Người theo dõi

Chủ Nhật, 18 tháng 2, 2024

HUYỀN THOẠI THÁC XOANG VÈNG

 

Nhà Vàn Tồng nằm ngay sát ngã ba suối Hò Piên, con suối quanh năm nước chảy cuồn cuộn được tạo thành bởi hai nhánh, một nhánh nhỏ bắt nguồn từ dãy núi Hô Sán và một nhánh lớn bắt nguồn từ dãy núi Tồm Sán chảy về, đến đầu làng Thượng thì hợp lại thành Suối Hò Piên rồi chảy xuôi về hướng đông nam tạo thành con sông Bạc hùng vĩ. Gần đến điểm hợp lưu thành suối Hò Piên, nhánh suối lớn từ dãy Tồm Sán chảy qua một vách đá trắng dựng đứng cao đến hơn một trăm mét tạo thành thác nước ba tầng quanh năm tung bọt trắng xoá, người dân ở đây gọi là thác Xoang Vèng tức là thác Suối vàng.

Ở chỗ hợp lưu hai nhánh suối thành con suối Hò Piên là một bãi đất tương đối bằng phẳng nhưng cũng chứa đựng nhiều câu chuyện rùng rợn, nhất là chuyện về những xác chết. Ma quỷ ở đâu thì chưa ai thấy nhưng nghe kể đã có hàng chục người bị chết đuối hoặc bị lũ cuốn từ nơi khác về nơi này rồi trôi dạt vào những vũng nước quẩn chỗ ngã ba suối, có người thì còn nguyên vẹn người khác không may mắn thì cụt cả đầu hoặc mất chân, mất tay, sau đó được dân làng vớt lên và chôn cất ở hai bên ven suối. Lâu ngày nhiều ngôi mộ bị sạt lở, nhiều khi lộ ra những khúc xương trắng hếu.

Ở bãi bằng ngay lối vào làng là những khối đá sừng sững và xám ngoét đủ mọi hình thù, khối thì hình con thuyền, khối thì hình con voi, con ngựa, khối thì hình người, khối khác thì có hình con chó, con gà, con lợn. Sát ngay bên cạnh có một ngôi miếu nhỏ tương truyền là miếu thờ Hoàng Vần Thùng, có người thì lại cho rằng miếu đó là để thờ những người bị chết từ nơi khác theo con suối Hò Piên trôi dạt về. Trải qua nhiều năm tháng, ngôi miếu được người dân của hai làng thường xuyên trông coi tu sửa và thờ tự hương khói vào những ngày rằm và mùng một.

Từ ngày còn nhỏ Vàn Tồng đã nghe ông nội kể câu chuyện truyền thuyết của người Dao về những khối đá có hình thù kỳ dị này. Đó là câu chuyện kể về một vị thổ tù rất giàu có người địa phương tên là Hoàng Vần Thùng vốn có tài hô mưa gọi gió, được giao cai quản vùng đất trải dài từ Châu Vị Xuyên đến Châu Thuỷ Vĩ tức huyện Bắc Hà ngày nay. Gặp phen đất nước loạn lạc Hoàng Vần Thùng cùng con cái được quân binh hộ giá và đem theo rất nhiều của cải trốn chạy, đến khu vực thác đá trắng này gặp đường xá hiểm trở nên đã tìm chỗ cất dấu kho báu, còn toàn bộ ngựa xe cùng gia súc gia cầm được ông biến thành đá để không bị rơi vào tay kẻ thù.

Chẳng biết thực hư câu chuyện ra sao, thế nhưng từ rất lâu rồi trong cộng đồng người dân làng Thượng và làng Hạ ai cũng biết câu chuyện về kho vàng của Hoàng Vần Thùng được đoàn tuỳ tùng của ông chôn giấu ở khu vực này với nhiều dị bản khác nhau. Người thì nói rằng kho báu được chôn giấu ở thác Xoang Vèng nên con thác mới có tên là thác Xoang Vèng tức là thác vàng còn dưới hạ lưu có tên là sông Bạc, người thì cho rằng được chôn ở dưới một trong những con voi đá, ngựa đá, người khác lại kể câu chuyện kho báu được chôn ở mãi trên hang Tham Kỳ trên đường đi làng Phìn Hò.

Cách đây mấy chục năm có hai người lạ hoắc không rõ đến từ nơi nào đem theo chài lưới và dụng cụ nói là đi bắt cá suối nhưng toàn gặp gỡ người dân để dò la về những câu chuyện về kho vàng, về những con voi đá, ngựa đá, về thác Xoang Vèng và hang Tham Kỳ, sau đó hai người đi ngược con suối Hò Piên lên phía thác Xoang Vèng để bắt cá rồi biến mất. Nghĩ là họ đã bị chết đuối hoặc rơi thác, người dân trong làng chia nhau đi tìm và đón đợi ở ngã ba suối cả mấy ngày để tìm xác cũng không thấy.

Chuyện là vậy nhưng từ trước đến giờ trong làng chưa có ai nhặt được hòn vàng hòn bạc nào nên ai nấy đều cho rằng đấy là chuyện cổ tích chứ không có thật.

Với người dân của cả hai làng Thượng, làng Hạ và những hộ gia đình ở khu vực lân cận ai cũng đều coi khu vực này là chốn thiêng, bất cứ ai đi qua khu vực có voi đá ngựa đá và thác Xoang Vèng cũng đều bỏ mũ nón, không dám nói to, không khạc nhổ, phóng uế hoặc làm điều gì xấu.

Quả thật, những ai chưa quen hoặc nghe kể về nơi này nếu bất chợt đi ngang qua vào những ngày này ắt không khỏi lạnh sống lưng khi chợt thấy hiện ra trước mắt những khối đá hình thù kỳ quái trầm mặc và mùi khói hương thoang thoảng bay ra từ ngôi miếu nhỏ.

Làng Thượng và làng Hạ nằm kẹp giữa thung lũng của hai dãy núi, một bên là núi Khau Chang, một bên là núi Hô Sán. Không biết từ bao giờ, suối Hò Piên được người dân ở đây lấy làm đường danh giới giới ngăn đôi giữa hai làng Thượng và làng Hạ. Tiếng là làng nhưng cả làng Thượng và làng Hạ cũng chỉ có chưa đầy hai chục nóc nhà. Để đi đến được làng Thượng và làng Hạ phải đi bộ qua con đường mòn hiểm trở dài gần chục cây số nằm sát bên ven suối và xuyên qua những rừng cây và cỏ dại mọc um tùm rậm rì. Vào mùa khô việc đi lại giữa hai làng tương đối thuận tiện vì chỉ cần tìm những đoạn suối hẹp rồi bắc mấy cây vầu là qua được. Còn mùa mưa nước dâng cao thì phải gác những cây mai dài hàng chục mét qua những cây gỗ to hai ven suối để làm cầu.

Cũng không biết là do chảy từ rừng già ít đánh bắt thưa thớt mà con suối Hò Piên nhiều cá vô kể, từ cá quất, cá sảm, cá chép, cá chày đất đến cá dầm xanh có con to lừng lững như ống tre ống vầu cứ bơi hàng đàn. Mỗi khi muốn cải thiện bữa ăn chỉ cần đem theo nọn chài hoặc cây súng bắn cá bằng mũi tên ra suối khoảng dăm mười phút là đủ ăn cả ngày.

 Sinh ra và lớn lên ở ngay ngã ba suối Hò Piên, ngoài mỗi ngày vài tiếng đồng hồ học cấp một ở điểm trường của làng, còn lại hầu hết thời gian trong ngày Vàn Tồng với mấy đứa bạn hết leo trèo lên núi lấy củi hái măng, hái quả rừng lại lội xuống suối dùng súng bằng dây cao su để bắn cá. Học hết cấp một do lcả hai làng không có cấp hai nên phải xuống tận xã để học, mỗi ngày đi bộ cả đi cả về gần hai chục cây số, được mấy buổi là nản chí nên Vàn Tồng bỏ học ở nhà và theo bố vốn là thầy cúng của làng học chữ nho.

Cả đời quanh quẩn với núi rừng sông suối nên Vàn Tồng hiểu rõ nơi này như lòng bàn tay. Ví dụ, muốn bắt cá quất, cá chiên thì phải xuôi xuống hạ lưu ở những chỗ suối nước chảy xiết và nhiều đá, cá chày đất, cá sỉnh thì sống ở những chỗ nước sâu còn cá dầm xanh thì chỉ sống ở những chỗ nước trong, sâu và chảy xiết. Cây trám đen, trám trắng nào có quả ngon, rừng vầu nào mọc măng trước hay đặt bẫy chỗ nào là hay trúng thú rừng Vàn Tồng cũng nhớ vanh vách. Thậm chí ở tầng giữa của thác Xoang Vèng chỗ cột nước chảy thẳng từ trên cao xuống lâu ngày khoét thủng đá tạo thành một cái vũng sâu hoắm là nơi có rất nhiều cá dầm xanh có con to như cái phích nước Rạng Đông trú ngụ, từ trước đến giờ trong làng chưa có ai xuống được đến đó, một phần vì nguy hiểm, phần khác là do những câu chuyện đồn đại rằng ở đó có ma nước trú ngụ đã lấy mạng của nhiều người nên ai cũng sợ. Vậy mà Vàn Tồng với tài lặn ngụp siêu đẳng và sức khoẻ dẻo dai dám bện dây rừng làm thang dây rồi thả từ trên đỉnh thác xuống để lần xuống bắn cá, có những bận bắn được con cá dầm xanh to cả yến. Người ta bảo sở dĩ Vàn Tồng bắt cá giỏi vì có đôi bàn chân to bè bè, những ngón chân toẽ ra hai bên như chân ếch nên có nhiều ma sát khiến Vàn Tồng bơi nhanh hơn cá, có thể chạy trên đá trơn trượt mà không ngã.

