Người theo dõi

Thứ Hai, 5 tháng 12, 2022

GIÁ TRỊ KHOA HỌC VÀ TIỀM NĂNG DU LỊCH CỦA HỆ SINH THÁI KHU VỰC NÚI TÂY CÔN LĨNH

 


Tây Côn Lĩnh là dải núi trên thượng nguồn sông Chảy ở phía tây tỉnh Hà Giang thuộc địa bàn các huyện Vị Xuyên, Hoàng Su  Phì. Khu vực này có tọa độ địa lý từ 22°039’ đến 22°050’ vĩ độ bắc và từ 104° 039’ đến 104°059’ kinh độ đông, bao gồm 07 xã của huyện Vị Xuyên là xã Lao Chải, Xín Chải, Thanh Thủy, Phương Tiến, Cao Bồ, Quảng Ngần, Thượng Sơn; xã Phương Độ của, thành phố Hà Giang và xã Túng Sán huyện Hoàng Su Phì. Năm 2014 Rừng đặc dụng Tây Côn Lĩnh đã được quy hoạch khu bảo tồn thiên nhiên với tổng diện tích 15.043 ha theo Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng cả nước đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, với mục đích nhằm bảo tồn tài nguyên rừng, đa dạng sinh học, cảnh quan, môi trường, di tích lịch sử, trong đó phân khu bảo vệ nghiêm ngặt là 7.406 ha, phân khu phục hồi sinh thái là 7.173 ha, phần còn lại là khu vực hành chính. Trong dãy Tây Côn Lĩnh, đỉnh cao nhất có tên là núi Cán Lìn theo tiếng địa phương tức là núi khô thuộc địa phận thôn Chúng Phùng xã Túng Sán huyện Hoàng Su Phì có độ cao 2.423 m so với mực nước biển.  

Dãy núi Tây Côn Lĩnh là địa bàn sinh sống của các dân tộc Mông, Dao, Cờ Lao, Nùng với nhiều bản sắc văn hóa độc đáo và đa dạng nên khu vực này được coi là khu vực hiểm trở ẩn chứa nhiều bí ẩn nhất cả về tự nhiên và văn hóa của vùng đông bắc nước ta. Do đặc điểm nằm trên độ cao lớn, khí hậu khắc nghiệt quanh năm mây mù che phủ, địa hình cách biệt nên dãy Tây Côn Lĩnh có hệ động - thực vật tương đối đa dạng. Theo kết quả điều tra khảo sát của Viện Điều tra Quy hoạch Rừng tiến hành vào tháng 7 năm 1994, bước đầu đã xác định khu vực Tây Côn Lĩnh có 162 họ, 501 chi và 796 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 6 ngành: Quyết lá thông (Psilotophyta); Thông đất (Lycopodiophyta); Mộc tặc (Equisetophyta); Dương xỉ (Polypodiophyta); Thông (Pinophyta); trong đó phong phú nhất là ngành Mộc lan (Magnoliophyta) có 141 họ, 472 chi, 754 loài.

Qua khảo sát cho thấy các loài thực vật thân gỗ ở khu vực Tây Côn Lĩnh được phân bố theo bình độ. Ở khu vực từ khoảng 1.000m đến 2.000m chủ yếu là các loài kháo (Machilus), sồi (Quercus), sa mộc (Cunninghamia)..; Từ độ cao trên 2.000m chủ yếu là cây đỗ quyên (Rhododendron), cây chè rừng (Camellia chrysantha). Đặc biệt là ở khu vực đỉnh núi Cán Lìn cây đỗ quyên có mật độ dày đặc trải rộng hàng trăm ha với 2 màu hoa chủ yếu là màu hồng và đỏ, nở vào dịp tháng 2 âm lịch hàng năm, dưới tán rừng là thảm thực vật gồm cây sen cạn (Tropaeolaceae), dương xỉ (Polypodiophyta).

Từ lâu, rừng đặc dụng Tây Côn Lĩnh được biết đến bởi sự có mặt một số loài cây lá kim quý hiếm khác như bạch tùng, kim giao, pơ mu, đỗ quyên và các loài thảo dược quý hiếm như tam thất nam, lan kim tuyến, lan hài, ấu tẩu, xuyên khung, giảo cổ lam, thảo quả, bẩy lá một hoa... Đặc biệt, khu vực dưới chân đỉnh Tây Côn Lĩnh là nơi sinh trưởng của giống chè san tuyết cổ thụ tuổi đời hàng trăm năm, có cây to người ôm không xuể, chất lượng đặc biệt thơm ngon.

Về hệ động vật, trong thời gian từ tháng 4 đến tháng 5 năm 2000, Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Hoa Kỳ (AMNH) và Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật (IEBR) đã tiến hành điều tra khảo sát đa dạng sinh học vùng núi Tây Côn Lĩnh. Kết quả đợt điều tra đã ghi nhận 6 loài bò sát, 38 loài lưỡng cư, trong đó có hai loài lưỡng cư đã được mô tả là loài mới của Việt Nam. Ngoài ra, đợt khảo sát đã ghi nhận được 17 loài thú nhỏ trong đó có một loài Chuột mới cho khoa học là Chodsigoa caovansunga. Cũng trong đợt khảo sát đã có tổng số 105 loài chim được ghi nhận trong đó có một loài bị đe dọa toàn cầu là Trèo cây lưng đen Sitta formosa và một giống chưa được mô tả là Khướu mỏ dài Jabouilleia danjoui. Từ kết quả khảo sát, năm 2002, khu vực núi Tây Côn Lĩnh đã được BirdLife International - là Hiệp hội các tổ chức phi chính phủ quốc tế (iNGO) hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh học và môi trường sống của chim đưa vào hệ thống các vùng chim quan trọng của Việt Nam.

Ở khu vực chân núi dãy Tây Côn Lĩnh là địa bàn sinh sống của các dân tộc Cờ Lao, Dao, Mông, Hoa. Do địa bàn sinh sống tương đối cách biệt nên đây cũng là vùng đất còn lưu trữ nhiều nét văn hóa truyền thống độc đáo và phong phú của công đồng dân tộc bản địa, trong đó có các lễ thức dân gian như: Lễ cúng Hoàng Vần Thùng của dân tộc Cờ Lao, lễ cấp sắc, làm ma khô của dân tộc Dao, Mông hoặc các trò chơi dân gian huyền bí như liếm lưỡi cày nung đỏ, nhảy lửa, vật chày và các làn điệu dân ca, dân vũ độc đáo nên từ lâu Tây Côn Lĩnh luôn hấp dẫn khách du lịch đến khám phá tìm hiểu.

Từ năm 2016 đã có một số doanh nghiệp lữ hành du lịch tổ chức các tour du lịch sinh thái đến khu vực này như Công ty GP Hồng Phát, Công ty TNHH Việt Nam phong tục, Hợp tác xã du lịch Nậm Hồng tổ chức đưa nhiều đoàn khách du lịch chủ yếu là khách nước ngoài đến khám phá trải nghiệm. Tháng 8 năm 2022 Trung tâm Thông tin - Xúc tiến du lịch tỉnh Hà Giang đã phối hợp với Phòng Văn hóa & Thông tin huyện Hoàng Su Phì tiến hành khảo sát tổng thể về tiềm năng du lịch sinh thái khu vực này nhằm xây dựng sản phẩm du lịch mạo hiểm gắn với trải nghiệm trong khu rừng nguyên sinh để quảng bá đến du khách trong và ngoài nước. Hy vọng rằng trong những năm tới, tiềm năng du lịch sinh thái của dãy Tây Côn Lĩnh sẽ tiếp tục được khai thác, trở thành một trong những sản phẩm du lịch độc đáo của huyện Hoàng Su Phì cũng như tỉnh Hà Giang.

