Người theo dõi

Chủ Nhật, 17 tháng 10, 2021

CHUYỆN TÌNH BÊN DÒNG SÔNG CHẢY

  

Tháng chạp.

Những con gió mùa lạnh cắt da thổi ào ào qua những sườn núi khiến cho những gốc rạ trên những thửa ruộng bậc thang chuyển từ màu vàng sang màu trắng bạc. Cái lạnh cũng khiến cho những cành đào co ro thu mình lại đến độ những cái chòi hoa căng ú ụ chỉ muốn chòi ra khỏi vỏ cây, báo hiệu hoa đào năm nay sẽ đẹp lắm.

Chỉ còn chưa đầy chục ngày nữa là đến tết nguyên đán. Đây cũng là thời điểm khách hàng dưới xuôi lên săn lùng những cành hoa đào cổ thụ - loại đào quả to, hoa kép bẩy cánh vốn là đặc sản của xã Chiến Phố huyện Hoàng Su Phì. Trời xẩm tối, A Pó tranh thủ ra vườn đào cắt dăm cành đẹp nhất và bó thành một bó để sáng mai mang xuống chợ bán. Cả đêm, A Pó thao thức mong ông mặt trời nhanh mọc để xuống chợ, thế nhưng mong muốn xuống chợ để bán hoa đào thì ít mà để làm một điều đặc biệt khác mới là nhiều.

Mới mờ sáng, A Pó đã dậy để đánh răng rửa mặt rồi thay bộ quần áo mới, đeo chiếc túi thổ cẩm và chiếc sáo bên sườn cậu vòng cánh tay đầy múi chắc nịch qua bó hoa đào rồi chạy ào xuống dốc. Đến nhà Vừ, A Pó gõ cửa giục bạn lấy xe máy cùng nhau xuống chợ. Quãng đường chưa đầy chục cây số mà A Pó cứ lo lắng thấp thỏm chỉ sợ người khác chiếm mất chỗ. Đến cái bờ kè quen thuộc, A Pó chia bó hoa đào thành hai rồi đặt vào hai vị trí khác nhau, một lát sau thì Xanh - cô bạn gái xinh đẹp mới quen từ phiên chợ trước cũng vác một bó hoa đào đến. A Pó lẳng lặng thu mấy cành đào cho gọn lại để nhường chỗ cho Xanh. Chẳng những thế, A Pó còn chủ động đổi mấy cành hoa đẹp của mình để trộn vào bó hoa của Xanh để giúp cô thu hút khách. Thấy vậy Xanh tỏ vẻ ngại ngùng trốn sang biên kia bó hoa đào cho đỡ ngượng.

Nhà Xanh có hai anh em, người anh lớn đã lấy vợ và ở cùng với bố mẹ, còn Xanh năm nay vừa tròn 19 tuổi - cái tuổi đẹp nhất của thời con gái, không những thế, Xanh lại được thừa hưởng khuôn mặt tròn vành vạnh như mặt trăng, nước da trắng mịn của mẹ, dáng cao dong dỏng của bố và tính nết thì hiền dịu như bông lúa trên ruộng bậc thang. Điều đó khiến mấy chàng trai cùng xóm ai cũng thầm ao ước được lấy về làm vợ, vậy mà vẫn chưa có ai nổi bật làm Xanh ưng cái bụng. Cách đây đúng hai tuần trong một lần đi chợ Xanh bị hỏng xe máy giữa đường và được A Pó đẩy giúp đến quán để sửa. Từ đó hai người quen nhau nhưng Xanh vẫn giữ một khoảng cách nhất định cho đến tận hôm nay như người con gái Mông nào cũng vậy.

Sau một lúc bán hoa đào, A Pó lấy trong túi ra cây sáo Mèo và thổi mấy bài quen thuộc mà đám con trai, con gái Mông ai cũng biết, cũng thuộc: Mùa xuân năm mới sang/Con gái con trai đi hội/Anh gặp em/Lòng muốn trao câu hát/Cho mùa xuân đất trời cùng vui...

Nghe tiếng sáo réo rắt của A Pó cộng thêm vẻ đẹp dịu dàng của Xanh cùng những cành hoa đào tuyệt đẹp mấy anh khách du lịch cả tây lẫn ta đang đi xem chợ liền quây kín lại vừa xem hoa, vừa ngắm người và chụp ảnh. Cao hứng, A Pó thổi liền mấy bài đến hoa cả mắt. Chụp ảnh chán, mấy anh chị khách du lịch người miền xuôi mặc cả để mua hoa đào. Thấy vậy trống ngực A Pó nện thình thịch chỉ lo khách mua hết hoa, thời gian không còn nhiều mà cái tâm ý của Pó đến giờ vẫn chưa thổ lộ cho Xanh biết được.