Hôm ấy, vào một ngày cuối tháng tư âm lịch, tầm chín giờ sáng ngó lên gác bếp chỉ còn một miếng thịt lợn treo bé tý Vàn Tồng lấy đèn pin đội đầu, kính lặn và súng bắn tên định bụng ra suối bắn cá về nấu bữa trưa. Được hơn chục bước ngẩng lên thấy trời xám xịt báo hiệu mùa mưa sắp đến, với kinh nghiệm săn cá suối nhiều năm, Vàn Tồng đoán chắc hôm nay trở trời lũ cá dầm xanh ở thác Xoang Vèng sẽ lên ăn nên có nhiều cơ hội bắn được cá to. Vả lại đây là dịp thác ít nước nhất trong năm nên dễ lặn, dễ săn cá.

Nghĩ vậy Vàn Tồng quay về lấy con dao đi rừng rồi qua nhà Giào Mềnh rủ đi cùng. Nghe vàn Tồng rủ đi thác Xoang Vèng bắn cá, nhớ lại những câu chuyện ma quái về thác Giào Mềnh thấy sợ và chối đây đẩy:

- Ối da… tao không đi đâu, mà hôm nay trời lạnh thế này sao lặn được.

- Trời mưa cả tháng rồi, hôm nay hửng nắng cá lên nhiều sẽ bắn được con to đấy, mày không dám lặn thì đợi ở dưới tao bắn được sẽ thả cá xuống cho mày nhặt - Vàn Tồng thuyết phục.

- Mà hôm qua tao uống nhiều rượu, giờ chưa tỉnh hẳn. Thôi, mày ra suối bắt mấy con cá sứt mũi về ăn tạm để chiều nắng ấm hẳn thì hãy đi. Giào Mềnh cương quyết.

Cảm thấy những con dầm xanh như đang bơi lội trong đầu và sợ trời hết nắng, Vàn Tồng bảo:

- Thôi để tao đi lên đó trước xem như nào, có gì đến chiều mày đi cùng tao cũng được.

Nói rồi mượn thêm cái đèn pin của Giào Mềnh, Vàn Tồng đi lên thác Xoang Vèng một mình.

Mất gần hai tiếng đồng hồ để cắt dây mây bện thành chiếc thang dây dài ngoằng và dò dẫm lần từng bước xuống hố nước ở tầng thác giữa. Vừa ngó xuống cái hố nước sâu hoắm chu vi khoảng hơn hai mét Vàn Tồng thấy hoa cả mắt, không phải vì độ cao của thác hay dòng nước đang chảy ầm ầm mà đúng như dự đoán hôm nay trời nắng từng đàn cá dầm xanh lưng đen chùi chũi nổi lên kiếm mồi thoắt ẩn thoắt hiện giữa dòng nước tung bọt trắng xoá.

Đeo vội chiếc kính bắn cá lên đầu và nhét hai cục bông vào lỗ tai, Vàn Tồng nhảy xuống hố nước lạnh buốt, dưới ánh sáng lờ nhờ đàn dầm xanh đông nhung nhúc bơi láo loạn ngay trước mắt. Nhằm vào con cá đầu đàn đen sì dài cả mét, to gần bằng cái cột nhà, Vàn Tồng bấm cái lẫy bắn cái mũi tên đánh vèo một cái vào ngang sườn con cá nhưng do chiếc vảy quá dày và cứng nên mũi tên nảy ra, con dầm xanh có vẻ không biết sợ vẫn bơi lảng vảng ngay trước mặt. Biết là gặp phải con cá già nên vảy cứng, Vàn Tồng liền bơi lùi lại để bắn chéo vào những cái khe vẩy nhưng rốt cuộc mũi tên vẫn nẩy ra như bắn phải tấm sắt. Con dầm xanh như trêu ngươi cứ bơi chầm chậm vòng quanh vách đá ngay trước mắt làm Vàn Tồng càng hăng máu.

Nổi lên để lấy hơi và mài mũi tên vào tảng đá để thêm sắc nhọn, Vàn Tồng vừa lặn xuống đã thấy con cá đầu đàn hiện ra ngay trước mắt. Sau một hồi lừa miếng để tìm cách bắn vào hai bên mang cá nhưng không thành công, con dầm xanh chợt từ từ lặn xuống dưới sâu, Vàn Tồng lặn theo con cá. Xuống đến độ sâu chừng năm mét tiếng nước trên thác dội xuống chỉ nghe thấy ục ục thì con dầm xanh chuyển hướng bơi ngang vào hàm ếch phía trong hang.

Bơi theo con cá được một lúc đến gần hết hơi Vàn Tồng chợt thấy một miệng hang chạy ngang vào lòng núi hiện ra mờ mờ trước mắt rồi không thấy con cá đâu. Chỉ hai cái đạp chân Vàn Tồng đã chui được vào lòng hang rồi trồi ngược lên để lấy hơi, nhưng thật kỳ lạ, cách cửa hang khoảng vài mét thì lòng hang chợt mở rộng ra, có vài phiến đá kê ngay ngắn như xếp bậc ở những đoạn đường mòn dốc.

Dưới ánh sáng lập loè của chiếc đèn pin, Vàn Tồng lần theo các bậc đá rồi đi vào lòng hang, được hơn chục mét thì lòng hang mở rộng ra như gian nhà và tương đối bằng phẳng, phía trong hang tối đen như mực sâu hun hút và chạy thẳng vào lòng núi.

Với bản tính bạo dạn ưa mạo hiểm, Vàn Tồng vừa đi sâu vào hang vừa đảo mắt nhìn ngó xung quanh. Chưa bao giờ Vàn Tồng ở trong một không gian tĩnh lặng như vậy, tất cả đều im phăng phắc không một âm thanh tiếng động dù là nhỏ nhất hay tiếng o o của con giun con dế như ở trên mặt đất. Những viên đá đủ mọi hình thù và kích cỡ khác nhau rêu bám xám xịt và trơn nhẫy nằm lô nhô khắp hang. Mùi đất hăng nồng xộc vào mũi cùng với ánh sáng nhập nhẹm khiến Vàn Tồng cảm thấy hơi chếnh choáng.

Được vài bước Vàn Tồng chợt chết sững khi thấy dưới ánh sáng đèn pin mờ ảo có một dấu chân bên trái của ai đó dưới nền cát, lấy đèn pin soi kỹ thấy giống hệt chân của mình, cũng to bè bè với những ngón chân toẽ ra hai bên một cách kỳ quái.

Bạo dạn là vậy nhưng bỗng nhiên Vàn Tồng cảm thấy sợ hãi, mệt và lạnh. Vàn Tồng lấy một phiến đá kê làm ghế ngồi nghỉ lấy sức, nhưng vừa nhấc phiến đá lên Vàn Tồng bỗng há hốc miệng không kêu được tiếng nào.

Trên phiến đá rộng khoảng 2 gang tay, dài khoảng 3 gang có một mặt sần sùi, một mặt khá nhẵn nhụi được khắc thứ chữ nho cổ, do lâu ngày nên rêu mốc bám kín. Đem ra vũng nước vừa rửa vừa cạo để lộ ra 3 hàng chữ nho được khắc vào đá theo hàng dọc từ trên xuống, do được học chữ nho của thầy cúng nên Vàn Tồng biết đọc, nội dung tấm văn bia ghi rằng: THU THIÊN KỶ HỢI, CẢNH HƯNG TỨ THẬP TUẾ, TÂN VƯƠNG VIÊN TỊCH. Phía dưới bia có 3 dòng chữ nhỏ rằng: VÀN TỒNG ĐÔ LONG THỔ QUAN và CHƯ TAM ĐỒNG HỮU NGỘ - PHÀM BẤT KHẢ NHÂN LAI - CỐ TÌNH ĐƯƠNG NHIÊN TỬ.

Nhớ lại những câu chuyện truyền thuyết về kho báu, chuyện về voi đá, ngựa đá của Hoàng Vần Thùng rồi chợt nhìn xuống bàn chân to bè giống hệt vết chân ở bãi cát ngay cửa hang, Vàn Tồng thấy như có dòng điện chạy dọc sống lưng khiến mồ hôi chợt vã ra như tắm vì không ngờ những truyền thuyết kia lại có thật, giờ hiển hiện ra nay trước mắt.

Ngồi một lát để lấy lại tinh thần và dũng khí, Vàn Tồng lần mò theo các bậc đá tiếp tục đi sâu vào trong hang. Được gần hai chục mét Vàn Tồng chợt chết sững và hét to lên một tiếng khi thấy hai bộ xương người xám xịt nằm úp sấp đầu hướng về phía cửa hang, nằm đè lên hai bộ xương là hai chiếc bựa púi (túi đeo bằng vải của người Dao đỏ) đã mục nát, xung quanh là những thỏi vàng thỏi bạc rơi tung toé. Ngoài ra còn có hai chiếc đèn pin và hai chiếc súng bắn cá mũi tên đã gỉ sét.

Nhớ lại câu chuyện về hai người ở nơi khác về săn cá sau đó mất tích cách đây mấy chục năm, Vàn Tồng tin chắc đây chính là họ. Vì lý do nào đó hoặc bị mắt kẹt và không thoát ra được nên chết ở đây.

Quá nhiều sự việc rùng rợn ập đến một lúc trong một không gian chật hẹp và đầy ma mị khiến một người can đảm như Vàn Tồng cũng thấy tim đập chân run, hai đầu gối như muốn khịu xuống.

