao chống tại được bọn ta. Còn mi nói sao? Cản Lủng hả? hắn ta…. Ha ha…. Hắn ta đang hấp hối chỉ đợi cái chết đang đến từ từ, từ từ, vì… vì đã bị tay chân của ta đầu độc từ nguồn nước ngầm mà hắn ta và đám tùy tùng vẫn uống hàng ngày rồi….
Già Seo: Sao! mày nói sao! Cản Lủng đã bị đầu độc ư?
Sào Văn: Ngươi… mày thật là ác độc.
Tướng cướp: Bọn mi không tin sao? Nếu hắn ta không bị đầu độc thì làm sao mà bọn ta dễ dàng đến được đây để giành lấy đất đai, rừng rú của các người. Quân bay!
Tất cả: Dạ!...
Tướng cướp: Bắt tất cả bọn này, đem về làm trâu làm ngựa để hầu hạ chúng ta…
Tất cả: Xin tuân lệnh!
Tướng cướp: Ha ha!... Thế nào? Bọn bay chỉ có bấy nhiêu người thế này thì làm sao chống chọi lại được với bọn ta (Lấy chân đạp một phụ nữ): Ngươi… nếu muốn sống thì hãy nói cho ta biết Cản Lủng giờ đang ở nơi nào?
Tất cả ngạc nhiên nhìn nhau.
Phụ nữ: Thì ra… thì ra Cản Lủng vẫn còn sống, đừng tin chúng, mọi người ơi, thủ lĩnh của chúng ta vẫn còn…
Tướng cướp: Khôn hồn thì nói mau, Cản Lủng ở đâu?
Phụ nữ: Cản Lủng còn thì người Nùng ta còn, thân già này chết cũng được, rồi sẽ có ngày Cản Lủng sẽ giúp chúng ta báo thù chúng mày…
Tướng cướp: Quay ra vừa hỏi vừa đá vào lưng người khác: Cản Lủng ở đâu, nói mau…
Tất cả đều lặng im, một tên cướp chạy vào nói.
Cướp:  Dạ thưa Chủ tướng,
Tướng cướp: Có gì nói mau.
Cướp: Dạ thưa, lũ con trai người Nùng chúng đã theo Cản Lủng trốn vào mãi rừng sâu, chúng thần đuổi theo nhưng do bị rừng cây che chắn nên không bắt được ạ…
Tướng cướp: (Bực tức) Quân bay!
Tất cả: Dạ!
Tướng cướp: Lũ đàn bà này ngoan cố, quân bay! hãy lấy cối đá treo vào lưng, lấy xích sắt treo vào cổ, lấy vòng sắt xích vào tay để xem chúng còn gan lì được bao lâu rồi đưa tất cả bọn này về doanh trại cho ta.
Tất cả: Xin tuân lệnh…

Cảnh diễn mô tả loạn loạc.
Một nhóm khoảng 10 - 12 người gồm cả già, trẻ, nam, nữ ăn mặc rách rưới cõng bế nhau chạy vào sân khấu, đến giữa sân thì ngã xuống, một số người vào đỡ dậy.











Một nhóm cướp nghênh ngang vào.




Cả bọn cướp xông vào kéo, đánh đập,



Cả nhóm xông vào bắt bớ, hai bên đánh nhau tạo ra một khung cảnh hỗn loạn, nhóm nam giới chống chọi lại bọn cướp, sau đó lùi dần và ra ngoài. Nữ giới sau một hồi chống cự đã bị bắt và gom vào một nhóm.














Cả nhóm cướp lấy cối đá, xích sắt treo lên người nhóm phụ nữ và đưa mọi người ra.
Đèn sáng dần.
Nhạc nền là tiếng trống và tiếng gió thổi sầm sập, tiếng ngựa hí vang, tiếng trẻ con kêu khóc xen lẫn tiếng gươm đao.










Tiếng trống trầm xen lẫn tiếng thanh la dồn dập.








Ánh sáng chớp tối - sáng.



















