Nhà
Vàn Tồng nằm ngay sát ngã ba suối Hò Piên, con suối quanh năm nước chảy cuồn cuộn
được tạo thành bởi hai nhánh, một nhánh nhỏ bắt nguồn từ dãy núi Hô Sán và một
nhánh lớn bắt nguồn từ dãy núi Tồm Sán chảy về, đến đầu làng Thượng thì hợp lại
thành Suối Hò Piên rồi chảy xuôi về hướng đông nam tạo thành con sông Bạc hùng
vĩ. Gần đến điểm hợp lưu thành suối Hò Piên, nhánh suối lớn từ dãy Tồm Sán chảy
qua một vách đá trắng dựng đứng cao đến hơn một trăm mét tạo thành thác nước ba
tầng quanh năm tung bọt trắng xoá, người dân ở đây gọi là thác Xoang Vèng tức
là thác Suối vàng.
Ở
chỗ hợp lưu hai nhánh suối thành con suối Hò Piên là một bãi đất tương đối bằng
phẳng nhưng cũng chứa đựng nhiều câu chuyện rùng rợn, nhất là chuyện về những
xác chết. Ma quỷ ở đâu thì chưa ai thấy nhưng nghe kể đã có hàng chục người bị
chết đuối hoặc bị lũ cuốn từ nơi khác về nơi này rồi trôi dạt vào những vũng nước
quẩn chỗ ngã ba suối, có người thì còn nguyên vẹn người khác không may mắn thì
cụt cả đầu hoặc mất chân, mất tay, sau đó được dân làng vớt lên và chôn cất ở
hai bên ven suối. Lâu ngày nhiều ngôi mộ bị sạt lở, nhiều khi lộ ra những khúc
xương trắng hếu.
Ở
bãi bằng ngay lối vào làng là những khối đá sừng sững và xám ngoét đủ mọi hình
thù, khối thì hình con thuyền, khối thì hình con voi, con ngựa, khối thì hình
người, khối khác thì có hình con chó, con gà, con lợn. Sát ngay bên cạnh có một
ngôi miếu nhỏ tương truyền là miếu thờ Hoàng Vần Thùng, có người thì lại cho rằng
miếu đó là để thờ những người bị chết từ nơi khác theo con suối Hò Piên trôi dạt
về. Trải qua nhiều năm tháng, ngôi miếu được người dân của hai làng thường
xuyên trông coi tu sửa và thờ tự hương khói vào những ngày rằm và mùng một.
Từ
ngày còn nhỏ Vàn Tồng đã nghe ông nội kể câu chuyện truyền thuyết của người Dao
về những khối đá có hình thù kỳ dị này. Đó là câu chuyện kể về một vị thổ tù rất
giàu có người địa phương tên là Hoàng Vần Thùng vốn có tài hô mưa gọi gió, được
giao cai quản vùng đất trải dài từ Châu Vị Xuyên đến Châu Thuỷ Vĩ tức huyện Bắc
Hà ngày nay. Gặp phen đất nước loạn lạc Hoàng Vần Thùng cùng con cái được quân
binh hộ giá và đem theo rất nhiều của cải trốn chạy, đến khu vực thác đá trắng
này gặp đường xá hiểm trở nên đã tìm chỗ cất dấu kho báu, còn toàn bộ ngựa xe
cùng gia súc gia cầm được ông biến thành đá để không bị rơi vào tay kẻ thù.
Chẳng
biết thực hư câu chuyện ra sao, thế nhưng từ rất lâu rồi trong cộng đồng người
dân làng Thượng và làng Hạ ai cũng biết câu chuyện về kho vàng của Hoàng Vần
Thùng được đoàn tuỳ tùng của ông chôn giấu ở khu vực này với nhiều dị bản khác
nhau. Người thì nói rằng kho báu được chôn giấu ở thác Xoang Vèng nên con thác
mới có tên là thác Xoang Vèng tức là thác vàng còn dưới hạ lưu có tên là sông Bạc,
người thì cho rằng được chôn ở dưới một trong những con voi đá, ngựa đá, người
khác lại kể câu chuyện kho báu được chôn ở mãi trên hang Tham Kỳ trên đường đi
làng Phìn Hò.