Ngồi một lát để trấn tĩnh và lấy lại tinh thần nhưng càng nghĩ Vàn Tồng càng thấy mọi việc trở lên kỳ quặc và rối rắm. Nào là chuyện về kho vàng kho bạc của Hoàng Vần Thùng, nào là tấm văn bia bằng đá, nhất là sự trùng hợp đến kinh ngạc về tên gọi của vị thổ quan khắc trên văn bia lại trùng với tên gọi của Vàn Tồng, vì theo tiếng Hán thì Vàn Tồng chính là Vần Thùng, nói theo tiếng Kinh là Văn Đồng, và không hiểu sao bàn chân của Vàn Tồng lại xoè ra hệt như vết chân trên cát ở cửa hang. Không những thế trên tấm văn bia kia cũng lại nhắc đến việc chỉ những ai có ba điểm giống nhau thì mới vào được nơi này.

Chợt nhớ ở trong hang đã quá lâu, đèn pin cũng sắp hết điện, Vàn Tồng nhặt mấy thỏi bạc định đem về, song tìm quanh không có gì để đựng đành dứt cái dây cao su của súng bắn cá buộc túm lại được gần chục thỏi và đeo vào thắt lưng và leo xuống cửa hang. Sau một hơi dài Vàn Tồng nổi lên mặt nước, quên hết đàn cá dầm xanh, Vàn Tồng leo lên thang dây rồi chạy một mạch về nhà.

Vừa vào đến cửa, Vàn Tồng liền kể lại và khoe với bố mấy thỏi bạc. Nghe xong câu chuyện, ông Mềnh Quyên lúc đầu chưa tin lắm nhưng cầm trên tay mấy thỏi bạc còn dính đầy bùn đất rêu mốc thì đúng là sự thật hiển nhiên không tin không được, cả đời ông chưa bao giờ thấy số bạc nhiều đến thế.

Xem đi xem lại mấy thỏi bạc, ông trầm ngâm:

- Thế là đúng rồi, không phải tự nhiên mà ông bà tổ tiên lại gọi đó là thác Xoang Vèng tức là suối vàng. Đây ắt hẳn là kho vàng của Hoàng Vần Thùng rồi. Nghĩ một lát ông hỏi lại Vàn Tồng:

- Thế mày đã xem kỹ cái hang chưa?

- Chưa bố ạ - Vàn Tồng trả lời.

- Cái hang đó chắc chắn sẽ còn nhiều bạc nhiều vàng lắm chứ không chỉ có một tý ở chỗ bộ xương đâu.

- Sao bố biết - Vàn Tồng hỏi lại bố.

- Các cụ tổ tiên kể lại rằng ngày xưa Hoàng Vần Thùng có nhiều vàng bạc của cải lắm, cả một đoàn người với hàng trăm con ngựa chở mới hết. Mấy thỏi chỗ bộ xương là do hai người đó lấy ra được như thế thôi, còn lại chắc chắn vẫn ở trong đó - Ông quả quyết.

Nghe vậy mắt Vàn Tồng sáng lên, nhưng nhớ lại hai bộ xương xám ngoét trong cái hang tối tăm chật hẹp trong đầu Vàn Tồng thấy sờ sợ và nói với bố.

- Hay là ngày mai bố với con cùng vào đó xem sao.

- Để xem sao đã, nhưng việc này quan trọng lắm, lộ ra cho mọi người biết là họ vào lấy hết đấy, nên mày không được nói với ai, kể cả mẹ mày, chỉ bố với mày biết thôi, nghe chưa.

- Được rồi, biết rồi - Vàn Tồng cằn nhằn.

Lấy chiếc ống nứa đựng chè trên gác bếp, ông Mềnh Quyên bỏ mấy thỏi bạc vào và đem ra chôn dấu dưới tảng đá trước nhà, vừa lúc bà Mùi Viện đi chơi nhà hàng xóm về. Vàn Tồng cùng mẹ nấu cơm tối, cầm con dao thái miếng thịt treo mà tay cứ run lên bần bật.

Cả đêm đó Vàn Tồng và bố hầu như thức trắng vì những thỏi vàng thỏi bạc cứ nhảy múa loạn xị trong đầu. Nửa đêm tiếng sấm nổ đì đoàng báo hiệu cơn mưa đầu mùa sắp đổ càng khiến hai bố con Vàn Tồng trằn trọc không thể ngủ nổi vì sợ trời mưa thác nước Xoang Vèng chảy mạnh sẽ không vào được hang để kiểm tra lại kho báu.

Sáng hôm sau trời càng vần vũ, những đám mây cõng đầy hơi nước từ hướng đông kéo tới bị đỉnh núi Khau Chang và núi Hô Sán giữ lại ngày càng dày và mọng nước báo hiệu cơn mưa lớn sắp đổ xuống. Dù cảm thấy nguy hiểm nhưng bị những thỏi vàng thỏi bạc thôi thúc, hai bố con Vàn Tồng thay đôi pin mới vào chiếc đèn pin và lấy hai chiếc kính lặn cho vào bựa púi rồi bí mật đi lên thác Xoang Vèng.

Xuống đến hố nước, Vàn Tồng thấy là lạ vì không thấy có một con dầm xanh nào nổi lên tìm mồi như hôm trước. Buộc chiếc bựa púi vào thắt lưng và đeo chiếc kính lặn che kín mắt, hai bố con Vàn Tồng nhảy xuống hố nước và lặn xuống rồi lần vào cửa hang sau đó men lên theo đúng lối đi mà hôm qua Vàn Tồng đã vào.

Bước qua cái vết chân kỳ quái đến chỗ cái văn bia, Vàn Tòng lấy đèn pin soi cho bố đọc. Vốn là thầy cúng, đọc thông viết thạo chữ nho lại nắm chắc ngữ pháp câu cú nên sau khi đọc các chữ khắc trên tấm văn bia ông Mềnh Quyên tái mặt lẩm bẩm:

- Không hay rồi, bố con mình gặp họa lớn rồi…

- Họa lớn là sao, chẳng phải mình bắt được vàng à - Vàn Tồng hỏi lại.

Im lặng một lát để trấn tĩnh lại ông Mềnh Quyên giảng giải cho Vàn Tồng. Nội dung trên tấm văn bia viết về ngày mất của một vị Tân vương vào mùa thu năm Kỷ hợi năm thứ 40 đời vua Cảnh Hưng, còn dòng chữ nhỏ phía dưới văn bia nói rằng tên huý của vị Tân vương là thổ quan đất Đô Long là Văn Đồng.

Như vậy đây chắc chắn là nơi cất giữ kho báu của Hoàng Vần Thùng và có thể cũng là nơi quàn thi hài của ông sau khi mất. Song điều đáng sợ nhất là ba dòng chữ ở cuối văn bia ghi rõ rằng những ai có ba điểm giống nhau thì có thể, ngoài ra không ai được đến nơi này, nếu cố tình thì đương nhiên sẽ chết.

Chiếu theo nội dung khắc trên tấm bia, ông Mềnh Quyên thấy có nhiều điều trùng hợp đến kỳ lạ. Trước nhất là tên tuổi và ngày sinh của Vàn Tồng trùng khớp với những câu chuyện truyền thuyết về Hoàng Vần Thùng, thứ nữa là đôi bàn chân của Vàn Tồng giống hệt vết chân hằn trên bãi cát trong hang. Rồi những câu chuyện kể về Hoàng Vần Thùng và kho báu của ông. Dù vậy ông nghĩ dù sao thì hai bố con đã vào đến nơi này cũng như đang ở thế cưỡi trên lưng cọp, một là bám vào đến khi nó mệt lử mà tìm cách tiêu diệt để tìm đường sống, hoặc là nhảy xuống để làm mồi cho nó. Nghĩ vậy ông nói ngắn gọn với Vàn Tồng:

- Thôi, ta lên kia xem sao.

Dò dẫm bước qua hai bộ xương và những thỏi bạc thỏi vàng, hai bố con Vàn Tồng đi vào sâu trong hang, được một đoạn thì thấy hang chạy ngược lên phía trên, tiếp tục đi qua hai ngách thì lòng hang lại mở rộng ra như gian nhà.

Lia chiếc đèn pin xung quanh chợt cả hai bố con giật bắn người khi thấy ở một góc hang xếp một dãy hơn chục cái toàn chum với lọ, có cái to một người ôm không hết, cái thì nhỏ như chiếc hũ đựng rượu. Ở hai đầu có hai bộ xương chết ngồi đã mục nát chỉ còn mỗi hai chỏm xương sọ và mấy đốt xương cẳng tay và xương ống chân.

Lấy hết sức can đảm, Vàn Tồng cùng bố leo lên chỗ mấy cái chum, nhấc những phiến đá làm lắp đậy thì thấy chum nào cũng đầy ắp toàn là vàng là bạc. Lùi lại vài bước ông Mềnh Quyên quỳ xuống đất chắp tay vái lia lịa còn Vàn Tồng ngồi thụp xuống một tảng đá, đầu choáng váng như muốn ngất vì lần đầu tiên thấy nhiều của cải vàng bạc như thế.

Một lúc sau, trấn tĩnh lại ông Mềnh Quyên bảo Vàn Tồng lấy một ít bạc cho vào hai cái bựa púi, thấy ít, Vàn Tồng bảo:

- Bố! lấy thêm một ít đi.

- Không được đâu, tý bơi ra sao được, nặng thế chìm xuống nước là chết đấy, ta lấy ra rồi quay trở vào lấy tiếp thôi.