 

 


Thứ Sáu, 18 tháng 11, 2022

CHUYỆN CỦA SÚA

 CHUYỆN CỦA SÚA

Truyện ngắn


Trời đã vào thu nhưng bầu trời trong leo lẻo khiến những tia nắng giữa chiều càng thêm chói trang. Gạt dòng nước đang chảy dài trên má không rõ là mồ hôi hay nước mắt, Súa lầm lũi địu gùi chè tươi nặng chĩu về bản.

Nhà của Súa nằm giữa thôn Tà Chải, tức là làng to - một trong những ngôi làng đông đúc dân cư nhất của xã Túng Sán, là nơi sinh sống lâu đời của các tộc họ người Cờ Lao dưới chân đỉnh núi Tây Côn Lĩnh hùng vĩ. Nhớ lại cách đây hơn chục năm, ngày ấy hầu hết đám con trai, con gái trong làng cứ mười bảy, mười tám tuổi là bỏ học ở nhà làm ruộng rồi tìm vợ lấy chồng, chỉ có Súa sau khi học xong tiểu học được bố mẹ cho đi học tiếp cấp hai ở trung tâm xã. Ngày ấy kinh tế của đất nước còn khó khăn, Chính phủ chưa có chương trình hỗ trợ học sinh nghèo và con em dân tộc thiểu số nên cứ thứ sáu hàng tuần Súa lại khăn gói quả mướp về nhà làm ruộng, hái chè giúp Tế, Má (tức bố, mẹ theo tiếng Cờ Lao), sáng sớm thứ hai lại địu gạo, rau, củ, quả xuống trường làm lương thực, thực phẩm ăn cho cả tuần. 

Vất vả là thế nhưng chẳng biết do trời ban hay ông bà để lại mà nước da Súa cứ trắng hồng, đôi má bầu bĩnh căng đầy nhựa sống. Không những thế, ở trường Súa còn là cây văn nghệ vì biết hát hàng trăm bài hát dân ca của dân tộc Cờ Lao, biết thổi thổi kèn lá và thêu thùa may vá cũng giỏi. Chính vì vậy trong đám trai làng có hàng chục đứa cứ trực chờ làm quen nhưng cái bụng Súa không ưng ai vì chỉ muốn được đi học để sau này làm cán bộ, hoặc chí ít thì cũng biết cái kiến thức để tăng gia sản xuất cho cuộc sống bớt khổ.

Thế nhưng, có một sự kiện đã làm đảo lộn cuộc sống vốn hồn nhiên vô tư của Súa. Một ngày nọ khi vừa tan học, sau hơn hai giờ đồng hồ cuốc bộ và leo dốc khiến đôi chân mỏi nhừ, cuối cùng thì Súa cũng về đến nhà. Nhưng tự nhiên Súa linh cảm thấy gì đó là lạ vì vừa bước vào đến nhà chợt thấy có mấy người lạ hoắc đang ngồi uống nước với Tế và Má, bên cạnh có một thằng bé cỡ tuổi em của Súa. Trên bàn thờ có một bó lá thuốc khử và một túi vải đựng thứ gì đó nặng trĩu.

Thấy Súa bước vào cửa, bố Súa mừng rỡ:

- Ô pồ! Nó về đây rồi, đi đường mệt không.

Hơi ngỡ ngàng vì toàn người lạ, Súa lí nhí cất tiếng chào:

- Cháu chào các bác, con chào Tế, Má.

Không kịp để Súa định thần xem nhà hôm nay có việc gì, ông Dùng - bố Súa nói luôn:

- Con Súa nó về rồi, giờ ta bàn việc luôn, ông nhỉ! Súa, ngồi đây bố nói chuyện.

Đợi Súa lấy chiếc ghế và ngồi xuống bên bếp lửa ông mới giới thiệu:

- Đây là ông Hùng Sài bạn lâu năm của bố ở trên thôn Túng Quán Lìn, còn đây là Phà Sánh. Năm mày mới sinh ra tao đã hứa gả mày cho con ông ấy, hôm nay là ngày lành tháng tốt gia đình ông Hùng Sài đến làm cái thủ tục để cuối năm làm đám cưới cho hai đứa mày.

Nghe Tế nói, Súa nghe như có tiếng nổ ở hai bên tai, cô há hốc mồm đến mấy phút mà không nói được câu nào. Mãi sau, định thần lại Súa mới lắp bắp:

- Ôi… nhưng con đang đi học mà Tế…

- Học thế là đủ rồi, biết đếm cái tiền, biết cân bao thóc, con gà, con ngan mà không bị bọn đón hàng nó lừa là được rồi. Ở nhà lấy chồng, cái ruộng cái nương nó nuôi chứ cái lớp học nó nuôi mày được ngày nào.

Nghĩ đến cảnh ở độ tuổi mười sáu mà phải nghỉ học, phải xa tế má đến ở với nhà người khác vốn lạ hoắc mà Súa thấy bàng hoàng trong lòng. Nghĩ một lát cô cương quyết:

- Không, con không bỏ học đi lấy chồng đâu, mà năm nay con mới mới bẩy tuổi, cưới tảo hôn xã phạt nặng lắm…

Chỗ mạnh cái điếu ục xuống đất, ông Dùng gằn giọng:

- Không lấy là thế nào! Thuốc khử, lễ vật tao đã dâng lên tổ tiên nó nhận kia rồi, bây giờ trả lại nó mà giận làm cho mất mùa, trâu bò lợn gà mà chết bệnh chết dịch thì lấy gì mà sống. Mày muốn để cả cái nhà này khổ vì mày à…

Ông Dùng nói động đúng đến nỗi lo của Súa. Người Cờ Lao vốn cấy lúa một vụ trên các thửa ruộng bậc thang và chủ yếu dựa nhờ vào đất trời, nếu không may vào vụ cấy mà xảy ra hạn hán hay sâu bệnh thì cả năm ấy coi như đói kém. Vì thế nên ai ai cũng chỉ sợ mất mùa.

Cú sốc đầu đời quá lớn đối với một người con gái ở tuổi mười sáu như Súa. Đầu óc như muốn nổ tung khi không có sự lựa chọn giữa ngã ba đường, Súa chạy vào giường kéo tấm rido rồi nằm khóc rưng rức.

Đúng một tuần sau, cũng chiều thứ sáu mấy người bên nhà trai mang sang ba con gà và 5 ống gạo đến nhà Súa rồi tự mổ gà nấu cơm cùng Tế, Má và cô, dì, chú, bác vừa ăn cơm vừa ăn vừa bàn thời gian tổ chức đám cưới cứ như không có Súa. Trong lòng đau lắm nhưng phận làm con, Tế Má đã lựa chọn thì phải chịu.

Sau khi nghe lời Tế Má bỏ học về nhà chuẩn bị lấy chồng, Súa cảm thấy vô cùng tự ti và xấu hổ vì bị đám bạn trêu, không những thế cả Súa và Tế Má còn bị thôn đưa ra kiểm kiểm vì vi phạm quy ước khiến thôn mất danh hiệu Thôn Văn hóa.