Nhùng nhằng mãi hai cô cậu cũng kéo dài thời gian bên nhau được đến gần trưa thì mới bán hết được số cành hoa đào. Trong lúc đợi Xanh dọn mấy cọng rác chỗ bán, A Pó lấy điện thoại gọi Vừ đến rồi rủ Xanh cùng đi quán ăn thắng cố và uống rượu. Biết ý, được nửa bữa, Vừ lấy xe máy về trước còn lại A Pó và Xanh tiếp tục ăn uống đến tận ba giờ chiều. Nhưng chết nỗi nhà A Pó và nhà Xanh lại khác đường, mỗi người ở một bên bờ sông Chảy, đến cây cầu treo suối Na Hu, hai cô cậu bịn rịn chẳng muốn chia tay. A Pó cứ nắm chặt lấy cổ tay Xanh, lòng muốn kéo về nhà lắm nhưng ngại, hơn nữa lại chỉ có một mình nên đành chịu. Mãi sau, sợ mọi hgười để ý nên Xanh mới lấy hết can đảm dứt một chiếc lá cây bên ven đường rồi liếc mắt đầy tình ý. Hiểu ra, A Pó mới buông tay rồi mỗi đứa đi một đường mòn ven sông. Chân thấp chân cao, lòng chộn rộn nỗi nhớ A Pó vừa đi vừa thổi sáo réo rắt mấy bài để tỏ tình: Gặp em anh thấy vui/Xa rồi lại buồn/Ta hát chẳng được như cái lòng muốn nói... Bên kia bờ sông, Xanh cũng thổi một bài kèn lá đối lại: Lòng anh em đã biết/Như câu hát anh trao/Gặp anh lòng thấy bồi hồi...

Cứ như vậy, A Pó và Xanh vừa đi vừa thổi sáo, thổi kèn lá, có những chỗ cách đồi cách núi sợ tiếng sáo không đến được tai Xanh thì A Pó lại cất giọng hát cao vút để tỏ tình qua lại. Mãi đến khúc cua của con suối chỗ lối rẽ thì trời cũng gần tối A Pó mới can đảm lấy điện thoại nhắn tin hẹn Xanh đến phiên chợ tới lại xuống ban hoa đào. Mãi mấy phút sau A Pó mới nhận được cái tin nhắn hình trái tim của Xanh gửi lại.

Chờ đợi một tuần mà dài như cả năm. Và cũng trong cái tuần cuối cùng đó của năm cũ A Pó đã ôn luyện lại cả trăm bài hát giao duyên. Chiều thứ sáu, A Pó sang gặp Vừ và mấy người bạn thân rủ hôm sau cùng xuống chợ phiên để giúp kéo vợ.

Phiên chợ cuối cùng của năm, cả hai đều bán được rất nhiều hoa đào. Đến trưa cả nhóm lại cùng nhau đi ăn thắng cố, trừ mấy người đã được chỉ định trước làm xe ôm và cả A Pó thì không uống rượu, còn lại ai cũng uống đến say mới thôi. Đến chỗ đầu cầu treo quen thuộc, bất thình lình mấy người bạn nhấc bổng Xanh đặt lên xe máy của A Pó, rồi Vừ ngồi đằng sau để giữ. Đến khi sang qua đầu cầu bên này thì Vừ nhảy xuống để lại mỗi Xanh với A Pó thong dong nhau về nhà. Mặc dù ưng cái bụng lắm rồi nhưng nước mắt Xanh cứ rơi lã chã, trong lòng, lo lắng buồn vui lẫn lộn chỉ muốn nhảy xuống xe bởi là con gái Mông, Xanh biết phong tục của người Mông là vậy. Nếu chịu đi cùng A Pó về nhà thì từ nay sẽ phải làm vợ A Pó, sẽ được con ma nhà A Pó nhận là người nhà. Hơn nữa đây cũng là lần đầu Xanh xa bố mẹ đến ăn ở, sinh hoạt ở một nhà xa lạ. Cái đầu ong ong nhưng mấy chén rượu đã giúp Xanh can đảm, bớt ngại ngùng.