Nghe thấy có lý, Vàn Tồng cùng bố mỗi người lấy mỗi túi cũng gần chục cân rồi lần mò bước xuống. Vừa đến chỗ cái văn bia thì chợt nghe thấy rầm một tiếng rõ to trong lòng đất, đi được vài bước thì thấy nước dâng cao hơn so với trước vài mét. Ngạc nhiên vì không hiểu chuyện gì xảy ra, Vàn Tồng bảo bố ngồi chờ rồi đeo kính lặn xuống dưới hang để kiểm tra trước. Đến chỗ cái cửa hang thì thấy một tảng đá to tướng chèn kín khiến hang tối thui không thấy lối ra bên ngoài tiếng nước chảy ầm ầm. Hoảng hốt, Vàn Tồng vội bơi ngược trở lại bảo bố:

- Bố ơi, cửa hang bị lấp mất rồi…

Nghe vậy ông Mềnh Quyên biết ngay điềm dữ đã đến và lẩm bẩm trong mồm:

- Chết rồi, mình gặp hạn to thật rồi…

- Là sao hả bố? Vàn Tồng hỏi.

- Đá lấp như vậy chắc không ra được, giờ bố con mình phải tìm đường khác thôi, may ra có lối lên hang Tham Kỳ…

Nghe vậy, nỗi sợ bất chợt tràn đến khiến Vàn Tồng đứng không vững.

- Đi thôi kẻo đèn hết pin - Ông Mềnh Quyên giục. Thấy Vàn Tồng nhấc cái bựa púi định đeo lên lưng ông bảo:

- Để lại đi, đường xa khó đi không mang theo được đâu, khi nào có dịp bố con mình quay lại lấy sau.

Thấy tiếc của, Vàn Tồng lấy một thỏi giắt vào cạp quần rồi cùng bố soi đèn pin đi vào trong hang, thi thoảng gặp đường cụt lại phải quay lại tìm lối khác, càng đi càng thấy tối và sâu hun hút mà vẫn không thấy lối ra. Đến khi cả hai chiếc đèn pin gần hết điện chỉ còn ánh sáng le lói thì chợt thấy một phiến đá to, phía trên có một cỗ quan tài cũng bằng đá, xung quanh xếp đầy gươm giáo và đồ tùy táng đã gỉ sét, cán bằng tre gỗ đã mục nát. Không ai bảo ai, cả Vàn Tồng và ông Mềnh Quyên đều hiểu rằng đây chính là nơi yên nghỉ của Hoàng Vần Thùng. Đúng lúc đó thì cả hai chiếc đèn pin đều tắt ngấm vì hết sạch điện.

Do ở trong hang núi nên hai bố con Vàn Tồng không biết được những gì xảy ra ở bên ngoài. Số là sau khi hai người đi vào hang thì trời đổ mưa rất to và kéo theo một cây cổ thụ ven suối phía trên thác đổ xuống đúng vào một tảng đá to như gian nhà, sau đó tảng đá bị dòng nước hung dữ kéo xuống thác và lấp kín cửa hang.

Ở nhà, mẹ Vàn Tồng nấu cơm trưa xong rồi đợi mãi, đợi mãi cũng không thấy hai bố con về ăn, đến tận mấy hôm sau cũng không thấy. Đi hỏi các gia đình trong làng ai cũng không biết. Cho rằng hai bố con đi săn cá bị lũ cuốn, mẹ Vàn Tồng nhờ dân làng đi tìm mấy ngày dọc khắp con suối Hò Piên rồi đến chân thác Xoang Vèng cũng không thấy xác.

Chuyện xảy ra đã mấy chục năm, bây giờ hai làng Thượng và làng Hạ đã được nhiều hộ gia đình nơi khác đến khai hoang sinh sống và trở thành khu dân cư đông đúc với hơn năm chục hộ. Suối Hò Piên cũng ít nước hơn trước, thác Xoang Vèng giờ chỉ còn hai tầng vì một tầng đã bị hòn đá to chèn kín như cái nút ở miệng chai rượu.

Bây giờ mọi người mỗi khi đi qua chỗ mấy con voi đá, ngựa đá cũng không còn sợ đến mức phải bó mũ nón ra hoặc không dám nói to như trước, nhưng những câu chuyện về Hoàng Vần Thùng, về hang vàng hang bạc thì vẫn được những người già trong làng kể lại cho lũ trẻ nghe. Riêng câu chuyện về hai bố con Vàn Tồng là không ai biết để kể lại mà chỉ biết rằng hai người bị lũ cuốn mất tích khi đi săn cá.

Hoàng Su Phì, tháng giêng năm 2024

Thứ Bảy, 17 tháng 2, 2024

LẠI NÓI VỀ QUÊ HƯƠNG KIM XUYÊN

 LẠI NÓI VỀ QUÊ HƯƠNG KIM XUYÊN

Lời tựa.

Vốn sinh ra và lớn lên ở thôn Gò Đình xã Hồng Lạc huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang, là một trong những vùng đất đầy ắp những truyền thuyết, những truyền kỳ từ thời kỳ dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước. Công tác trong ngành văn hoá hơn 30 năm, được tiếp cận với các nguồn tài liệu, thư tịch cổ mình đã dành khá nhiều thời gian để nghiên cứu, xâu chuỗi những thông tin, tư liệu, sự kiện lịch sử về miền đất đã nuôi mình khôn lớn và trưởng thành. Nhưng quả thực là lực bất tòng tâm vì không gian và thời gian thì rộng lớn, tri thức vô hạn nhưng trí tuệ thì hữu hạn. Được anh Nguyễn Trung Tuyển  động viên và thôi thúc, nhân dịp vào Google xem lễ hội đình Thọ Vực năm 2024 mình mạo muội hệ thống hoá một số thông tin đã khảo cứu, sưu tầm được về miền đất này. 

Trước đây, thôn Gò Đình thuộc vùng Thọ Vực, là một phần đất của tổng Linh Xuyên của trấn Sơn Tây. Phía bên kia ngòi Khổng là trấn Tuyên Quang thuộc phủ Hưng Hoá. Đến thời Pháp thuộc tổng Linh Xuyên được đổi tên thành Kim Xuyên do Roaydoba (còn gọi là Ba Đờ Roa) cai quản và lập đồn điền trồng dứa, cà phê và chăn nuôi gia súc để đem về chính quốc - tức cộng hoà Pháp, đồng thời Roaydoba cho xây dựng 9 nhà kho để bảo quản nông sản. Vì vậy nên nhiều địa danh của khu vực các xã Hồng Lạc, Hào Phú hiện nay vẫn được các cụ già gọi tên theo kho. Ví dụ như kho 3 thuộc khu vực cầu Tai chua và Đầm kho Ba đến hết dộc Cầu Giát; Kho 4 (hoặc Kho tư) là khu vực Trầm Vối, Kho 5 là khu vực gốc Dọc và Đồi học sinh; Kho 6 thuộc khu vực Trại Mít; Kho 9 thuộc khu vực từ Cống Quân lối rẽ vào Ngã Hai và Gò Cầy đến Trạm Vặc… Trong đó khu vực đối diện cổng trường tiểu học Kim Xuyên hiện nay là nơi đóng bản doanh của Roaydoba là chủ đồn điền người Pháp. Hiện còn có nhiều cụ già vẫn còn nhớ tên gọi Chợ Đồn hoặc Đồn Kim Xuyên chính là nói đến sự kiện này. 

Còn nhớ cách đây khoảng bốn chục năm, mình và mấy anh chị em còn đi thu hái những bông hoa cỏ Ăng gô la về làm chổi, là giống cỏ được người Pháp đem giống đến trồng ở các khu vực Kho 3, kho 6, kho 9 để làm thức ăn cho gia súc. Hiện có lẽ giống cỏ này đã không còn. Di vết còn lại của những địa danh thời kỳ Pháp thuộc chỉ thôn Kho 9 và đầm Kho 3 thuộc xã Hồng Lạc hiện nay là được lấy làm tên gọi cho địa danh của khu vực này.

Sau khi giành được độc lập, tổng Kim Xuyên của trấn Sơn Tây cùng với một số khu vực thuộc các xã Tam Đa, Hào Phú, Vân Sơn được chính quyền cách mạng sáp nhập lại thành Châu Tự Do, sau đó cùng một số xã chia tách và sáp nhập lại với huyện Sơn Dương thuộc tỉnh Tuyên Quang như hiện nay.  

 Đến thời kỳ xây dựng các hợp tác xã thì khu vực này được chia thành các đội sản xuất trực thuộc hợp tác xã Hồng Lạc, trong đó khu vực Gò Đình thuộc đội sản xuất số 3 thuộc hợp tác xã Hồng Lạc (Khoảng năm 1980 - 1986 đội sản xuất số 3 do ông Trần Đức Tình là đội trưởng, bà Nguyễn Thị Cẩm làm thư ký). Năm 1986 thực hiện Khoán 10 của Trung ương Đảng, hợp tác xã Hồng Lạc và các đội sản xuất được giải thể. Sau nhiều lần họp lên họp xuống đội sản xuất số 3 được đặt tên thành thôn Gò Đình như hiện nay.