Cách
đây mấy chục năm có hai người lạ hoắc không rõ đến từ nơi nào đem theo chài lưới
và dụng cụ nói là đi bắt cá suối nhưng toàn gặp gỡ người dân để dò la về những
câu chuyện về kho vàng, về những con voi đá, ngựa đá, về thác Xoang Vèng và
hang Tham Kỳ, sau đó hai người đi ngược con suối Hò Piên lên phía thác Xoang
Vèng để bắt cá rồi biến mất. Nghĩ là họ đã bị chết đuối hoặc rơi thác, người
dân trong làng chia nhau đi tìm và đón đợi ở ngã ba suối cả mấy ngày để tìm xác
cũng không thấy.
Chuyện
là vậy nhưng từ trước đến giờ trong làng chưa có ai nhặt được hòn vàng hòn bạc
nào nên ai nấy đều cho rằng đấy là chuyện cổ tích chứ không có thật.
Với
người dân của cả hai làng Thượng, làng Hạ và những hộ gia đình ở khu vực lân cận
ai cũng đều coi khu vực này là chốn thiêng, bất cứ ai đi qua khu vực có voi đá
ngựa đá và thác Xoang Vèng cũng đều bỏ mũ nón, không dám nói to, không khạc nhổ,
phóng uế hoặc làm điều gì xấu.
Quả
thật, những ai chưa quen hoặc nghe kể về nơi này nếu bất chợt đi ngang qua vào
những ngày này ắt không khỏi lạnh sống lưng khi chợt thấy hiện ra trước mắt những
khối đá hình thù kỳ quái trầm mặc và mùi khói hương thoang thoảng bay ra từ ngôi
miếu nhỏ.
Làng
Thượng và làng Hạ nằm kẹp giữa thung lũng của hai dãy núi, một bên là núi Khau
Chang, một bên là núi Hô Sán. Không biết từ bao giờ, suối Hò Piên được người
dân ở đây lấy làm đường danh giới giới ngăn đôi giữa hai làng Thượng và làng Hạ.
Tiếng là làng nhưng cả làng Thượng và làng Hạ cũng chỉ có chưa đầy hai chục nóc
nhà. Để đi đến được làng Thượng và làng Hạ phải đi bộ qua con đường mòn hiểm trở
dài gần chục cây số nằm sát bên ven suối và xuyên qua những rừng cây và cỏ dại
mọc um tùm rậm rì. Vào mùa khô việc đi lại giữa hai làng tương đối thuận tiện
vì chỉ cần tìm những đoạn suối hẹp rồi bắc mấy cây vầu là qua được. Còn mùa mưa
nước dâng cao thì phải gác những cây mai dài hàng chục mét qua những cây gỗ to
hai ven suối để làm cầu.
Cũng
không biết là do chảy từ rừng già ít đánh bắt thưa thớt mà con suối Hò Piên nhiều
cá vô kể, từ cá quất, cá sảm, cá chép, cá chày đất đến cá dầm xanh có con to lừng
lững như ống tre ống vầu cứ bơi hàng đàn. Mỗi khi muốn cải thiện bữa ăn chỉ cần
đem theo nọn chài hoặc cây súng bắn cá bằng mũi tên ra suối khoảng dăm mười
phút là đủ ăn cả ngày.
Sinh ra và lớn lên ở ngay ngã ba suối Hò Piên,
ngoài mỗi ngày vài tiếng đồng hồ học cấp một ở điểm trường của làng, còn lại hầu
hết thời gian trong ngày Vàn Tồng với mấy đứa bạn hết leo trèo lên núi lấy củi
hái măng, hái quả rừng lại lội xuống suối dùng súng bằng dây cao su để bắn cá.
Học hết cấp một do lcả hai làng không có cấp hai nên phải xuống tận xã để học,
mỗi ngày đi bộ cả đi cả về gần hai chục cây số, được mấy buổi là nản chí nên
Vàn Tồng bỏ học ở nhà và theo bố vốn là thầy cúng của làng học chữ nho.