Do đã sắp xếp từ trước, khi xe đi được một đoạn thì Vừ gọi điện về nhà A Pó báo tin vui rằng sẽ có khách quý để người nhà chuẩn bị. Vừa về đến cửa, bố mẹ A Pó lấy một con gà mái, đợi Xanh bước qua cửa liền lấy chân gà mái cào mấy cái từ trên xuống dưới phía sau lưng và nói “hồn về, hồn về”. Sau đó A Pó nắm chặt tay Xanh đi vòng quanh bếp lửa mấy vòng để thần bếp nhận mặt. Sau đó Xanh được Thào - em gái A Pó đưa vào gian buồng đã chuẩn bị sẵn để dành riêng cho Xanh. Sợ Xanh nhớ nhà và buồn Thào cùng ngồi tâm sự với cô cho đến tận tối để khuyên nhủ cô gái nên lấy anh trai làm chồng. Trong lúc đó bố mẹ và anh em, hàng xóm cùng nhau mổ gà làm cơm rồi cùng nhau ăn uống. Ba ngày sau, bố mẹ A Pó mới mang rượu sang nhà Xanh để nói chuyện với bố mẹ và xin cưới. Hai gia đình hẹn sau tết sẽ tổ chức đám cưới cho hai người.

Tin Xanh đã có người xã bên kéo về làm vợ khiến mấy chàng trai cùng xóm buồn thỉu buồn thiu bởi người con gái xinh nhất làng lại đi lấy chồng ở xã khác. Dẫu vậy cả làng ai cũng vui và khen hai người rất đẹp đôi, mừng cho Xanh  hạnh phúc khi lấy được người con trai vừa khỏe mạnh, đẹp trai lại có tài thổi sáo, múa khèn.

Hoàng Su Phì, tháng 10/2021

Thứ Ba, 12 tháng 10, 2021

CÂY CHÈ VÀ VĂN HÓA TRÀ CỦA NGƯỜI VÙNG CAO


 

Chè shan tuyết là một trong những cây thế mạnh của huyện Hoàng Su Phì. Do điều  khí hậu và thổ nhưỡng phù hợp nên sản phẩm chè của huyện có chất lượng thơm ngon, được thị trường cả trong và ngoài nước chấp nhận. Năm 2020 toàn huyện có tổng diện tích 4.625,8 ha, trong đó diện tích chè cho sản phẩm là 3.599 ha (Bao gồm 2.018 ha chè sản xuất theo tiêu chuẩn hữu cơ Việt Nam), tổng sản lượng 14.028 tấn chè búp tươi, giá bán bình quân 15.000 đồng/kg/búp tươi, tổng giá trị hoạch ước đạt 210,4 tỷ đồng. Ở Hoàng Su Phì, cây chè tập trung chủ yếu ở các xã Thông Nguyên, Nậm Ty, Nậm Khòa, Nam Sơn, Hồ Thầu, Bản Luốc và Túng Sán, trong đó có những cây chè cổ thụ trên 500 trăm năm tuổi, đường kính gốc tới hai người ôm không xuể, đã được Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam phong danh hiệu Cây di sản Quốc gia. Theo các cụ già làng người dân tộc Dao ở xã Hồ Thầu, Nậm Ty thì cây chè shan tuyết đã được các hộ gia đình người dân tộc Dao đem theo trong quá trình di cư đến sinh sống ở khu vực này. Ban đầu cây chè được các gia đình trồng cạnh những vạt nương với mục đích để đánh dấu quyền sở hữu khu đất, đồng thời để phục vụ nhu cầu sử dụng của các gia đình. Về sau khi giao thương phát triển thì các tiểu thương ở miền xuôi mới lên để trao đổi mua bán và chế biến thành chè xanh, rồi được Nhà nước quan tâm thành lập các nhà máy chế biến và hỗ trợ phát triến. Từ đó sản phẩm chè shan tuyết của huyện Hoàng Su Phì mới được nhiều người biết đến và nổi tiếng như ngày nay.

Ở Hoàng Su Phì hiện có 3 giống chè chủ yếu, đó là chè shan tuyết lá to, với đặc điểm phiến lá to, hơi nhẵn, mép lá răng cưa nông và có xu hướng mọc ngang, trên búp non chưa nở thành lá có một lớp nhung trắng mịn bao phủ, giống chè này có vị chát đậm, hương thơm dịu. Giống chè thứ hai cũng là chè shan tuyết, song phiến lá nhỏ, dài, mép lá răng cưa sâu hơn. Giống chè này ít chát, nhiều tuyết, hương thơm tự nhiên, vị đậm ngậy rất độc đáo. Địa bàn phân bố chủ yếu ở các xã Hồ Thầu, Tả Sử Choóng và Túng Sán, trong đó chè shan tuyết Túng Sán là có giá trị cao nhất, từ lâu đã được giới sành chè biết đến. Giống chè thứ ba đó là chè rừng búp đỏ chỉ sinh trưởng ở khu vực núi Chiêu Lầu Thi và Tây Côn Lĩnh là những nơi có độ cao trên 1.500m so với mực nước biển. Giống chè này có vị ngọt nhẹ, hương thơm mát, song nước thường có màu đỏ. Một điểm khác biệt của cây chè Hoàng Su Phì đó là mỗi năm chỉ thu hái được 4 vụ