Ánh sáng tối dần khi mọi người ra ngoài sân khấu.



Người dân trang phục dân tộc Nùng, váy xuông không có cuộn vải phía sau, ăn mặc rách rưới, lưng đeo gùi, một số cầm gậy gộc









Bọn cướp ăn mặc tạp nham loang lổ, chân đi ủng



























Tất cả nữ giới dân tộc Nùng đều bị còng tay và đeo cối đá, xích sắt

Phân cảnh 3
5 phút




Lời dẫn:
Lại nói về Cản Lủng và các thanh niên trai tráng người Nùng, vốn xuất thân từ cuộc sống lao động, quanh năm chỉ biết cày cấy gieo trồng mà chưa quen với binh đao khói lửa nên đã phải rút vào rừng sâu để bảo toàn lực lượng. Được rừng núi bảo vệ che chắn, các nhóm thanh niên dân tộc Nùng dưới sự chỉ huy của Cản Lủng và các hộ vệ thân tín là các ông Tí Táo, ông Bảo và ông Liều đã xây dựng lán trại, đào hào đắp lũy để chống lại quân giặc.
Nhưng bọn giặc nham hiểm tàn ác với dã tâm hòng cướp đất, cướp làng của các tộc họ người Nùng, chúng đã thả thuốc độc vào nguồn nước. Và không may, trong một lần đi tuần Cản Lủng cùng một số tùy tùng đã bị trúng độc của quân giặc. Hôm ấy nhằm ngày mùng 2 tháng 2 âm lịch, ông đã thác về trời.

Các nhóm thanh niên nam giới dân tộc Nùng rèn mài dao kiếm, tập luyện võ thuật, một số thì cầm giáo đi tuần quanh sân khấu.

Ánh sáng mạnh, tiếng gió thổi, tiếng nước chảy xen lẫn tiếng chim, thú rừng.
Cảnh rừng rú, một vài búi lau sậy và cây lem có hoa.

02 lò rèn đang hoạt động, gươm giáo…

Tùy tùng 1: Cấp báo, cấp báo…
 Tí Táo: Poóng pì noóng... tưng pống khầu vị trí!
Tí Táo: Cản Lủng! Cản Lủng… hãy tỉnh dậy đi, các ngươi! Cản Lủng của chúng ta làm sao thế này?
Tùy tùng 1: Dạ thưa, trên đường đến doanh trại quân địch để thám thính cứu dân làng, Cản Lủng thủ lĩnh khi uống nước tại khe suối đầu nguồn đã bị trúng độc của quân giặc nên đã mất rồi ạ.
Tí Táo: Lũ giặc hèn hạ, rồi chúng bay sẽ không thoát khỏi lưới trời lồng lộng này.
Tùy tùng 2: Thưa Phó tướng, hiện nay tất cả các nguồn suối đều đã bị quân địch bỏ thuốc độc nên không thể dùng được nữa ạ
Ông Bảo: Thế còn mọi người, đàn bà và trẻ em giờ ra sao rồi.
Tùy tùng 1: Dạ thưa, tất cả chị em phụ nữ từ già đến trẻ đã bị chúng bắt để làm con tin hòng dụ chúng ta ra hàng để tiêu diệt. Mặc dù bị bọn giặc tàn ác hành hạ dã man nhưng tất cả mọi người đều không chịu khai để bảo vệ Cản Lủng, bảo vệ chúng ta.
Tí Táo: Hỡi tưng lài pi noóng, quân giặc thật là tàn ác hiểm độc, bọn chúng không từ thủ đoạn nào để triệt hạ nhằm cướp đất, cướp làng, cướp đi cuộc sống bình yên của người Nùng chúng ta, chúng bắt giết, đánh đập hành hạ vợ con chúng ta như con trâu con chó. Không có con đường nào khác nữa rồi, chúng ta phải đoàn kết, phải đứng lên để giành lại rừng núi này, giành lại cuộc sống này của chúng ta, đây cũng là ý nguyện của Cản Lủng minh chủ, Cản Lủng đã về với tổ tiên, với Hạn Hung, chúng ta không thể phụ lòng Cản Lủng. Tất cả nghe rõ không?
Tất cả: Rõ!
Tí Táo: Bây giờ, tất cả già, trẻ chúng ta hãy lập Vạt mẩu, giết trâu lập đàn tế để cầu xin Hạn Hung mở cổng nhà trời cho Cản Lủng về với tổ tiên, cầu xin Hạn Hung phù hộ cho người Nùng ta có thêm sức mạnh để giết sạch quân thù.
Tùy tùng 1: Dạ thưa Minh chủ, hiện nay tất cả các nguồn nước đã bị quân địch đầu độc, chúng ta không có nước để nấu cơm làm đồ cúng tế nữa rồi.
Tí Táo:
Chúng ta dù lâm vào cảnh khốn cùng nhưng trái tim ta sáng, cái lòng ta trong thì trời đất sẽ thương ta, Cản Lủng sẽ thương ta. Poóng pi noóng! hãy giết trâu để lấy tiết thay nước nấu cơm, lấy bông hoa lau kia thay vải làm vạt mẩu, lấy thịt trâu để hoóc xẹc cho Cản Lủng và làm đồ lễ dâng lên Hạn Hung để cầu xin vua trời giúp đỡ!