Cả
đời quanh quẩn với núi rừng sông suối nên Vàn Tồng hiểu rõ nơi này như lòng bàn
tay. Ví dụ, muốn bắt cá quất, cá chiên thì phải xuôi xuống hạ lưu ở những chỗ suối
nước chảy xiết và nhiều đá, cá chày đất, cá sỉnh thì sống ở những chỗ nước sâu
còn cá dầm xanh thì chỉ sống ở những chỗ nước trong, sâu và chảy xiết. Cây trám
đen, trám trắng nào có quả ngon, rừng vầu nào mọc măng trước hay đặt bẫy chỗ
nào là hay trúng thú rừng Vàn Tồng cũng nhớ vanh vách. Thậm chí ở tầng giữa của
thác Xoang Vèng chỗ cột nước chảy thẳng từ trên cao xuống lâu ngày khoét thủng
đá tạo thành một cái vũng sâu hoắm là nơi có rất nhiều cá dầm xanh có con to
như cái phích nước Rạng Đông trú ngụ, từ trước đến giờ trong làng chưa có ai xuống
được đến đó, một phần vì nguy hiểm, phần khác là do những câu chuyện đồn đại rằng
ở đó có ma nước trú ngụ đã lấy mạng của nhiều người nên ai cũng sợ. Vậy mà Vàn
Tồng với tài lặn ngụp siêu đẳng và sức khoẻ dẻo dai dám bện dây rừng làm thang
dây rồi thả từ trên đỉnh thác xuống để lần xuống bắn cá, có những bận bắn được
con cá dầm xanh to cả yến. Người ta bảo sở dĩ Vàn Tồng bắt cá giỏi vì có đôi
bàn chân to bè bè, những ngón chân toẽ ra hai bên như chân ếch nên có nhiều ma
sát khiến Vàn Tồng bơi nhanh hơn cá, có thể chạy trên đá trơn trượt mà không
ngã.
Hôm
ấy, vào một ngày cuối tháng tư âm lịch, tầm chín giờ sáng ngó lên gác bếp chỉ
còn một miếng thịt lợn treo bé tý Vàn Tồng lấy đèn pin đội đầu, kính lặn và
súng bắn tên định bụng ra suối bắn cá về nấu bữa trưa. Được hơn chục bước ngẩng
lên thấy trời xám xịt báo hiệu mùa mưa sắp đến, với kinh nghiệm săn cá suối nhiều
năm, Vàn Tồng đoán chắc hôm nay trở trời lũ cá dầm xanh ở thác Xoang Vèng sẽ
lên ăn nên có nhiều cơ hội bắn được cá to. Vả lại đây là dịp thác ít nước nhất
trong năm nên dễ lặn, dễ săn cá.
Nghĩ
vậy Vàn Tồng quay về lấy con dao đi rừng rồi qua nhà Giào Mềnh rủ đi cùng. Nghe
vàn Tồng rủ đi thác Xoang Vèng bắn cá, nhớ lại những câu chuyện ma quái về thác
Giào Mềnh thấy sợ và chối đây đẩy:
-
Ối da… tao không đi đâu, mà hôm nay trời lạnh thế này sao lặn được.
-
Trời mưa cả tháng rồi, hôm nay hửng nắng cá lên nhiều sẽ bắn được con to đấy, mày
không dám lặn thì đợi ở dưới tao bắn được sẽ thả cá xuống cho mày nhặt - Vàn Tồng
thuyết phục.
-
Mà hôm qua tao uống nhiều rượu, giờ chưa tỉnh hẳn. Thôi, mày ra suối bắt mấy
con cá sứt mũi về ăn tạm để chiều nắng ấm hẳn thì hãy đi. Giào Mềnh cương quyết.
Cảm thấy những con dầm xanh như đang bơi lội trong
đầu và sợ trời hết nắng, Vàn Tồng bảo:
-
Thôi để tao đi lên đó trước xem như nào, có gì đến chiều mày đi cùng tao cũng
được.
Nói
rồi mượn thêm cái đèn pin của Giào Mềnh, Vàn Tồng đi lên thác Xoang Vèng một
mình.