Trước đây, đồng bào Hoàng Su Phì chủ yếu chế biến và sử dụng chè vàng. Chè sau khi thu hái về được cho vào chảo ghênh để sao qua cho héo rồi dùng chân vò cho bớt nhựa, sau đó đem phơi nắng hoặc cho vào lò sấy đắp bằng đất để sấy cho khô rồi bán cho cửa hàng mậu dịch. Một phần thì để lại và đựng vào ống tre treo trên gác bếp để dùng dần. Cách uống loại trà này của đồng bào cũng hết sức độc đáo. Mỗi khi có khách đến nhà thì sẽ được chủ nhà mời ngồi quây quần quanh bếp khách là bếp lửa nhỏ ở gian cạnh ngôi nhà, khi đó chủ nhà mới khơi cho bếp lửa cháy to và đun siêu nước cho sôi sùng sục, đồng thời lấy một nắm chè trong ống nứa sao cho vừa đủ một ấm và để vào một mảnh gang hoặc nhôm rồi đặt trên đám than hồng để sao lại cho đến khi búp chè nổ lách tách thì mới cho vào ấm để pha. Ấm pha trà thường là loại ấm tích to chừng 1 lít, đối với đồng bào Dao và Cờ Lao ở xã Túng Sán thì lại dụng loại ấm bằng thân cây tre già vừa có tác dụng giữ nhiệt, vừa tăng hương vị cho trà. Giữa không gian ấm cúng, nước từ ấm siêu đang sôi ùng ục được đổ vào ấm tích kêu đánh sèo, cùng với đó là mùi thơm sực của chè shan tuyết bốc lên hòa quyện với hơi sương, hơi gió của vùng núi. Chỉ với một chiếc bát hoặc chén, nước chè đặc sánh nóng rẫy được rót ra và uống quay vòng lần lượt từng người khiến cho chủ và khách hòa vào làm một và tan biến đi nỗi mệt mỏi sau những giờ trèo đèo lội suối.

Từ khoảng những năm 1970 trở lại đây một số cán bộ và tư thương người Kinh dưới xuôi lên công tác hoặc làm ăn đã phát hiện ra giá trị và chất lượng của chè shan tuyết Hoàng Su Phì nên đã du nhập và hướng dẫn cho người dân bản địa cách chế biến chè xanh hay còn gọi là chè mạn, từ đó trở thành đồ uống phổ biến và không thể thiếu trong mỗi gia đình. Đặc biệt là từ khoảng năm 1995 tỉnh Hà Giang và huyện Hoàng Su Phì đã triển khai nhiều cơ chế, chính sách khuyến khích hỗ trợ người dân và các doanh nghiệp trong việc chế biến và tiêu thụ chè nên đến nay hầu hết sản lượng chè shan tuyết của huyện đều được chế biến thành chè xanh, gắn với đó là việc quảng bá, giới thiệu, cải tiến bao bì mẫu mã, đa dạng hóa sản phẩm. Vì vậy đã góp phần nâng cao giá trị, đẩy mạnh tiêu thụ cho sản phẩm chè của huyện. Toàn huyện hiện có 12 hợp tác xã chế biến chè và hơn 150 cơ sở chế biến bằng mái sao sấy mini quy mô hộ gia đình. Trong đó đi đầu là các hợp tác xã chế biến chè Phìn Hồ Trà, hợp tác xã Chiến Hảo, hợp tác xã Hạnh Quang... Năm 2020, toàn huyện đã chế biện được 2.805,6 tấn chè xanh thương phẩm, trị giá trên 340 tỷ đồng.

Chè shan tuyết Hoàng Su Phì giờ đã đi khắp các vùng miền trong và ngoài nước với nhiều sản phẩm, nhiều thương hiệu, nhiều cách thưởng thức khác nhau. Song cách uống trà theo phong cách truyền thống hiện vẫn được bà con lưu giữ và cũng là một trong những nét đẹp văn hóa để mời gọi và níu giữ khách du lịch muốn tìm hiểu những giá trị văn hóa của vùng biên cương Hoàng Su Phì.