Mặc dù trên bến dưới thuyền nhưng Kim Xuyên là miền đất dữ với mạng lưới sông ngòi và ao hồ chằng chịt. Trang 341 sách Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn (Do Viện Sử học - Viện Khoa học xã hội Việt Nam ấn hành, Phạm Trọng Điềm biên dịch có ghi: “… Dưới núi có miếu thờ Đế Thuấn, về phía bên phải xứ ngòi Vực rộng chừng một trượng và khá dài, hằng năm nước sông Lô tràn vào, tương truyền đấy là chỗ bến sông ngày trước Đế Thuấn thường nặn đồ nung, bên cạnh chỗ dân cư có một cái giếng cổ, người ta cho là Đế Thuấn đào giếng ấy, nước trong và lạnh buốt người ta không dám uống, nếu ai tắm ở giếng ấy liền bị câm…”

Xâu chuỗi lại các dữ liệu cho thấy địa danh Yên Lịch xưa đến nay vẫn còn và được đặt tên là thôn An Lịch của xã Đông Lợi như hiện nay. Còn khu vực cánh đồng Bản thuộc thôn Vạn Sơn - nay là thôn Đình Lộng xã Hồng Lạc - là một vùng ruộng lúa chiêm trước đây chính là là đầm Sấm hay Lôi Trạch được nói đến trong truyền thuyết về Đế Thuấn (Mình sẽ có bài viết riêng về đầm Lôi Trạch, núi Sư Khổng tức là Khổng Xuyên và Núi Lịch). Còn miếu thờ Đế Thuấn có lẽ là đền Linh Sơn từ ở cửa ngòi Khổng, cái giếng cổ tức là giếng Trại Khách ở Trầm Máy phía sau bệnh viện Kim Xuyên, còn chỗ bến sông ngày trước Đế Thuấn thường nặn đồ nung theo như mô tả trong cuốn Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn thì có lẽ là khu vực lò ngói của thôn Khổng Xuyên, hiện đã không còn duy trì hoạt động. 

Cũng xuất phát từ yếu tố địa lý của Kim Xuyên vốn là miền đất dữ với mạng lưới sông ngòi và ao hồ chằng chịt nên thiên tai lũ lụt luôn là mối đe doạ thường xuyên của cư dân khu vực Kim Xuyên và các khu vực lân cận. Chính vì vậy ở Kim Xuyên và các xã giáp danh thuộc khu vực ngòi Khổng người ta đã lập nhiều ngôi miếu thờ các vị tôn thần là những người có công giúp dân làm cống xây cầu và trị thuỷ. Điển hình là ngoài đình Thọ Vực thuộc thôn Kim Xuyên trước đây còn có đình An Lịch thuộc xã Đông Lợi, đình Quang Tất xã Hào Phú (trước đây gọi là đình Quang Thất) là nơi thờ 3 thần là Cao Sơn, U Sơn, Ất Sơn, vốn là những người thông kinh sử, văn võ song toàn, có công giúp dân xây ấp lập làng, làm cầu, trị thuỷ sông Lô nên được vua Hùng Duệ Vương thân chinh đến vùng đất Thọ Vực và phong vương cho ba người. Sau khi 3 ông mất đã được dân làng các khu vực này lập miếu thờ. Ngoài các ngôi đình ở Thọ Vực, An Lịch, Quang Tất di vết về 3 vị vương còn được tìm thấy ở ngọc phả đình Lãng Sơn (huyện Lập Thạch), ngọc phả đình Vân Luông (thành phố Việt Trì), miếu thờ của hai xã An Đạo huyện Phù Ninh và miếu thờ ở xã  Hùng Lô huyện Đoan Hùng.

Đình Thọ Vực hiện vẫn còn lưu giữ được các sắc chỉ của triều đình, ý chỉ vua ban, là nơi hội bàn việc nước, việc làng của các bô lão, được vua Hùng Vương thứ 18 là Hùng Duệ Vương ban chỉ làm nơi thờ Tam vị là Cao Sơn, U Sơn, Ất Sơni . Khoảng những năm 1975 - 1980 đình được trình tường bằng đất rất nhỏ hẹp và đơn sơ cổ kính, sau khi bị sập đổ đã được xây lại bằng gạch ống, xà kèo bằng gỗ lim, phía trước có một cây đa nhỏ cằn cỗi. Ngôi đình trải qua rất nhiều thế hệ trông coi, chăm sóc, tu bổ, giữ và hương khói. Sau khi Lễ hội đình Thọ Vực được đưa vào danh mục văn hoá phi vật thể Quốc gia vào năm 2007, đình đã được trùng tu tôn tạo khang trang hơn so với trước, đồng thời lễ hội cũng được khôi phục lại vào đầu tháng giêng âm lịch hằng năm. Trong lễ hội cũng có trò diễn Vua đi cày, diễn tả lại sự tích vua Hùng xuống đồng để nói đến sự tích Đế Thuấn đi cày ở đồng Lịch Sơn. Tuy nhiên các ngôi đền thờ tam vị vương ở thôn Quang Tất xã Hào Phú và thôn An Lịch xã Đông Lợi là những bằng chứng về tục thờ Ất Sơn và Lịch Sơn Đế Thuấn, đồng thời là những tư liệu quý cho phép xác định Ất Sơn Thánh vương chính là Đế Thuấn thì chưa được quan tâm trùng tu tôn tạo.

Còn nữa

Thứ Năm, 15 tháng 2, 2024

TẾT NÀY CỦA PHẤY

 


Cơn gió mùa đông bắc đặc quánh hơi nước đem theo cái lạnh cắt da thổi hun hút khắp sườn núi. Gạt nước mắt, Phấy đeo quẩy tấu lầm lũi đi vào khe suối tìm rau chăn lợn.

Vậy là hai mùa đông đã qua nhưng Phấy vẫn nhớ như in cái ngày gặp Sếnh. Hôm đó cả hai cùng đi dự đám cưới của người bạn cũng là người Dao ở xã bên, không biết trời đất dun dủi thế nào mà Phấy và Sếnh được sắp ngồi cùng mâm rượu. Ban đầu hai người ai cũng ngượng ngùng e thẹn nhưng sau mấy lần cụng ly thì cả hai đều thấy có đốm lửa ở trong ánh mắt mỗi khi nhìn vào nhau, trời càng tối thì khoảng cách giữa hai người càng ngắn dần. Khi trời tối hẳn cũng là lúc Phấy cùng với Sếnh và đám trai gái cùng hòa mình vào điệu pá dung tha thiết. Cùng với đám bạn vừa uống rượu vừa xem nhảy Pút tồng, xem trò vật chày, đến gần sáng cả Phấy và Sếnh đều cảm thấy buổi tối sao mà ngắn ngủi, câu pá dung được Sếnh nói thay lời “…Mưa rơi xuống đất tụ thành sông/Kết tình chưa lâu trời đã sáng/Lại sắp xa nhau ở cách làng”...

Cũng từ hôm ấy tình yêu như chất men say kỳ lạ, như thỏi nam châm có sức hút mãnh liệt khiến hai người chỉ tìm cơ hội để gặp nhau, nó bóp nghẹt làm trái tim cứ đập loạn xạ lúc nhanh lúc chậm mỗi khi chạm mặt. Mỗi tháng hai người phải gặp nhau ít nhất hai ba lần không thì đầu óc cứ như trên mây, trái tim như phơi trên nương trên rẫy mà không thể tập trung để làm ăn suy nghĩ được gì.

Chuyện tình yêu đôi lứa như một lẽ thường, trai chưa vợ, gái chưa chồng rồi sẽ tự tìm đến với nhau như cái dây duyên do ông trời sắp đặt. Nhưng với Phấy thì khác bởi cái sợi dây duyên của cô hình như ông trời se dệt đúng vào lúc ông buồn ngủ nên có chỗ to có chỗ nhỏ, có chỗ gấp khúc nên không bền chắc. Vào dịp gần tết năm ấy, gia đình Sếnh đã nhờ Sài cố mang một con gà và một chai rượu đến nhà làm cơm và ngỏ ý muốn lấy Phấy về làm con dâu, sau một hồi từ chối lấy lệ thì bố mẹ Phấy cũng đồng ý để bên gia đình Sếnh về xem tuổi và hẹn ngày lành tháng tốt sang ăn hỏi. Thế nhưng điều cả Phấy và Sếnh đều không ai ngờ là trong buổi ăn hỏi bố mẹ Phấy đòi sính lễ quá cao, ngoài 100 sải vải chàm mà bố mẹ Sếnh phải mang đến cho Phấy may quần áo thì bố mẹ Phấy còn thách cưới 80 đồng bạc già, 200 chai rượu, 100 cân gạo và 100 cân thịt móc hàm. Bên nhà Sếnh thương lượng hạ thấp xuống một tý nhưng ông Hín bố Phấy dứt khoát không chịu.

Bàn cãi cả ngày, ai cũng giữ cái lý của mình lại có tý hơi men hai bên nổi nóng ngay bên mâm rượu, thế là bố mẹ Sếnh và Sài cố tuyên bố không cưới xin gì nữa rồi kéo nhau về để mặc Phấy và Sếnh đứng chết lặng can không kịp.

Đợi đến hôm sau khi bố mẹ nguôi giận và hết hơi rượu Phấy tìm lời khuyên can bố mẹ nhưng bố Phấy gằn giọng:

- Tao chỉ có mỗi mày là con gái, không lấy nhiều một tý thì là mày mất giá à, rồi sau này lấy vợ cho em mày mới có bạc mà trả cho nhà người ta. Tao đây này, trước đây để lấy được mẹ mày ông bà cũng mất gần trăm đồng bạc già chứ ít à...

- Nhưng  bây giờ khác rồi, bố lấy nhiều thế thì chỉ khổ chúng con, nhà Sếnh cũng nghèo như nhà ta,sau này lại phải còng lưng ra làm để trả nợ...

- Việc đó là do nhà người ra. Tao nuôi mày được như này cũng mất cả mấy nghìn đồng bạc chứ ít à, họ không phải nuôi nấng ngày nào, tự nhiên lại có người về ở, làm việc cho nhà họ, thế mà chỉ có mấy chục đồng giờ còn tiếc, chẳng lẽ mày không đáng mấy chục đồng bạc nhà họ. Mày đi lấy chồng và làm ma nhà họ thì tao cũng chỉ lấy để làm vốn sau này đến lượt thằng Tá em mày thì mới có cái mà hỏi vợ cho nó thôi. Mà mày không phải lo, người Dao có phải là đã hết con trai cả đâu...