Vốn là người hay lam hay làm, ngày cưới, Súa cũng cùng mọi người sắm sửa cỗ bàn và dọn dẹp cứ như không phải ngày cưới của mình. Duy chỉ có Phà Sánh là say lướt khướt mấy ngày liền. Tiếng là cô dâu chú rể nhưng suốt bấy nhiêu ngày từ khi dạm ngõ đến hôm cưới hai người chưa nói một câu gì với nhau. Mãi đến tối sau khi cùng mấy anh chị em nhà bếp dọn dẹp xong đống bát đĩa, Súa lên giường nằm nghỉ, được một lát thì Phà Sánh vén màn chui vào. Đến giờ Súa vẫn không quên được cái mùi nồng chát của rượu cộng với mùi thuốc khử và mùi mồ hôi sau nhiều ngày không tắm phả ra từ chồng mới cưới trong cái đêm đầu tiên ấy. Chạy ra ngoài sân cô nôn thốc nôn tháo.

Sau đám cưới, cuộc sống của Súa như chiếc lá cây, khi ở trên cành là xanh mướt, khi rơi xuống đất sẽ héo khô, thế nhưng chiếc lá cây rừng mang tên Súa lại không rơi xuống mặt đất mà rơi xuống suối, nó không khô mà nước chảy đến đâu thì lá cây cuốn theo đến đó. Pà Sánh vốn quen với lối sống tự do, ít rèn rũa nên có lớn mà không có chí, suốt ngày chỉ mải theo lũ bạn lên rừng săn bắn rồi rượu chè, mọi việc ruộng nương đồng áng phó mặc cho Súa, thậm chí có dạo Phà Sánh đi chơi cả tháng mới về. Chán ngán với cuộc sống buồn tủi tẻ nhạt, Súa ban đầu thì về nhà bố mẹ đẻ một vài ngày, sau thì cả tháng mà Phà Sánh cũng chẳng thèm đoái hoài. Vậy mà năm nào nhà Tế Má lúa cũng được mùa. Điều đó khiến Tế, Má và Súa nghiệm ra rằng chỉ có con người mới thay đổi được cuộc sống, mới làm cho mùa vụ tươi tốt. 

Và, Súa giờ đã có cuộc sống mới. 

Số là ở nhà Phà Sánh được 5 năm thì Súa ly hôn và về sống với Tế Má, sau đó được ủy ban xã cử đi học bổ túc và tiếp tục học lớp trung cấp nông nghiệp tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên của huyện. Những ngày cuối tuần về thăm nhà Súa thường đi nhờ xe máy của một anh công nhân tên Dũng làm ở xưởng chè của xã, tìm hiểu ra thì được biết anh là người dưới xuôi lên cũng chưa có gia đình. Dần rà hai người nảy sinh tình cảm thương yêu nhau lúc nào không hay. Hơn một năm sau đó thì hai người tổ chức lễ cưới, rồi hai năm tiếp theo Súa học xong chương trình trung cấp và được tuyển dụng vào công chức của xã. Đến giờ hai người đã có hai mặt con đủ cả trai lẫn gái, cuộc sống cũng dần sung túc hơn xưa. Được cái Dũng hiền lành và nhất mực thương yêu Súa. Năm nào Dũng ở lại ăn tết với bố mẹ vợ, sau tết mới về thăm nhà. 

Tết năm nay, hết dịch Covid-19, Súa và Dũng đã sắm sửa rất nhiều đồ để chuẩn bị đưa hai con về đón tết với ông bà nội. Đó chính là chùm quả ngọt mà ông Trời đã ưu ái dành cho Súa sau những tháng ngày cơ cực.


Thứ Hai, 12 tháng 9, 2022

ĐỘC ĐÁO LỄ ĂN CƠM MỚI CỦA DÂN TỘC NÙNG HUYỆN HOÀNG SU PHÌ


Vào tháng 9 hàng năm khách du lịch khi đến huyện Hoàng Su Phì ngoài việc được tham quan chiêm ngưỡng vẻ đẹp hùng vĩ của những thửa ruộng bậc thang ngút ngàn trên những sườn núi còn được trải nghiệm những sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo của các dân tộc trong huyện, trong đó có dân tộc Nùng. Là dân tộc có thành phần đông nhất của huyện Hoàng Su Phì (37,97%), người Nùng cư trú tại 14 xã, thị trấn, trong đó các xã Pố Lồ, Sán Xả Hồ, Pờ Ly Ngài, Nàng Đôn, Đản Ván, Tụ Nhân là nơi cư trú lâu đời nhất. 

Trải qua hàng trăm năm canh tác sản xuất nông nghiệp, trồng lúa nước trên những thửa ruộng bậc thang, các thế hệ người dân tộc Nùng đã đúc kết và bảo tồn, lưu giữ nhiều tri thức văn hóa, tín ngưỡng độc đáo, có mối quan hệ bền chặt với đời sống lao động và sinh hoạt của đồng bào các dân tộc trong huyện. Một trong những giá trị văn hóa đó chính là lễ mừng cơm mới. Đây là lễ thức mang đậm tín ngưỡng nông nghiệp và được hầu hết các gia đình tổ chức cùng với dịp thu hoạch lúa vào tháng 8 hoặc tháng 9 âm lịch hàng năm.

Để thực hiện lễ thức này việc quan trọng đầu tiên là gia đình tổ chức nghi thức đi đón lúa mới. Vào buổi sáng sớm gia đình cử một người cùng với thầy cúng còn gọi là fư mó chuẩn bị một bó lúa cũ từ năm trước, một gói cám gạo, hai gói tro bếp gói trong lá dong tượng trưng cho 3 chiếc bánh trưng, một ống tre đựng nước sạch để lấy nước từ suối nguồn về nấu cơm và một bát gạo, một quả trứng gà cùng vàng hương. Khi đến ruộng thầy cúng buộc các gói cám gạo và tro bếp vào gốc lúa rồi thắp hương xin lúa mới. Sau đó cắt một bó lúa mới cho vào gùi, lấy nước vào ống tre và lấy một cành cây gai đậy lên phía trên gùi để rước hồn lúa về nhà. Các bông lúa sau khi cắt tỉa sẽ được buộc thành những bó để gánh về nhà. Từ những bông lúa này sẽ tiếp tục chọn ra những bông to nhất buộc thành hai túm treo lên vách hai đầu bàn thờ trong suốt thời gian đến vụ thu hoạch năm sau. Số còn lại đem vò lấy thóc làm cốm để làm cốm, xôi cốm hoặc đồ xôi để dâng lên tổ tiên, trời đất. 

Khi đến trước cửa nhà, thầy cúng thực hiện nghi thức cúng gọi hồn lúa ở sân phơi thóc, cùng với đó một thầy cúng khác thực hiện cúng tổ tiên ở bàn thờ trong nhà. Trong khi các thầy cúng thực hiện nghi lễ thì gia đình sẽ chuẩn bị lễ vật để tổ chức lễ cúng cơm mới. Với những món được chế biến từ các sản vật do gia đình tự chăn nuôi và cấy trồng như thịt gà, thịt lợn, các loại rau, củ, quả, thực phẩm, bánh trái… trong đó không thể thiếu được các vật phẩm là rượu, xôi và cá chép ruộng. Để làm xôi, các gia đình lựa chọn những bông lúa nếp tốt nhất của vụ mới để xay giã thành gạo. Trong trường hợp gia đình đã chọn được ngày tốt để thực hiện nghi lễ mà lúa ngoài ruộng chưa chín không có đủ số thóc gạo mới để làm cốm hoặc nấu xôi thì có thể trộn lẫn một ít gạo cũ để nấu hoặc có thể dùng một vài bông lúa mới đặt vào trong nồi xôi gạo cũ để lấy tinh chất hương hoa của hạt lúa mới dâng lên tổ tiên. 