Các nhóm nhanh chóng tản ra cảnh giới, một nhóm cùng Tí Táo chạy ra, sau đó cùng các hộ vệ khiêng cáng đưa Cản Lủng vào.











Cả nhóm đứng nghiêm trang xung quanh cáng Cản Lủng.









Các tùy tùng đi một vòng xung quanh sân khấu, sau đó ra ngoài, sau đó từng nhóm người mang 4 chân trâu, đầu trâu và mâm xôi đen vào đặt lên một chiếc bàn. Một nhóm khác lấy các bông hoa lau dựng vạt mẩu và đàn lễ. Tí Táo làm chủ lễ đứng trước đàn tế, số còn lại đánh chiêng trống…
Ánh sáng chủ đạo màu vàng, tiếng trống và thanh la trầm thúc từng hồi rền rĩ, sau đó nhỏ dần và tắt.






















Tiếng trống chiêng, thanh la xen lẫn tiếng gió thổi.
Ánh sáng chớp tối sáng từ phía trước và một bên sân khấu tạo nền ảm đạm của buổi xế chiều.
Nhóm hộ vệ vác gươm đao, giáo mác, 4 người khiêng cáng.
























Một bộ trống chiêng của dân tộc Nùng, 2 bó hoa cỏ lau, một chiếc bàn làm đàn lễ, 4 chiếc chân và 1 chiếc đầu trâu, 1 mâm xôi đen.

Phân cảnh 4:





Lời dẫn:
Tội ác của lũ giặc cướp đã gây lên thảm cảnh đau thương và cái chết của Cản Lủng - vị minh chủ của các tộc họ người Nùng huyện Hoàng Su Phì cùng sự kiên cường gan dạ của các trai làng gái bản một lòng một dạ vì quê hương cuối cùng đã thấu đến tận trời khiến cho vua trời là Hạn Hung động lòng.
Một ngày đầu tháng 7 âm lịch, Hạn Hung đã cử quân binh, thiên tướng nhà trời xuống hạ giới để giúp các tộc họ người Nùng chống lại quân giặc.
Buối sáng sớm, các quân binh từ thiên đình xuống đến địa phận các xã Ngàm Đăng Vài, Tân Tiến, Đản Ván. Vui mừng vì được thiên binh nhà trời giúp sức, các thanh niên trai tráng dân tộc Nùng đã mổ gà đồ xôi tiếp đãi và nô nức cầm giáo mác đi theo, đến đâu đánh cho quân giặc tan hoang đến đó. Buổi trưa thì quân binh nhà Trời đến địa phận các xã Pố Lồ, Tụ Nhân, Sán Sả Hồ, Pờ Ly Ngài và dẹp tan được quân giặc. Các chị em phụ nữ dân tộc Nùng được giải phóng trở về đoàn tụ với gia đình.