Biết tính bố, Phấy không dám cãi lại cô lẳng lặng đeo gùi ra ruộng, đợi dịp khuyên can bố. Đang lúi húi hái rau chăn lợn trái tim Phấy sắp rơi ra khỏi lồng ngực khi chợt thấy Sếnh đi bộ từ bên kia khe núi tìm Phấy. Ngồi cạnh nhau, hai người chỉ nước mắt ngắn nước mắt dài mà chẳng nói được câu gì. Mãi gần trưa Phấy mới bảo:

- Hay là Sếnh về cùng bố mẹ vay anh em cho đủ số bạc, mình có sức khỏe, sau này sẽ làm để trả nợ sau...

 - Bố mẹ cũng hỏi vay mượn khắp anh em bạn bè rồi nhưng không đủ số ấy, vì đầu năm đã đi vay để cưới vợ cho anh trai rồi.

- Hay là hai đứa mình cùng xin đi làm công ty rồi sau đó tính sau - Sếnh ngập ngừng.

- Không được, Phấy biết tính bố, chưa tổ chức cưới xin thì bố không cho về nhà người khác đâu.

Nghe vậy, Sếnh nén tiếng thở dài và lấy tay lau giọt nước lăn ra từ đôi mắt mòng mọng của Phấy.

Thấm thoắt đã gần 2 năm, do điều kiện khó khăn về kinh tế cùng với lòng tự trọng lúc nào cũng đầy ắp trong lòng nên bố mẹ Sếnh gần như bỏ mặc không nói gì đến chuyện trăm năm hạnh phúc của Sếnh với Phấy. Trong khi đó bố mẹ Phấy vẫn một mực không chấp nhận giảm lễ vật. Chỉ khổ cho hai đứa, tình cảm đã gắn bó sâu nặng không thể chia lìa nên cứ lay lắt như bóng đèn trước gió, cứ dăm bữa nửa tháng Sếnh lại trốn nhà đến gặp Phấy, hai đứa ngồi khóc với nhau một thôi rồi về.

Câu chuyện của Sếnh và Phấy tưởng chừng đi vào ngõ cụt, ai ngờ đến gần tết thì bất chợt rẽ sang con đường lớn. Chẳng là sau khi Tỉnh ủy Hà Giang ban hành Chỉ thị số 09 và Nghị quyết số 27 về việc thực hiện xóa bỏ hủ tục, phong tục, tập quán lạc hậu, xây dựng nếp sống văn minh trong nhân dân các dân tộc tỉnh Hà Giang, các cấp ủy, chính quyền đã vào cuộc quyết liệt, nhất là việc bài trừ nạn tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống, làm ma to, thách cưới lớn. Ở xã và thôn của Phấy, chính quyền và Mặt trận Tổ quốc đã tổ chức cho từng bộ ký cam kết thực hiện, trong đó các hộ gia đình đều thống nhất không được thách cưới quá 15 đồng bạc già, không quá 60 cân thịt lợn, không tổ chức linh đình quá 2 ngày. Lúc đầu bố mẹ Phấy khăng khăng một mực không chịu, nhưng rồi được cán bộ huyện và cán bộ xã giải thích, tất cả mọi người trong xã ai cũng thực hiện thì ông bà cũng đã hiểu ra rằng thằng Tá sau này có lấy vợ thì cũng không cần đến bạc để trả cho nhà gái nữa.

Chiều hôm ấy, sau khi ký cam kết với thôn về thực hiện quy ước nếp sống văn hóa mới ông Hín gọi Phấy ra pha một ấm trà rồi hỏi:

- Thế dạo này thằng Sếnh nó còn qua lại nữa không ? 

Nghe vậy Phấy chực òa khóc:

- Thôi, bố đừng nói đến nữa, con khổ lẳm rồi.

- Tao là tao hỏi thật, nếu nó còn qua lại, hai chúng mày còn thương nhau và thì bảo bố mẹ nó nếu không để bụng, không giận thì sang đây nói chuyện. Cái chuyện cưới xin của chúng mày thì tao chỉ lấy 15 đồng bạc và 60 cân thịt, 100 chai rượu, thế thôi để làm cơm mời anh em dân làng. Cái quy ước nếp sống văn hóa quy định thế rồi, tao cũng không muốn làm trái để chúng mày phải khổ và dân làng chê cười...

Nghe vậy, quả tim Phấy như nhảy ra khỏi lồng ngực.

Chiều hôm sau, bố mẹ Sếnh cùng Sài cố mang một con gà, một chai rượu đến thưa chuyện với bố mẹ gia đình Phấy. Lúc đầu cả hai bên đều ngượng nghịu khi nhắc lại câu chuyện hôm nào, nhưng sau bữa cơm đầm ấm có đủ cả thịt lợn thịt gà thì hai bên đã hiểu rồi thông cảm cho nhau và chốt được ngày tổ chức đám cưới cho Phấy và Sếnh vào sau tết.

Tết này là tết cuối cùng Phấy ở nhà ăn tết với bố mẹ, Phấy đeo quẩy tấu lên rừng hái lá dong về cho mẹ gói bánh rùa pêu, lấy lá xôi đỏ để chuẩn bị làm lễ Quỹas Hiéng. Lòng lâng lâng hạnh phúc, Phấy thầm cảm ơn cấp ủy, chính quyền đã giúp sửa lại cái dây duyên mà ông trời se nhưng bị lỗi ngày nào. Có lẽ đây cũng là cái tết vui nhất và đáng nhớ nhất trong cuộc đời Phấy và Sếnh.  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

GIỮA HAI CON ĐƯỜNG

 


Sau hơn một tháng trời vùi đầu vào bài vở và kết thúc năm học lớp 8, Khé vội gói ghém mấy bộ quần áo và đồ dùng cá nhân, tạm xa ký túc xá của nhà trường để về nhà với bố mẹ trong kỳ nghỉ hè hứa hẹn đầy vui vẻ.

Ngôi nhà Khé cùng với bố mẹ và đứa em gái sinh sống nằm khuất sau khe núi ở dưới chân dãy Chiêu Lầu Thi hùng vĩ. Quê Khé vốn ở mãi bên xã Tân Lập của huyện Bắc Quang, cách đây hơn hai mươi năm bố Khé theo ông bà di cư đi làm kinh tế mới ở huyện Hoàng Su Phì và lập gia đình sau đó ra ở riêng. Khác với miền xuôi, ở các thôn bản của huyện Hoàng Su Phì mỗi gia đình dựng nhà biệt lập ở một quả đồi sát với những thửa ruộng bậc thang nhiều tầng bậc uốn quanh sườn núi. Dù chỉ có bố mẹ với hai chị em nhưng nhà Khé là một trong những hộ có nhiều ruộng nhất bản, mỗi năm cấy được hơn hai chục cân giống trên chân ruộng một vụ, những năm mất mùa kém nhất cũng thu được gần chục tấn thóc, ấy là chưa kể mỗi năm còn thu nhập từ trồng thảo quả, chăn nuôi lợn, gà, trâu bò mỗi năm ít nhất cũng được gần trăm triệu đồng. Vì vậy, dù chưa phải là hộ giàu có khá giả nhưng nhà Khé cũng thuộc diện có của ăn của để trong làng.

Đời sống vật chất ổn định là thế nhưng với bố mẹ Khé thì luôn có một nỗi buồn canh cánh trong lòng. Ngày mẹ trở dạ chuẩn bị sinh ra Khé, bố Khé và bà đỡ ngồi canh ngóng chỉ mong mẹ Khé cho ra đời một thằng cu tí để nối dõi vì bố Khé vốn dĩ là con trưởng của dòng họ Phượng. Theo phong tục của người Dao, để mười hai bà Mụ trợ giúp cho mẹ Khé sinh nở mẹ tròn con vuông mọi người không ai được nói to, mẹ Khé dù bụng có đau đến mấy cũng không được kêu rên, bố Khé dù sốt ruột đến mấy cũng không được nói to hay thở dài giống như nhà đang có khách kẻo động đến các bà Mụ. Vì thế ngay từ khi chưa chưa sinh ra bố mẹ đã tâm niệm đặt tên con đầu lòng là Khé - ý muốn nói đến sự nhẹ nhàng và tỏ lòng hiếu khách để các bà Mụ chuyên tâm giúp mẹ sinh nở.

Sau khi sinh ra Khé là con gái bố mẹ Khé cũng có đôi chút buồn và hy vọng lần sinh nở sau sẽ có một thằng con trai để nối dõi. Vậy mà người tính không bằng trời tính, sau hơn 3 năm đứa em Khé được sinh ra vẫn lại là gái. Mặc dù rất yêu thương con nhưng bố mẹ Khé vẫn canh cánh trong lòng, sợ sau này không có ai nối dõi để hương khói cho tổ tiên. Sau những đêm dài thức trắng, trong đầu bố mẹ Khé nảy ra một ý mà sau này nó ảnh hưởng đến cả cuộc đời của Khé sau này. Và rồi ý định đó cứ nung nấu những hơn mười năm mà cả hai không thổ lộ cho Khé biết.

Nghỉ hè mới được hai ngày, sau bữa tối Khé và bố mẹ ngồi bên bếp lửa, ông bảo:

- Tối nay con chuẩn bị quần áo tư trang, sáng mai cùng bố mẹ về quê thăm ông bà nội.

- Ngày mai nhớ mặc quần áo đẹp vào nhé - Mẹ Khé dặn thêm.

Bản tính vốn thích chân đi chân chạy nên nghe nói được về quê lòng Khé vui khôn xiết mà không nghĩ rằng bao cạm bẫy đang chờ mình ở phía trước. Gấp vội mấy bộ quần áo, Khé lên giường đánh một giấc đến tận sáng.