Xôi trong lễ cúng cơm mới của dân tộc Nùng thường có nhiều màu được chiết xuất từ các loại lá từ trên rừng còn gọi là lá chẳm. Tùy theo từng thôn bản và từng gia đình mà số màu sắc của xôi có nhiều hay ít khác nhau nhưng trong đó không thể thiếu 2 màu chủ đạo là màu đỏ và màu xanh lam. Xôi được đồ chín trong những chiếc chõ gỗ sau đó được đơm vào đĩa và bày lên bàn thờ cùng với các vật phẩm khác. 

Trong khi chờ thầy cúng làm thủ tục tế lễ và gia đình nấu nướng chuẩn bị cỗ bàn thì gia chủ lấy xôi cốm hoặc xôi ngũ sắc gói vào lá chuối để mời khách ăn lót dạ. Kết thúc lễ cúng tất cả các thành viên tham dự lễ và khách gần xa cùng nhau quây quần ăn bữa cơm đoàn viên. 

Do tập quán sống quần cư cũng như tinh thần tương trợ cộng đồng mà dân tộc Nùng huyện Hoàng Su Phì đến nay vẫn giữ được tập quán đổi công, giúp đỡ nhau trong sản xuất, những dịp có công to việc lớn như làm bờ, cấy, thu hoạch lúa hoặc trong những dịp lễ tết. Chính vì vậy lễ cúng mừng cơm mới thường được các gia đình dân tộc Nùng huyện Hoàng Su Phì tổ chức trong ngày thu hoạch lúa với sự tham gia của vài chục người trong thôn xóm, nếu vì những lý do bất khả kháng như đã chọn được ngày tốt nhưng lúa chưa chín hoặc vào ngày mưa gió thời tiết không thuận tiện thì gia đình vẫn tổ chức nhưng với quy mô nhỏ

Có thể nói, lễ cúng mừng cơm mới là một nghi thức tiêu biểu trong hệ thống các nghi lễ tín ngưỡng liên quan chặt chẽ đến hoạt động sản xuất nông nghiệp của cộng đồng dân tộc Nùng huyện Hoàng Su Phì. Đồng thời, thể hiện sự trân trọng và tôn vinh giá trị cây lúa là loại cây nông nghiệp quan trọng nhất trong đời sống sản xuất và sinh hoạt của cộng đồng người Nùng. Bên cạnh đó, lễ cúng cơm mới còn là dịp để các gia đình thể hiện sự hiếu kính với tổ tiên và giáo dục cho thế hệ trẻ có ý thức bảo tồn truyền thống văn hóa đặc trưng của dân tộc. Chính vì vậy, lễ thức này luôn được các thế hệ người Nùng huyện Hoàng Su Phì bảo tồn và lưu giữ đến ngày nay.


Thứ Hai, 9 tháng 5, 2022

ƯỚC MƠ TRONG SÁNG

 ƯỚC MƠ THIỆN NGUYỆN LỚN CỦA EM HỌC SINH VÙNG CAO

(Bàn thêm về chuyện LÔNG)


Có cậu học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số vùng cao đi thi học sinh giỏi bất ngờ đạt giải.

Trong lễ trao giải thưởng, vị Trưởng ban tổ chức hỏi cậu bé về ước mơ sau này, nghe xong câu hỏi, cậu bảo:

- Thưa bác, cháu mong sau này người cháu mọc toàn lông...

Nghe vậy, vị giám khảo không khỏi bất ngờ, cậu bé giải thích:

- Thưa bác, vì cô hàng xóm nhà cháu chỉ có một nhúm lông mà nuôi được cả nhà, cho nên cháu mong sau này người cháu toàn lông thì sẽ nuôi được cả xã, mà xã cháu toàn là nhà nghèo thôi ạ...

Nghe câu trả lời, vị trưởng Ban tổ chức rơi ngay mấy giọt máu mũi.


Thứ Tư, 9 tháng 3, 2022

Giá trị văn hóa trong tục cúng rừng của các dân tộc huyện Hoàng Su Phì và những vấn đề đặt ra.

 

Giá trị văn hóa trong tục cúng rừng của các dân tộc huyện Hoàng Su Phì và những vấn đề đặt ra.

 

Là huyện vùng cao núi đất phía tây của tỉnh Hà Giang, Hoàng Su Phì có 14.625 hộ gia đình với 68.252 nhân khẩu thuộc 13 dân tộc sinh sống. Sự đa dạng về thành phần dân tộc cùng với điều kiện về vị trí địa lý đã dẫn đến sự đa dạng về văn hóa truyền thống. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử cư trú và phát triển, cộng đồng các dân tộc huyện Hoàng Su Phì đã hình thành và bảo lưu những giá trị văn hóa độc đáo và phong phú, trong đó có tục cúng rừng. Hiện nay, tục này vẫn được các dân tộc còn duy trì. Tiêu biểu trong đó là lễ cúng rừng của dân tộc Nùng.

Là dân tộc chiếm thành phần đa số, cư trú tại 14 xã, thị trấn, dân tộc Nùng có quy mô lễ cúng rừng lớn nhất của huyện Hoàng Su Phì. Là lễ thức đã được Bộ Văn hóa Thể thao & Du lịch đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia, lễ thức cúng rừng của người Nùng được tổ chức để tưởng nhớ Hoàng Vần Thùng hay còn gọi là Đổng Trứ (tức là Thần rừng), là thủ lĩnh của các tộc họ người Nùng và các phó tướng là ông Tí Táo, ông Bảo, ông Liều đã có công giúp dân chống giặc trong khoảng thời gian cách đây vài trăm năm. Lễ này được tổ chức vào dịp cuối tháng giêng, đầu tháng hai âm lịch hàng năm tại các ngôi miếu xây dựng trong những khu rừng cấm, là những vạt rừng già tươi tốt, có vị trí đẹp, trong đó lễ cúng tại các xã Pố Lồ, Pờ Ly Ngài, Sán Xả Hồ là lớn nhất với sự tham dự của đại diện tất cả các hộ gia đình trong xã. Theo quy định, trước đây mỗi khi tổ chức lễ cúng tại 3 xã này đều phải mổ trâu, nhưng hiện nay thì cứ hai hoặc ba năm mới mổ trâu, còn lại là mổ lợn. Các xã còn lại chủ yếu tổ chức theo từng thôn bản và chỉ được mổ lợn và gà, vịt.

Đối với dân tộc Dao, hiện lễ thức cúng rừng được duy trì tại 2 xã là Hồ Thầu và Nam Sơn, trong đó dân tộc Dao áo dài xã Nam Sơn có quy mô lớn hơn. Trước đây lễ cúng rừng tại xã Nam Sơn được tổ chức tại rừng cấm thôn Lùng Thàng, sau đó do chia tách về địa giới hành chính nên các hộ gia đình đã lập thêm các miếu thờ để tổ chức lễ thức này tại các thôn Nậm Ai 4, Nậm Ai 5, Seo Phìn, thôn 3 Lê Hồng Phong. Ngoài sự tham gia của đại diện các hộ gia đình dân tộc Dao theo nguyên gốc ban đầu thì đến nay còn có sự tham gia của các hộ gia đình dân tộc Tày do có sự giao thoa về văn hóa giữa các dân tộc cùng sinh sống trên địa bàn. Khác với tục cúng rừng của dân tộc Nùng, lễ cúng rừng của dân tộc Dao áo dài được tổ chức vào tháng giêng âm lịch hàng năm với sự tham gia của địa diện các hộ gia đình nhằm tưởng nhớ tới các nhân vật là Bàn Đạo Uy, Vương Văn Đồng, Viện Gia, Trương Gia, Hoàng Văn Thọ, Nguyễn Đình Bích và Hoàng Phó Tổng, là những người trước đây đã có công giúp cộng đồng dân tộc Dao khai ấp lập làng, giữ yên bờ cõi.