Mất
gần hai tiếng đồng hồ để cắt dây mây bện thành chiếc thang dây dài ngoằng và dò
dẫm lần từng bước xuống hố nước ở tầng thác giữa. Vừa ngó xuống cái hố nước sâu
hoắm chu vi khoảng hơn hai mét Vàn Tồng thấy hoa cả mắt, không phải vì độ cao của
thác hay dòng nước đang chảy ầm ầm mà đúng như dự đoán hôm nay trời nắng từng
đàn cá dầm xanh lưng đen chùi chũi nổi lên kiếm mồi thoắt ẩn thoắt hiện giữa
dòng nước tung bọt trắng xoá.
Đeo
vội chiếc kính bắn cá lên đầu và nhét hai cục bông vào lỗ tai, Vàn Tồng nhảy xuống
hố nước lạnh buốt, dưới ánh sáng lờ nhờ đàn dầm xanh đông nhung nhúc bơi láo loạn
ngay trước mắt. Nhằm vào con cá đầu đàn đen sì dài cả mét, to gần bằng cái cột
nhà, Vàn Tồng bấm cái lẫy bắn cái mũi tên đánh vèo một cái vào ngang sườn con
cá nhưng do chiếc vảy quá dày và cứng nên mũi tên nảy ra, con dầm xanh có vẻ
không biết sợ vẫn bơi lảng vảng ngay trước mặt. Biết là gặp phải con cá già nên
vảy cứng, Vàn Tồng liền bơi lùi lại để bắn chéo vào những cái khe vẩy nhưng rốt
cuộc mũi tên vẫn nẩy ra như bắn phải tấm sắt. Con dầm xanh như trêu ngươi cứ
bơi chầm chậm vòng quanh vách đá ngay trước mắt làm Vàn Tồng càng hăng máu.
Nổi
lên để lấy hơi và mài mũi tên vào tảng đá để thêm sắc nhọn, Vàn Tồng vừa lặn xuống
đã thấy con cá đầu đàn hiện ra ngay trước mắt. Sau một hồi lừa miếng để tìm
cách bắn vào hai bên mang cá nhưng không thành công, con dầm xanh chợt từ từ lặn
xuống dưới sâu, Vàn Tồng lặn theo con cá. Xuống đến độ sâu chừng năm mét tiếng
nước trên thác dội xuống chỉ nghe thấy ục ục thì con dầm xanh chuyển hướng bơi
ngang vào hàm ếch phía trong hang.
Bơi
theo con cá được một lúc đến gần hết hơi Vàn Tồng chợt thấy một miệng hang chạy
ngang vào lòng núi hiện ra mờ mờ trước mắt rồi không thấy con cá đâu. Chỉ hai
cái đạp chân Vàn Tồng đã chui được vào lòng hang rồi trồi ngược lên để lấy hơi,
nhưng thật kỳ lạ, cách cửa hang khoảng vài mét thì lòng hang chợt mở rộng ra,
có vài phiến đá kê ngay ngắn như xếp bậc ở những đoạn đường mòn dốc.
Dưới
ánh sáng lập loè của chiếc đèn pin, Vàn Tồng lần theo các bậc đá rồi đi vào
lòng hang, được hơn chục mét thì lòng hang mở rộng ra như gian nhà và tương đối
bằng phẳng, phía trong hang tối đen như mực sâu hun hút và chạy thẳng vào lòng
núi.
Với
bản tính bạo dạn ưa mạo hiểm, Vàn Tồng vừa đi sâu vào hang vừa đảo mắt nhìn ngó
xung quanh. Chưa bao giờ Vàn Tồng ở trong một không gian tĩnh lặng như vậy, tất
cả đều im phăng phắc không một âm thanh tiếng động dù là nhỏ nhất hay tiếng o o
của con giun con dế như ở trên mặt đất. Những viên đá đủ mọi hình thù và kích cỡ
khác nhau rêu bám xám xịt và trơn nhẫy nằm lô nhô khắp hang. Mùi đất hăng nồng xộc
vào mũi cùng với ánh sáng nhập nhẹm khiến Vàn Tồng cảm thấy hơi chếnh choáng.