Tiếng cười vang vọng từ bên ngoài. Mọi người sợ hãi chạy lùi về một bên sân khấu tay che mắt ngẩng nhìn lên trời theo hướng từ bên cạnh phía đối diện và nhìn vòng về phía trước sân khấu, sau đó lại nhìn về phía cánh gà cho đến khi quân binh nhà trời xuất hiện.
Các quân binh nhà trời cầm gươm, giáo mác chạy vào và đi một vòng quanh sân khấu, sau đó một nhóm giặc xuất hiện và giao tranh với quân nhà trời một lát thì thua chạy.
Tiếng sấm sét và chớp lòa, tiếng trống thúc dục vang rền.
- Quân binh nhà trời trang phục cổ trang, chân đi hài.
- Trai tráng người Nùng trang phục dân tộc, tay cầm giáo mác, cung tên...

Lời dẫn:
Vui mừng trước chiến thắng, các thủ lĩnh phụ tá của Cản Lủng gồm ông Tí Táo, ông Bảo và ông Liều đã sai các trai tráng mở hội mổ trâu, đồ xôi thết đãi thiên binh thiên tướng. Và, trong ngày chiến thắng này Hạn Hung đã cưỡi mây vi hành xuống hạ giới.
Tí Táo: Hạn Hung vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế…
Hạn Hung: Mọi người, bình thân.
Hạn Hung: Đã bao đời nay, người Nùng, người Dao, Người Tày, người Mông và các dân tộc khác cùng nhau chung sống hòa thuận trên mảnh đất này, vậy mà nay, chỉ vì lòng tham mà lũ giặc kia đã nỡ xuống tay thảm sát đồng loại, đoạt cướp tài sản gây lên tang tóc đau thương, tội đó đáng bị đày xuống a tì địa ngục. Còn người Nùng các ngươi đã kiên cường gan dạ bảo vệ quê hương, có Cản Lủng và các tùy tùng tâm sáng lòng trong, lại được cây rừng chở che bảo vệ. Tiếng thơm đó đã thấu tận Thiên đình.
Nay ta truyền ý chỉ:
Kể từ nay, phong Cản Lủng là Thần Rừng, lấy ngày mùng 2 tháng 2 hàng năm là ngày cúng tế, mỗi thôn bản phải dành những khu rừng có địa thế đẹp làm nơi tôn nghiêm để lập miếu thờ, các con cháu người Nùng phải có trách nhiệm bảo vệ tôn tạo khu rừng cho ngày một tốt tươi, không được chặt cây bẻ cành hay làm bẩn nguồn nước. Cũng kể từ nay, lấy ngày chiến thắng mùng 1 tháng 7 hàng năm là ngày tết của dân tộc Nùng, các gia đình, thôn bản được mở hội, uống rượu mừng công.
Còn các phụ nữ dân tộc Nùng có tấm lòng thủy chung gan dạ, cam chịu đau đớn tủi nhục để bảo toàn danh tiết và gia đình, chồng con. Nay ban tặng một nghìn lượng bạc, mười nghìn sải vải và cử sứ thần xuống truyền dạy nghề thủ công để rèn bạc thành chiếc sằn sồi thay cho sợi xích sắt, rèn chiếc ẳn khỏn thay cho chiếc còng tay làm đồ trang sức, dạy lấy vải may thành chiếc pẳn pái thay cho chiếc cối đá sau lưng để các con cháu người Nùng đời đời về sau mãi ghi nhớ tấm lòng thủy chung gan dạ của họ.
Tất cả: Chúng thần tuân chỉ, Hạn Hung vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế…
Hạn Hung: (Cười vang) Ha ha……

Hạn Hung và các tùy tùng vào sân khấu, quân binh đứng thành 2 hàng, Hạn Hung đứng trên bậc cao trang trí như 1 ngọn núi. Tất cả các quân binh và trai tráng người Nùng quỳ chân vái lạy.
Tất cả mọi người cùng đứng dậy.