Đối với nghi thức cúng rừng của nhóm dân tộc Dao đỏ xã Hồ Thầu được tổ chức quy mô nhỏ. Xuất phát từ tục thờ đa thần nên cách đây vài trăm năm các hộ gia đình dân tộc Dao sinh sống trong xã Hồ Thầu đã dành một khu rừng cấm tại thôn Tân Thành làm nơi tổ chức tế lễ của các hộ gia đình, khi có nhu cầu về tâm linh liên quan đến thế giới thần ma rừng (Phiu miến) thì các hộ gia đình trong xã tự tổ chức vào một thời điểm không cố định trong năm.

Với người La Chí họ quan niệm rằng mỗi khu rừng, vạt nương hay mảnh ruộng đều có thần nương là Ngui Ui, thần ruộng là Ngui Nui cai quản và canh giữ cho cây cối phát triển tươi tốt. Tùy theo từng năm mà lễ cúng rừng  của người La Chí được tổ chức quy mô từng thôn hoặc xã vào dịp tháng 9 hoặc tháng 10 âm lịch hàng năm sau khi các gia đình thu hoạch lúa xong với sự tham gia của đại diện tất cả các hộ gia đình trong thôn hoặc xã. Các lễ vật và món ăn được chuẩn bị sơ chế sẵn, sau đó đem vào rừng để cúng vào buổi chiều rồi ăn uống tại chỗ đến tối mới được về nhà.

Dân tộc Mông là dân tộc đứng thứ 4 trong tỷ lệ các dân tộc của huyện Hoàng Su Phì và cư trú tại 14 xã trong huyện thỉ chỉ có nhóm dân tộc Mông của xã Thèn Chu Phìn là tổ chức lễ cúng rừng vào dịp cuối tháng riêng âm lịch hàng năm. Lễ thức này được tổ chức tại rừng cấm thôn Lùng Chín Thượng với sự tham gia của đại diện các hộ gia đình dân tộc Mông trên địa bàn xã. Khác với lễ cúng của các dân tộc khác trong huyện được tổ chức để tưởng nhớ tới các nhân vật liên quan đến quá trình lịch sử phát triển của cộng đồng và pha trộn tín ngưỡng nông nghiệp, lễ cúng rừng của dân tộc Mông là sinh hoạt văn hóa mang đậm tín ngưỡng nông nghiệp với nhân vật được cúng tế là Vàng Lùng (Tức Vương Long) để cầu cho mưa thuận gió hòa.

Mặc dù tổ chức với hình thức và quy mô nào thì lễ cúng thần rừng của các dân tộc sinh sống trên địa bàn huyện Hoàng Su Phì luôn là một hoạt động văn hoá mang tính tâm linh quan trọng, thể hiện ý thức tôn trọng, lòng biết ơn thần linh, trời đất, tổ tiên và hướng về cội nguồn. Lễ thức này mang đậm nét văn hóa canh tác nông nghiệp. Đây cũng là dịp để các hộ gia đình giao lưu trao đổi tâm tư, tình cảm, từ đó tăng cường và củng cố tinh thần đoàn kết cộng đồng, xóm giềng, làng xã trong nhân dân.

Lễ cúng rừng cũng là một trong những nét đẹp trong lĩnh vực bảo vệ tài nguyên môi trường. Lễ thức này cùng với sự quản lý có hiệu quả của cộng đồn đã khuyến khích người dân bảo vệ rừng, sống hòa hợp với thiên nhiên. Vì vậy, mà khu rừng cấm của cộng đồng đến nay vẫn được bảo vệ tốt. Trong đó có nhiều khu rừng đã giữ được những cây cổ thụ nhiều năm tuổi và nhiều loại thảo dược quý, phục vụ cuộc sống của con người. Nhất là tại các xã Pố Lồ, Nam Sơn, Hồ Thầu, Pờ Ly Ngài.

Bên cạnh những giá trị văn hóa tiêu biểu như trên, thực tế cho thấy lễ thức cúng rừng của các dân tộc hiện vẫn còn một số tồn tại cần, cải tạo, khắc phục. Đó là việc tổ chức còn nhiều tốn kém và rườm rà. Trong quá trình tổ chức lễ cúng thường tổ chức hoạt động ăn uống kéo dài, vậy đã gây tốn kém về vật chất cho gia đình và cộng đồng. Đặc biệt là đối với dân tộc Nùng, trong vòng 6 ngày kể từ ngày diễn ra lễ cúng rừng người dân địa phương không vào rừng kiếm củi, săn bắn, thu hoạch măng, mộc nhĩ, lấy mật ong và không lao động sản xuất…Vì vậy đã ảnh hưởng đến việc lao động sản xuất trong nhân dân. Mặt khác, hầu hết các lễ cúng rừng của dân tộc Nùng đều có tục kiêng kỵ không cho phụ nữ tham gia nên đã làm mất đi ý nghĩa tốt đẹp của lễ thức này.

Hiện nay, việc phát triển du lịch đang có xu hướng khai thác các tài nguyên du lịch về văn hóa, nhất là du lịch trải nghiệm, du lịch tâm linh. Vì vậy việc duy trì lễ thức cúng rừng là một trong những sản phẩm du lịch có khả năng thu hút mạnh mẽ đối với khách du lịch đến huyện Hoàng Su Phì, đồng thời góp phần khắc phục tình trạng du lịch mùa vụ như hiện nay. Tuy nhiên trong thời gian tới, hội nghệ nhân dân gian và các cấp, ngành liên quan cần biện pháp để giảm bớt việc kiêng kỵ, hạn chế về quy mô, không tổ chức ăn uống linh đình nhằm góp phần cải tạo, bài trừ các hủ tục lạc hậu và vẫn giữ nguyên được giá trị văn hóa tốt đẹp của lễ thức cúng rừng.