Sau hơn 3 giờ ngồi sau xe máy vượt qua mấy chục cây số đường đèo, cuối cùng Khé cùng bố mẹ cũng đến được nhà ông bà nội, nhưng ngồi chưa nóng chỗ, uống chưa xong chén nước bố mẹ Khé đã lôi cô dậy để sang nhà hàng xóm ăn cơm uống rượu. Cũng thật lạ, với người dân tộc Dao hiếm khi con gái được ngồi ăn cơm cùng mâm với bố mẹ, vậy mà bữa cơm hôm đó bên nhà hàng xóm của ông nội dù có những ba mâm cơm nhưng Khé lại được ưu tiên ngồi cùng bố mẹ và hai bác chủ nhà. Ngồi đối diện còn có một anh chàng trông khá kháu khỉnh nhưng nhút nhát, cả bữa chỉ cúi xuống ăn và rót rượu cho người lớn mà không nói được câu nào.

Mãi đến quá trưa khi mâm rượu đã tàn, đôi má Khé nóng phừng phừng vì được hai bác chủ nhà mỗi người mời một chén rượu thì bố Khé mới bảo:

- Khé à, hôm nay là bố mẹ cho con về quê vừa thăm ông bà, vừa có công việc. Đây là bố của Mềnh, nhà mình thì bố có lỗi với tổ tiên là không sinh được thằng con trai để sau này thờ cúng mà chỉ có hai chị em mày. Vì thế hôm nay bố mẹ đưa mày về để ra mắt ông bà, nếu mày ưng thì tý nữa làm thủ tục luôn để vài hôm nữa sẽ làm cái lễ để cưới nó về ở rể. Ý con thế nào?

 Hai tai đang ù ù nghe không rõ vì mấy chén rượu, Khé tưởng bố mẹ nói là nhận Mềnh là con nuôi nên gật đầu liền và nói:

- Được bố ạ, nhà mình nhiều thóc, thêm người thì thêm bát thôi chứ có đói đâu mà.

Ngờ đâu chỉ vài phút sau bố mẹ Khé đã chuẩn bị sẵn một con gà thiến, một chai rượu, một ít bánh kẹo để sắp lễ và cúng tổ tiên để làm thủ tục xin cưới Mềnh về làm rể, đến lúc hai gia đình bàn đến chuyện lễ lạt thì Khé mới ngã ngửa.

Thì ra đã từ lâu sau khi mẹ Khé sinh hạ được em gái thì bố mẹ Khé đã có ý định sau này sẽ tìm một gia đình nào đó có con trai và có nguyện vọng ở rể thì sẽ làm thủ tục cưới rể vì phong tục của dân tộc Dao là thế. Nếu một gia đình nào đó không có con trai thì có thể tìm người ưng ý để cưới về ở rể. Nhưng để lấy được rể thì nhà gái phải chuẩn bị sính lễ để đem đến nhà trai để xin rể giống hệt như khi nhà trai đi hỏi vợ, sau đó thì hai bên gia đình sẽ làm lễ đổi họ cho chủ rể sang họ nhà vợ. Đổi lại, bên nhà vợ sẽ coi chủ rể như con trai và chủ rể cũng có mọi trách nhiệm với gia đình nhà vợ từ thờ cúng tổ tiên, chăm sóc bố mẹ, vun vén cho gia đình con cái như với gia đình bố mẹ đẻ. Sau khi tìm hiểu và đánh tiếng bố mẹ Khé biết được rằng ở quê nội có gia đình ông Hín sinh được ba người con trai, do hoàn cảnh kinh tế khá khó khăn, ruộng nương lại ít nên đồng ý cho cậu út tên là Mềnh - hơn Khé năm tuổi đi ở rể.

Mừng như bắt được vàng, bố mẹ Khé nhiều lần đến gặp gỡ trao đổi và giao hẹn với nhau sau này khi hai đứa trưởng thành thì sẽ xin về làm rể nhà Khé. Thế nhưng cách đây vài tháng bố mẹ Khé nhờ một Sài Ông ở xã bên xem bói thì Sài Ông phán rằng hai đứa mặc dù tuổi tác có hợp nhưng năm nay phải cưới, nếu không thì phải đợi những năm năm nữa.

Trong lòng dù rất thương Khé nhưng nếu đợi những năm năm thì trong chừng ấy thời gian biết đâu lại có sự đổi thay, nếu Mềnh lại được nhà khác xin rể thì coi như tay trắng. Vả lại thấy Mềnh đẹp trai và ngoan ngoãn nên bố mẹ Khé quyết lấy về bằng được. Chính vì vậy sau nhiều vòng bí mật đàm phán đến hôm nay bố mẹ Khé mới dàn dựng màn kịch để Khé về ra mắt bên nhà chồng tương lai. Lần đầu thấy Khé xinh xắn và nhanh nhẹn và trong lòng cũng muốn gả con đi ở rể cho một gia đình có điều kiện kinh tế khá giả để sau này con đỡ vất vả nên bố mẹ Mềnh cũng ưng liền cái bụng.

Biết được màn kịch sắp đặt của bố mẹ, Khé thấy trong đầu lộn nhào, quả tim đập thình thịch như muốn nổ tung lồng ngực mà không nói được câu nào. Thấy vậy bố Khé bảo:

- Con ạ, gái lớn thì phải lấy chồng, con chưa lớn nhưng Mềnh nó là người tốt, chăm chỉ hiền lành, sau này về làm rể nhà mình sẽ gánh vác trách nhiệm thay cho các con để thờ cúng tổ tiên. Trước mắt bố mẹ cứ đặt lễ để xin tổ tiên nhận nó về làm rể nhà mình trước đã.

- Nhưng con còn phải đi học mà bố... Khé phản ứng yếu ớt.

- Lấy chồng thì lấy, còn học thì vẫn cứ đi chứ sao, ai cấm. Mà lúc nãy bố cũng đã thắp hương trên bàn thờ kia xin nó về làm rể nhà mình, được các cụ tổ tiên đồng ý rồi, giờ không chối được đâu.

Liếc sang bên cạnh thấy Mềnh cúi gằm mặt, hơn nữa thấy gia cảnh nhà Mềnh cũng khá vất vả làm Khé cảm thấy muốn chia sẻ miếng ăn miếng uống. Thấy con gái có vẻ xiêu lòng, mẹ Khé bồi thêm mấy câu:

- Thôi con ạ, con là phận gái, bố mẹ không sinh em trai nữa mà tập trung nuôi con và em con khôn lớn như này, đến giờ thì con cũng phải có trách nhiệm với bố mẹ chứ...

Nghe vậy Khé không biết nên giận hay thương bố mẹ vì trong trái tim non nớt của một cô bé mới chưa qua cái tuổi ăn tuổi lớn khi đó chưa nhận thức được những hệ lụy của cuộc sống hôn nhân ở tuổi vị thành niên. Nhưng quả thật, trong lòng Khé cũng thấy thương bố mẹ vì mấy lần đi ăn cỗ thấy toàn bị xếp ngồi vào các mâm ở góc nhà, rồi thì những tiếng trêu chọc nổi lên làm cho bố mẹ ăn cơm uống rượu cũng không ngon. Nhiều khi bố ốm hoặc lúc say rượu ngoài mẹ ra thì không có ai chăm sóc, việc nặng nhọc trong nhà cũng không có ai gánh vác. Những ý đó lướt nhanh qua đầu cộng với chút men rượu chưa tan hết làm cho Khé mạnh bạo gật đầu.

Hôm ấy, lễ vật được bố mẹ Mềnh hôm đó đặt vấn đề với bố mẹ Khé gồm có 15 đồng bạc già, 30 cân thịt lợn, 5 can rượu, 50 cân gạo nếp và 50 cân gạo tẻ. Cuối buổi hai gia đình chót thời gian đến cuối năm sẽ cho hai đứa về ở với nhau.

Do Khé chưa đủ tuổi lấy chồng, nếu tổ chức hôn sẽ vi phạm quy ước Làng văn hóa và bị phạt nên hai gia đình thống nhất bố mẹ Khé sẽ đưa trước cho gia đình ông Hín 12 đồng bạc già, các lễ vật còn lại sẽ để dành đến khi Khé đủ tuổi thì mới đăng ký kết hôn rồi tổ chức lễ cưới và trao vào dịp đó.

Về nhà, bố mẹ Khé bán một con trâu được gần hai mươi triệu, vừa đủ mua 12 đồng bạc già làm sính lễ và làm vài mâm cơm để làm thủ tục với tổ tiên sau đó đón Mềnh đến ở hẳn nhà Khé mặc cho bạn bè và cô giáo can ngăn, thậm chí chính quyền xã còn gọi bố mẹ lên làm việc và phạt tiền vì hành vi tổ chức cho người dưới 16 tuổi chung sống như vợ chồng, nhưng sau rồi đâu vẫn vào đấy.

Những ngày đầu Mềnh mới về nhà Khé, hai đứa như người xa lạ cả ngày chẳng nói với nhau một câu, cứ cơm ai người đấy ăn việc ai người đấy làm. Bởi ở cái tuổi chân đi chân chạy dù có phổng phao đến mấy thì Khé cũng vẫn là đứa trẻ con, chưa thể mường tượng được thế nào là cuộc sống vợ chồng. Tối tối Khé cứ rúc vào nách mẹ để ngủ, khi thấy người lớn bảo vào phòng ngủ với Mềnh Khé thấy đỏ bừng mặt vì xấu hổ và lắc đầu quầy q     uậy. Về sau trong một vài lần nhà có khách Khé bị ép uống rượu đến say mềm rồi được người lớn bế vào phòng với Mềnh. Và về sinh lý hai người trở thành vợ chồng từ đó.