Một tốp 6 nữ dân tộc Nùng mặc trang phục đúng mẫu truyền thống đầy đủ đồ trang sức vào sân khấu, sau đó đứng thành 1 hàng 2 bên phía trước sân khấu.
Hạn Hung cười vang và đi ra. Khi đèn bật sáng thì mọi người ngỡ ngàng vì Hạn Hung đã biến mất. Tất cả mọi người dõi theo phía ngoài sân khấu..
Nhạc nhộn, giai điệu hành khúc.





















Ánh sáng chợt chớp tối sáng liên tục, tiếng sấm rền. Khi Hạn Hung và tùy tùng ra hết sân khấu thì đèn bật sáng rực rỡ.
Hạn Hung mặc áo bào màu vàng, chân đi hài, mũ cao.

Lời dẫn:
Kể từ đó, cứ đến ngày mùng 2 tháng 2 âm lịch hàng năm, các gia đình người Nùng lại góp gạo góp tiền mua sắm lễ vật tổ chức mổ trâu để cúng tế Cản Lủng tức Thần rừng, hay còn gọi là Mo Đống Trư tại miếu thờ được dân làng lập lên trong các khu rừng cấm của mỗi thôn bản. Các xã Ngàm Đăng Vài, Tân Tiến, Đản Ván, Bản Nhùng là nơi quân binh nhà trời ăn sáng thì chỉ mổ gà mổ vịt, mổ lợn, còn các xã Pố Lồ, Tụ Nhân, Sán Sả Hồ, Pờ Ly Ngài, Chiến Phố, Nàng Đôn là nơi quân binh nhà trời ăn trưa thì được mổ trâu để cúng tế để cầu mong Thần rừng phù hộ cho dân làng một năm mùa màng tươi tốt con người có sức khỏe và hạnh phúc.
Cũng từ đó, cứ vào ngày mùng một tháng 7 âm lịch hàng năm, các thôn bản của người Nùng lại tổ chức ăn tết, và trong ngày tết này họ lại lấy bông hoa lau đặt trên bàn thờ, các chàng trai, cô gái phụ nữ dân tộc Nùng ăn mặc những bộ trang phục đẹp nhất để nhớ về ngày chiến thắng năm xưa. Và, nét đẹp văn hóa đó đã được bao thế hệ người Nùng của huyện Hoàng Su Phì gìn giữ cho đến ngày nay.



Tốp múa ngựa giấy khoảng 3 đôi, một nhóm khác đánh yến và ném còn. Một vài đôi trai gái cầm ô đen đi ngang sân khấu.



Âm nhạc chủ đạo là tiếng trống và cồng chiêng.


01 chiếc bàn làm đàn tế. 6 con ngựa giấy, 6 quả còn và một vài quả yến, vợt yến.

Lời kết:
Kính thưa các vị khách quý, thưa các vị đại biểu cùng toàn thể đồng bào.
Chương trình nghệ thuật tái hiện truyền thuyết lễ cúng Thần Rừng do các nam nữ diễn viên Đoàn nghệ thuật Tây Côn Lĩnh thực hiện đến đây là hết. Ban tổ chức xin trân trọng cảm các đồng chí lãnh đạo tỉnh ủy HĐND, UBND tỉnh, lãnh đạo các sở ngành của tỉnh và các địa phương trong và ngoài huyện, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp cùng toàn thể đồng bào đã dành thời gian theo dõi chương trình.
Một lần nữa xin kính chúc các vị khách quý, các vị đại biểu cùng toàn thể đồng bào lời chúc sức khỏe và hạnh phúc. Xin trân trọng cảm ơn.

Sau màn bắn pháo bông nghệ thuật, ánh sáng bật rực rỡ chiếu sáng toàn sân khấu.
Các diễn viên tập trung thành hàng lối trên sân khấu vẫy tay chào khán giả.