 

 

 

Thứ Tư, 16 tháng 2, 2022

GIỐNG CHÈ.... HÁT SAN (Truyện vui cực ngắn)

    Thực hiện chủ trương tăng cường cán bộ về cơ sở, đồng chí Choáng - vốn là giáo viên môn văn, hiện là hiệu trưởng trường cấp 2 được điều về làm Bí thư Đảng ủy xã X. Vốn là người nghiêm khắc, nóng tính và quyết đoán, mọi mệnh lệnh được đồng chí đưa ra đều được cán bộ dưới quyền thực hiện dăm rắp.
Năm rồi, trên huyện tổ chức một cuộc thi kiến thức nhà nông dành cho cán bộ huyến nông ở các xã trong huyện. Nhận được kế hoạch, đồng chí cán bộ khuyến nông liền lên xin ý kiến của đồng chí Bí thư Đảng ủy xã.
- Dạ thưa anh, dạo này huyện và tỉnh ta đang có hướng khuyến khích việc trồng và phát triển cây chè, vậy thì nên chăng xã ta hãy làm một tiểu phẩm về đề tài cây chè để tham gia dự thi ???
Nghe vậy, đồng chí Bí thư Đảng ủy liền đồng ý ngay tắp tự:
- Nhất chí cho chủ trương, nhưng chú lưu ý sau khi tham gia thi thố xong thì phải về tuyên truyền cho bà con, phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương, nhể!!!
Vui mừng vì được Bí thư Đảng ủy nhất trí cho chủ trương về nội dung, ngay buổi chiều cậu cán bộ khuyến nông hì hụi ngồi viết kịch bản tiểu phẩm rồi tham mưu quyết định trưng tập các khuyến nông thôn bản để tham gia hội thi.
Hai ngày sau, Đội bắt tay vào luyện tập. Buổi đầu tiên, đồng chí Bí thư Đảng ủy đến dự. Nghe đến đoạn thoại lời có câu: "... Dạ thưa quý vị, đây là giống chè san tuyết thơm ngon nổi tiếng đấy ạ..." đồng chí Bí thư Đảng ủy mặt đỏ phừng đứng phắt dậy khiến chiếc ghế gỗ suýt đổ ngửa:
- Sao... Sao lại san tuyết ? phải đọc là chè Hát san mới đúng, tuyên truyền mà thế à, vớ vẩn...
Nghe vậy, cậu cán bộ khuyến nông cứng cả hàm chẳng kịp thanh minh, tức thì cô cán bộ văn hóa nhanh trí:
- Vâng, đúng đấy ạ, chúng em sẽ sửa ngay...
- Phải sửa, ừ... phải sửa chứ, nó là cái thuật ngữ khoa học thì phải nói đúng, mình không những là đi thi để lấy giải mà còn phải về tuyên truyền cho bà con chứ, mấy cái cậu này, may mà tôi còn kịp tới dự chứ không thì tuyên truyền sai hết chủ trương. Mà theo tôi các đồng chí nên thiết kế một vài cái trực quan cổ động hình cái cây chè, búp chè để cho bà con nhìn thấy, mà lời nói cũng phải thêm thắt một tý thơ văn vào thì nó mới sinh động. Ví dụ như này: Quê em bát ngát chè xanh/Em nhanh tay hái cho anh ngọt mồm... đại khái là như vậy. Còn chuyên ngành các cậu phải thêm mắm thêm muối vào cho hay, cho có nghệ thuật. Nhể!!!
- Dạ nhưng mà...
Biết tính đồng chí Bí thư Đảng ủy, cô cán bộ văn hóa bấm vội vào cổ tay cậu khuyến nông.
- Vâng ạ... Cậu khuyến nông vội trả lời để nuốt vội cái yết hầu chợt nhô lên như quả trám ba cạnh xuống dưới cổ.
Buổi tổng duyệt, mặc dù phải chuẩn bị đi họp nhưng đồng chí Bí thư Đảng ủy vẫn dành thời gian đầu giờ đến dự. Nghe lời giới thiệu về đội thi, vừa đến câu thơ: "... Quê em có ruộng bậc thang/Có hương chè tuyết Hát san thơm lừng" Đồng chí Bí thư Đảng ủy thích chí vỗ đùi đánh đét một cái làm cô cán bộ văn hóa run lẩy bẩy suýt đánh rơi cả cái micro.
- Thế chứ!... các đồng chí làm đúng định hướng của Đảng ủy như thế là tốt đấy...
Tưởng gì, hóa ra được khen, buổi tổng duyệt hừng hực khí thế, chỉ tội mỗi cậu cán bộ khuyến nông cứ ngồi một chỗ một mình hậm hực hành hạ cái yết hầu.
Hôm thi, đội tuyển của xã diễn cũng hừng hực khí thế. Kiến thức trả lời đâu vào đấy và chắc là khá hài hước nên được khán giả cười nghiêng ngả, chỉ mỗi tội hơi ít tiếng vỗ tay. 
Thi xong, cô cán bộ văn hóa rút điện thoại thông báo cho đồng chí Bí thư Đảng ủy:
- Dạ thưa, báo cáo anh, đội mình diễn hay lắm ạ...
- Thế giải giếc thế nào? Đồng chí Bí thư Đảng ủy vội hỏi lại.
- Dạ, Bây giờ chưa rõ, nhưng khán giả cười ác lắm, cổ vũ rôm rả lắm. Chắc là thành công. Cuối buổi bế mạc trao giải, xin anh bớt thời gian đến dự và động viên đội nhà ạ...
- Có chứ, có chứ, tớ sẽ đến động viên tý - đồng chí Bí thư Đảng ủy xuồng sã..
Lễ bế mạc, đồng chí Trưởng ban tổ chức lên đánh giá rút kinh nghiệm, sau một thôi một hồi nêu những kết quả sáng tạo của các đội cũng không quên đánh giá những khiếm khuyết tồn tại, trong đó nhấn mạnh: Một số đội của các xã còn yếu về kiến thức chuyên môn, ví dụ: chè San tuyết chứ không phải là Hát san, giống ngô "chín chín chín" sao lại đọc là "Ngô ba con chín"... vân vân và vân vân... Nghe vậy, đồng chí Bí thư Đảng ủy thấy nóng bừng mặt lẩm bẩm:
- Người ta ở đất chè còn hiểu hơn các vị chứ, ban giám khảo này chả hiểu gì cả... đây là THUẬT NGỮ KHOA HỌC... Phải gọi là chè Ét Han mới đúng, không tin mở từ điển ra mà xem, nhá...
Nói rồi đồng chí Bí thư xô phắt ghế bước thẳng ra ngoài hội trường để mặc cho đồng chí Phó chủ tịch Đề án sáu trăm thay mặt Đội lên nhận giải khuyến khích.

BIỂN VẮNG

         Chiều nay biển vắng con tàu

Sóng xô nhớ cánh buồm nâu cuối trời.
          Giọt buồn sâu lắng mắt người
Mênh mông sâu thẳm trùng khơi mịt mờ.
          Nơi xa, tàu biết đâu bờ.
Biết chăng bến đợi, biển chờ buồm nâu...