Nhưng rồi, cuộc sống vốn không đơn giản như suy nghĩ của con người, nhất là với những thiếu niên ngây thơ chưa có kinh nghiệm sống như Khé. Sau khi Mềnh chuyển đến ở như vợ chồng với Khé được mấy tháng thì Khé học hết lớp 9 rồi bỏ học gác lại ước mơ sau này sẽ đi thoát ly làm cán bộ Nhà nước, và hơn một năm sau thì sinh được một bé trai, dù thiếu tháng nhưng nhờ Trời cậu bé cũng hay ăn chóng lớn. Chỉ tội cho Khé, sau khi ở với Mềnh và sinh con được hơn hai năm, cuộc sống đời thường đầy dẫy những gian truân vất vả trong khi kinh nghiệm sống, nuôi dạy con, cách chăm sóc bản thân hầu như không có đã biến Khé từ một nữ sinh xinh xắn lanh lợi trở thành người phụ nữ nhỏ thó đen đủi và nhàu nhĩ, chân tay quần áo lúc nào cũng nhọ nhem.

Còn với Mềnh, vốn sinh ra trong một gia đình nghèo khó nên ước nguyện duy nhất là có ruộng nương, có trâu cày và được ăn no mặc ấm. Vả lại từ nhỏ đã không được học hành, ít va chạm nên nhận thức xã hội không nhiều nên suốt ngày Mềnh chỉ chuyên tâm vào việc ruộng nương với chuồng trại. Sống với nhau như vợ chồng thế nhưng chưa bao giờ hai người ngồi nói chuyện với nhau hay chia sẻ tâm tư tình cảm. Cả ngày Mềnh đi làm ngoài ruộng nương hoặc đi uống rượu với anh em bạn bè, tối đến chẳng cần tắm rửa cứ để người khét lẹt như thế mà lăn lên giường đánh một giấc tới sáng mặc kệ việc chăm sóc con cho Khé kể cả những lúc trái nắng trở trời. Thấy Khé vất vả, bố mẹ Khé cũng phụ giúp nhưng không thể làm hết được những thiên chức làm mẹ của Khé, càng không thể vá víu những lỗ hổng trong đời sống tình cảm của Khé với Mềnh.

Cứ thế, ở với nhau được hơn hai năm cuộc sống nhạt nhẽo tù túng khiến khát vọng được giải thoát chợt xuất hiện và lớn dần theo mỗi ngày trong lòng Khé. Nhìn đám bạn học cùng lớp ngày nào đứa thì đi công tác, đứa đi làm công ty kinh tế khá giả cuộc sống đỡ vất vả hơn nghề làm ruộng, ngẫm lại Khé mới thấy ngày ấy mình sai lầm nóng vội. Dù cuộc sống vất vả nhưng ở tuổi mười bảy Khé đã chững chạc, chín chắn hơn, Cô nghiệm ra rằng cuộc sống hạnh phúc vợ chồng không chỉ đơn giản là miếng ăn, nhà cửa đất đai hay con cái, càng không thể chỉ có lòng thương hại mà phải có tình yêu, sự chia sẻ của cả hai người. Và Khé nghĩ cuộc sống hôn nhân của mình không thể kéo dài như vậy đến hết đời được.

Sau cả năm đấu tranh tư tưởng để lựa chọn giữa hai con đường, một bên là bằng lòng với thực tại để tiếp tục cuộc sống hôn nhân tẻ nhạt, một bên là mong muốn được ăn học để thành người, một bận trong lúc Mềnh đi uống rượu ở nhà hàng xóm Khé mạnh dạn nói với bố mẹ:

- Bố à, mẹ à, chúng con phải chia tay nhau thôi.

Nghe vậy bố Khé trầm tư suy nghĩ vì ông biết sớm hay muộn thì Khé cũng nói ra điều này. Sau một hơi thuốc lào ông mới chậm dãi:

- Không thể được, vì thằng Mềnh đã được tổ tiên nhận làm ma ở nhà này rồi...

- Con không thể sống cuộc sống tù túng mãi thế này, anh Mềnh cũng chịu khó nhưng bố mẹ thấy đấy, anh ấy không có tình cảm với mẹ con con mà chỉ yêu thương mấy thửa ruộng, đàn trâu nhà mình thôi, anh ấy bằng lòng với cuộc sống thực tại, miễn sao có đủ cơm ăn áo mặc. Nhưng con thì khác, con phải đi học, phải đi làm cán bộ chứ không thể quanh quẩn với mấy mảnh ruộng khoảnh nương như này...

Nghe Khé trần tình thổ lộ, mẹ Khé thấy như nát trong lòng vì thương Khé một phần và quả thực bà cũng thấy thương Mềnh vì cái tính chịu khó rồi cũng đã sống với gia đình được hơn hai năm, tình cảm ban đầu chỉ như sợi chỉ nhưng giờ đã to như cái thiếu cày nên trong lòng cũng không muốn bỏ. Bà bảo:

- Thôi con ạ, cuộc sống khó khăn vất vả nhưng được cái thằng Mềnh nso chịu thương chịu khó, tao với bố mày ngày xưa cũng thế, ông bà đi hỏi và đi lấy về cho thì mới biết mặt nhau và ở với nhau đến giờ đấy thôi. Là con gái thì chỉ cần lấy được người chồng chịu khó làm ăn như thế là được rồi...

 Nghe vậy, Khé cương quyết:

- Con quyết như vậy rồi, ngày trước bố mẹ sai lầm, con cũng sai lầm giờ thì vẫn có cơ hội sửa sai. Con năm nay mới mười bảy tuổi chưa đủ tuổi nên chưa đăng ký kết hôn thì chia tay nhau cũng không có gì phiền phức cả. Còn thủ tục với ông bà tổ tiên thì bố mẹ cứ làm theo phong tục thôi...

Sau nhiều lần đấu tranh, nảy lửa cũng có mà khuyên nhủ cũng có, cuối cùng bố mẹ Khé cũng phải nghe lời. Và thật lạ, trong buổi họp gia đình để bàn chuyện hôn nhân Mềnh đón nhận chuyện đó một cách bình thản và tỉnh queo như không. Cậu chỉ đề xuất xin bố mẹ chia cho một ít ruộng để làm ăn, còn thằng bé thì nhờ bố mẹ Khé chăm nuôi hộ.

Cuộc hôn nhân buồn tẻ và chóng vánh giữa Mềnh và Khé rồi cũng đi đến hồi kết. Bố mẹ Khé cũng nghiệm ra một điều là hôn nhân không thể mua được bằng tiền, phong tục tập quán không thể áp vào cho giới trẻ bây giờ. Thương Mềnh, bố mẹ Khé ra Ủy ban xã làm thủ tục tách thửa đất cho Mềnh mấy khoảnh ruộng bậc thang và làm cho một cái nhà nhỏ để ở và sinh sống.

Sau khi chia tay, Khé đăng ký đi học bổ túc Trung học phổ thông ở Trung tâm Giáo dục thường xuyên. Đúng như lời cam kết với bố mẹ khi ông bà ra điều kiện với Khé là phải chuyên tâm ăn học để thành người, hơn hai năm sau thì tốt nghiệp và trúng tuyển vào học đại học ở Học viện hành chính Quốc gia. Để sửa chữa sai lầm lớn nhất của mình, trong suốt thời gian Khé đi học ông bà chịu trách nhiệm nuôi dạy bé Nu - con trai của Khé với Mềnh. Cuộc sống va vấp ngay từ những ngày niên thiếu đã rèn rũa, giúp cho Khé trưởng thành chững chạc hơn. Trong hơn sáu năm đi học bổ túc văn hóa rồi học đại học, Khé tranh thủ mỗi ngày nửa buổi để đi học và làm thêm nghề làm nail chăm sóc sắc đẹp cho chị em phụ nữ để vừa kiếm tiền trang trải cuộc sống, giúp giảm bớt gánh nặng về tài chính cho bố mẹ vừa tích lũy kinh nghiệm trong cuộc sống.

Còn với Mềnh, sau khi chia tay được gần một năm thì Cậu lại được một gia đình ở xã bên xin về làm rể. Theo đúng phong tục truyền thống, bố mẹ Mềnh đứng ra tổ chức đám cưới cho Mềnh và mua lại mấy thửa ruộng trước đây ông bà đã tách thửa sang tên cho Mềnh với số tiền hơn hai mươi triệu đồng để Mềnh làm vốn liếng khi xây dựng cuộc sống ở gia đình mới.

Và một niềm vui nữa đến với Khé, trong đợt thi tuyển công chức vừa qua Cô đã trúng tuyển vào công tác tại một cơ quan chuyên môn của huyện. Gác lại chuyện đời sống tình cảm riêng tư, đến giờ khi cuộc sống đã một phần yên ổn ngẫm lại Khé mới thấy mình may mắn và nhận ra rằng trong cuộc đời ai cũng có thể có những va vấp, những sai lầm, thế nhưng quan trọng nhất là khi đứng giữa hai con đường thì phải sáng suốt nhận ra được đâu là còn đường mình nên đi và phải đi, và phải làm gì để sửa chữa những sai lầm đó để tìm đến cuộc sống hạnh phúc tốt đẹp hơn. Phong tục tập quán, dù có nhiều mặt tốt nhưng cũng có không ít những hạn chế tiêu cực, nếu không biết nhìn nhận một cách toàn diện để chắt lọc mà cứ mù quáng tuân theo thì sẽ là rào cản đối với sự phát triển của mỗi người cũng như cả xã hội. Và Khé cũng thấy mình may mắn vì đã được bố mẹ sửa chữa sai lầm và hậu thuẫn giúp mình thoát ra được cái vòng luẩn quẩn ấy để tạo dựng cuộc sống mới.