Thứ Ba, 4 tháng 1, 2022

TẾT XƯA

 Tết quê xưa

Hoài niệm về những ngày khốn khó 
---------------------------------
Năm 1985.
Cuộc cải cách giá - lương - tiền đã khiến không ít gia đình khốn đốn, nhà thằng Tuấn cũng không nằm ngoài số đó.
Nhà nó có bẩy chị em, bốn gái, ba trai đứa nọ đứa kia sàn sàn cách nhau hai ba tuổi cùng hai bố mẹ chen chúc trong căn nhà tranh hai gian hai trái kèo tre nền đất. Tháng ba, một cơn lốc đầu mùa đã hất tung một nửa mái, bố mẹ và chị gái Tuấn phải bỏ mất ba ngày đi bóc lá mía về phơi khô để lợp tạm. Căn nhà vốn đã ọp ẹp lại càng thêm thảm hại. Ông Doanh là đội trưởng đội 3 xã Hồng Lạc huyện Sơn Dương của tỉnh Hà Tuyên cũ cũng là chỗ thân quen với gia đình nó thấy vậy liền tổ chức hẳn một buổi họp đội, kết quả là ra được một cái biên bản đề nghị với Ban chủ nhiệm Hợp tác xã và Lâm trường Sơn Dương cho bố mẹ nó mua hai chục cây gỗ mỡ và bạch đàn của Lâm trường để làm nhà mới. Anh em, bạn bè hàng xóm với bố mẹ nó dồn tiền cho vay người dăm ba chục đồng, người yến thóc để giúp đỡ làm nhà. Đùng cái, giữa tháng sáu Nhà nước ra quyết định đổi tiền, cứ một trăm đồng tiền cũ đổi được một đồng tiền mới. Số tiền gần triệu bạc bố mẹ nó tích cóp được bị tụt giá thảm hại bởi hạn ngạch Nhà nước chỉ cho đổi không quá hai nghìn đồng tiền mới, vừa đủ trả công thợ. Đến tháng mười, sau vụ gặt tính theo công điểm nhà nó được chia gần năm tạ thóc, bốn con lợn thì mất hai con bán nghĩa vụ cho Cửa hàng thực phẩm, còn hai con bán được gần trăm bạc vừa đủ tiền mua một nghìn rưởi ngói Hương Canh. Cực chẳng đã, sợ nhà sập bố mẹ nó vẫn quyết thuê mấy bác thợ vườn để làm nhà gỗ năm hàng chân.
Gần tết, căn nhà gỗ làm xong nhưng thiếu hẳn một nửa ngói lợp, thế là bố mẹ và chị gái cả lại lóc cóc đi xin hàng xóm mấy gánh lá mía để lợp tạm để lấy chỗ che mưa che nắng.
Gần tết, mẹ nó lấy mấy mét phiếu vải vẫn để dành từ đầu năm ra cửa hàng bách hóa mua hơn chục mét vải phin trắng và gói phẩm xanh về đun sôi và cho vải vào luộc rồi đem phơi, sau đó dẫn cả mấy chị em sang nhà ông Ngoại vốn là thợ may bỏ nghề, lấy chiếc lạt trên gác bếp làm thước, ông nó đo chiều dài tay, chân từng đứa rồi cắt vải và bảo chị nó phụ giúp ông xâu chỉ để may quần áo tết cho cả mấy chị em.
Sáng 28 tết, mẹ nó phân công chị cả ở nhà rửa lá dong gói năm cân gạo bánh chưng còn thằng Tuấn và chị thứ hai cùng mẹ đi chợ Kim Xuyên nằm sát bên bờ sông Lô. Là phiên cuối năm nên chợ chật cứng người, cả ba mẹ con dắt díu nhau chen lấn đến nghẹt thở mới mua được mấy gói kẹo, cân su hào và mấy cái bắp cải, còn thừa mấy đồng tiền lẻ mẹ nó dúi cho hai chị em. Mắt sáng như sao, nó giật vội tay chị gái rủ đi mua được nửa bánh pháo Hà Sơn Bình và mấy quả pháo cối, đợi em mua pháo xong, chị giắt tay Tuấn đi ra sạp hàng bán quần áo, cúi gằm khuôn mặt đang đỏ lừ vì xấu hổ, chị nó chọn vội được cái coóc xê ghép bằng những vải tiết kiệm, thấy vậy, bà chủ quán chửi yêu: Mẹ cha mày cháu ạ, con gái mới lớn mặc cái ý sao vừa, để bác chọn cho cái khác…
Mãi chiều ba mươi tết, mẹ nó mới ra cửa hàng thực phẩm, tranh nhau đến sẩm tối mới mua được một cân thịt ba chỉ và cân xương sườn. Tối giao thừa, bố nó mổ con gà trống và đồ xôi sắp mâm lễ cúng tổ tiên. Ngay từ chiều, ngửi mùi khói hương quyện lẫn mùi hương bưởi bày mâm ngũ quả trên bàn thờ và mùi thuốc pháo phảng phất khiến thằng Tuấn rạo rực trong ruột, đến bữa chán cả ăn bởi háo hức chỉ đợi nhanh đến giao thừa để được đốt pháo. Bẩy giời tối, nó thay cả sáu bát pin nước cho chiếc đài Vef 206. Gần sang canh, mẹ nó gọi cả bẩy chị em dậy, đón giao thừa, nghe tiếng gọi, nó bật dậy cầm cái cành tre trên buộc nửa bánh pháo cài lên mái nhà, đúng lúc chủ tịch nước Trường Chinh chúc tết trên Đài phát thanh thằng Tuấn tay run bần bật nhận que đóm bố nó đốt sẵn châm vào dây pháo, bố nó nói thì thầm: Lạy trời pháo không xịt… Ngòi pháo bắt lửa rồi nổ lẹt đẹt hòa vào tiếng pháo vang rền khắp nơi. Khói chưa tan, nó nhảy phắt xuống sân tìm pháo xịt, cả nhà nó mặt tươi rói vì bánh pháo nổ tan tành chỉ có vài ba quả xịt. Bố nó bảo, pháo nhà mình nổ rền thế này là năm nay sẽ may mắn lắm đấy.
Đốt pháo xong, cả mấy chị em nó nghển cổ ra đoán nhà ai trong xóm có nhiều pháo nhất và pháo nổ to nhất. Nhìn sang bờ sông bên Vụ Quang, thằng Tuấn bảo: Bên kia đốt nhiều pháo thật, toàn pháo to. Nghe vậy, chị cả nó chép miệng bảo: Chuyện, bên ý toàn nhà giàu lại lo... Mẹ nó thì nhìn lên bầu trời và nói: Năm nay sang canh trời tối thế này thì trồng đỗ đen sẽ ra nhiều quả lắm…rồi quay vào nhắc mấy chị em: Sang canh xong rồi, mấy chị em chúng mày không được chửi nhau, không được đánh đổ vỡ đồ đạc, nhất là không được để đèn tắt mà cả năm mất giông đấy…
Đợi mãi cả tiếng đồng hồ sau giao thừa, đến khi ngớt hẳn tiếng pháo thằng Tuấn mới vào giường, trằn trọc cả tiếng vẫn chưa ngủ bởi tiếng pháo đì đoàng, nó buột miệng: Họ nhiều pháo thật… Bố nó nhắc: Ngủ đi con, sáng mai dậy sớm còn đi chơi tết.
Sáng mùng một tết, cả chín người nhà nó ngồi quây quần quanh mâm cơm ngon nhất trong năm, có đủ cả thịt gà, thịt ba chỉ luộc, canh rau bắp cải, nem cuốn và hương rượu thoang thoảng trộn lẫn mùi khói đèn dầu. Loáng cái, mâm cơm đã sạch chơn, bố mẹ nó nhìn nhau ngậm ngùi rồi bảo: Thôi các con ạ, thịt còn nhưng để đến chiều kẻo tết còn những ba ngày nữa cơ mà…
Ăn sáng xong, bố mẹ nó mở hòm lấy quần áo mới ra mặc cho mấy chị em. Cả bẩy đứa lầng nhầng lít nhít xúng xính trong bộ quần áo vải phin nhuộm phẩm rộng thùng thình, quần ta thắt dải dút trông xanh lè như đàn cánh cam. Chị cả lớn nhất được mẹ giao nhiệm vụ cai quản cả đàn em đi chơi tết. Mấy chị em thằng Tuấn đi ra phố chơi tết khiến cả xóm ngỡ ngàng vì cả nhóm đi có hàng có lối cứ như đàn kiến. ra khu lò gạch cũ, thằng Tuấn trố mắt xem mấy anh lớn tuổi đánh đáo trong khi mấy đứa chị mải mê tìm mấy quả bóng bay vỡ để mút và buộc thành những quả táo xanh đỏ rồi bóp vỡ đánh pạch như tiếng pháo. Mãi đến chiều cả bẩy chị em mới về đòi bố nấu canh mì với nước luộc gà, cả bọn ngồi xung quanh bếp lửa dấm trấu khói nghi ngút thọc chân vào đống tro nóng húp xì sụp như chưa bao giờ được ăn món ngon như thế.
Thời tem phiếu lặng lẽ qua như một tất yếu của lịch sử, cơ chế thị trường như luồng gió mới, mọi nhà được quyền tự do nuôi lợn, nuôi gà và bán lấy tiền trang trải cho mấy ngày tết. Nhà thằng Tuấn cũng dần khấm khá, nó được đi học hết cấp ba và đỗ đại học rồi vào công tác ở một cơ quan nhà nước, nhà nó cũng dần ăn lên làm ra. Những tết sau đó, nhà nước cấm đốt pháo nhưng tiếng lợn kêu eng éc khi giết mổ ngày tết của mỗi nhà thì không còn bị phạt nữa bởi hàng rào thuế sát sinh và chế độ nghĩa vụ đã được rỡ bỏ, nhưng cái tết nghèo năm ấy thì nó không bao giờ quên được, nhất là tiếng pháo nổ đì đoàng, và nó không bao giờ quên được những bộ quần áo ta xanh như màu cánh cam của mấy chị em mặc trong ngày tết.
Tết quê xưa là vậy.
Mấy cái tết năm nay, nhà nó năm nào cũng có đủ cả bánh chưng, thịt lợn, rượu tây và cành hoa đào, bố mẹ nó đã thành người thiên cổ nhưng mùng một tết năm nào nó vẫn nấu một nồi canh bắp cải và đĩa thịt ba chỉ luộc để thắp hương cho bố mẹ, âu cũng để nó nhớ về một thời khốn khó mà bọn trẻ bây giờ ít ai tưởng tượng đến.
....................

Chủ Nhật, 2 tháng 1, 2022

MÙA CHÓ NO

 


(Hoài niệm về hai mùa no ấm của đàn chó quê tôi)

Cách đây hơn chục năm, nơi tôi công tác bây giờ đường xá đi lại rất khó khăn, cả 2 huyện phía tây của tỉnh Hà Giang là Xín Mần và Hoàng Su Phì chỉ có 1 con đường đất độc đạo gồ ghề một bên là vách đá, 1 bên là bờ vực sâu hun hút. Đường vừa khó đi lại nhiều đèo dốc quanh co nên cung đường được đặt tên là Thiên cua lộ và Vạn cua lộ. Mỗi tuần chỉ có 2 chuyến xe khách, dịp cuối năm thì tăng gấp đôi, còn lại hành khách phải đi bằng các kiểu xe khác nhau: Xe xitec chở xăng, xe zin chở xi măng, sắt thép… miễn sao vượt qua được quãng đường 100 km với 4 giờ đồng hồ để ra đến Quốc lộ 2, vì vậy chuyến xe nào cũng chật cứng như nêm cối. Mà dạo đó khách đông nhất vẫn là các thầy cô giáo người miền xuôi lên vùng cao dạy chữ cho người dân. Vốn quen cuộc sống dư giả, đi toàn đường xịn nay bị nhồi nhét như nhồi vịt nên 100 người thì có đến 90 người say xe đến nhừ tử.

Dạo đó, người dân nơi đây còn nghèo lắm, đến bữa toàn ăn thứ cơm 3 chế độ - tức là cơm tiêu hóa 3 lần mới xong vì độn toàn sắn, vào tháng tư, củ sắn sượng cứng ngắc, người ăn vào không tiêu hóa hết, thải ra rơi vào lá chuối rừng kêu lụp bụp, đến lượt chó dùng lại cũng không thể tiêu hóa được, phải đợi đến loài gà xơi lại nhờ có cái mề cứng để nghiền lần cuối mới xong. 

Vì cuộc sống khó khăn nên người dân khi ấy cứ gầy rộc, con người đã vậy, đàn chó còn thảm thương hơn. Nhất là vào dịp tháng 8 âm lịch dọc đường lúc nào cũng bắt gặp từng tốp chó gầy giơ xương, lông dựng đứng đuôi cụp che hết cả bộ phận sinh dục chạy lông nhông dọc đường để tìm thức ăn. Ấy thế nhưng mỗi năm chúng lại có 2 đợt béo trắng mà chúng tôi hay gọi là mùa chó no.

Mùa thứ nhất là vào khoảng tháng 10 âm lịch. Sau 1 năm cưới xin - thường là vào cuối năm thì dịp này là lúc các cặp vợ chồng nhảy ổ và một loạt trẻ sơ sinh ra đời, mà đồ thải của bọn trẻ sơ sinh thì toàn có nguồn gốc là thức ăn ngon tiêu hóa không kịp, thôi thì bỉm biếc từ xe khách vứt đầy đường nên đàn chó tha hồ xé để nhai và hà hít cái chất nhầy nhầy ngấm vào lớp bông thấm. Dịp này cũng là mùa gặt, sau một thời gian đói kém nay đến mùa thu hoạch nhà nào cũng tổ chức ăn cơm mới, vừa không phải độn sắn khoai lại có tý thịt nên ai cũng ăn đến nứt bụng, ít thì 4 hoặc 5, nhiều thì 6, 7 bát lại có tý thịt nên cơ thể dù lao động vất vả đến mấy thì tiêu hóa cũng không thể kịp. Ăn nhiều thì thải nhiều, mà dạo đó thì đâu có nhà vệ sinh tự hoại như bây giờ nên bom mìn mỗi quả nặng hàng cân cứ ngang nhiên bày kín các lối mòn hoặc bụi cây, vì vậy đàn chó tha hồ ăn thỏa thích nên cứ béo múp.

Mùa thứ hai là vào dịp trước và sau tết. Dịp này, cán bộ huyện và giáo viên trước khi về quê ăn tết bao giờ cũng tổ chức chè chén no say, nên hôm sau cứ ngồi trên xe là bắt đầu nôn ọe, ban đầu thì nôn vào túi ni lông, sau chán nên cứ truyền hình trực tiếp, đôi khi còn phun thẳng vào giày dép và mặt người đi bộ dưới đường. Dọc tuyến tỉnh lộ 177 khi đó túi bóng thường trắng xóa. Và đàn chó lại được một dịp may hiếm có khi chén lại những bãi nôn, con nào may mắn thì vớ được nguyên túi lòng phèo lợn chưa kịp tiêu hóa, có con thì vô phúc xơi phải túi nôn của ai đó uống nhiều rượu chưa kịp đào thải thôi thì cứ say dúi dụi. Dịp này đàn chó con nào cũng béo múp nhưng ngộ nhỡ bị chó cắn thì cũng đỡ nguy hiểm vì răng chúng không nhiều vi khuẩn bằng mùa kia vì thường xuyên được cọ rửa bằng túi nilon.

Ngày nay xã hội giàu có và văn minh hơn nhiều, các thầy cô giáo và cán bộ huyện hầu hết đã mua được ô tô xe máy, đường xá đổ nhựa phẳng phiu nên người say xe cũng ít. Các hộ gia đình gần đường cũng đã làm được nhà vệ sinh tự hoại nên đồ thải cũng không còn mấy. Đàn chó nay được ăn uống đầy đủ hơn và cũng hết cảnh no theo mùa. Tuy vậy những con chó già may mắn còn sống sót lại thì vẫn nhớ đến cái thời hoàng kim năm nào khi được no theo cái lịch là vào mùa gặt no ấm và dịp tết cổ truyền của con người.