Được
vài bước Vàn Tồng chợt chết sững khi thấy dưới ánh sáng đèn pin mờ ảo có một dấu
chân bên trái của ai đó dưới nền cát, lấy đèn pin soi kỹ thấy giống hệt chân của
mình, cũng to bè bè với những ngón chân toẽ ra hai bên một cách kỳ quái.
Bạo
dạn là vậy nhưng bỗng nhiên Vàn Tồng cảm thấy sợ hãi, mệt và lạnh. Vàn Tồng lấy
một phiến đá kê làm ghế ngồi nghỉ lấy sức, nhưng vừa nhấc phiến đá lên Vàn Tồng
bỗng há hốc miệng không kêu được tiếng nào.
Trên
phiến đá rộng khoảng 2 gang tay, dài khoảng 3 gang có một mặt sần sùi, một mặt
khá nhẵn nhụi được khắc thứ chữ nho cổ, do lâu ngày nên rêu mốc bám kín. Đem ra
vũng nước vừa rửa vừa cạo để lộ ra 3 hàng chữ nho được khắc vào đá theo hàng dọc
từ trên xuống, do được học chữ nho của thầy cúng nên Vàn Tồng biết đọc, nội
dung tấm văn bia ghi rằng: THU THIÊN KỶ HỢI, CẢNH HƯNG TỨ THẬP TUẾ, TÂN VƯƠNG
VIÊN TỊCH. Phía dưới bia có 3 dòng chữ nhỏ rằng: VÀN TỒNG ĐÔ LONG THỔ QUAN và
CHƯ TAM ĐỒNG HỮU NGỘ - PHÀM BẤT KHẢ NHÂN LAI - CỐ TÌNH ĐƯƠNG NHIÊN TỬ.
Nhớ
lại những câu chuyện truyền thuyết về kho báu, chuyện về voi đá, ngựa đá của
Hoàng Vần Thùng rồi chợt nhìn xuống bàn chân to bè giống hệt vết chân ở bãi cát
ngay cửa hang, Vàn Tồng thấy như có dòng điện chạy dọc sống lưng khiến mồ hôi
chợt vã ra như tắm vì không ngờ những truyền thuyết kia lại có thật, giờ hiển
hiện ra nay trước mắt.
Ngồi
một lát để lấy lại tinh thần và dũng khí, Vàn Tồng lần mò theo các bậc đá tiếp
tục đi sâu vào trong hang. Được gần hai chục mét Vàn Tồng chợt chết sững và hét
to lên một tiếng khi thấy hai bộ xương người xám xịt nằm úp sấp đầu hướng về
phía cửa hang, nằm đè lên hai bộ xương là hai chiếc bựa púi (túi đeo bằng vải của
người Dao đỏ) đã mục nát, xung quanh là những thỏi vàng thỏi bạc rơi tung toé. Ngoài
ra còn có hai chiếc đèn pin và hai chiếc súng bắn cá mũi tên đã gỉ sét.
Nhớ
lại câu chuyện về hai người ở nơi khác về săn cá sau đó mất tích cách đây mấy
chục năm, Vàn Tồng tin chắc đây chính là họ. Vì lý do nào đó hoặc bị mắt kẹt và
không thoát ra được nên chết ở đây.
Quá
nhiều sự việc rùng rợn ập đến một lúc trong một không gian chật hẹp và đầy ma mị
khiến một người can đảm như Vàn Tồng cũng thấy tim đập chân run, hai đầu gối
như muốn khịu xuống.
Ngồi
một lát để trấn tĩnh và lấy lại tinh thần nhưng càng nghĩ Vàn Tồng càng thấy mọi
việc trở lên kỳ quặc và rối rắm. Nào là chuyện về kho vàng kho bạc của Hoàng Vần
Thùng, nào là tấm văn bia bằng đá, nhất là sự trùng hợp đến kinh ngạc về tên gọi
của vị thổ quan khắc trên văn bia lại trùng với tên gọi của Vàn Tồng, vì theo
tiếng Hán thì Vàn Tồng chính là Vần Thùng, nói theo tiếng Kinh là Văn Đồng, và
không hiểu sao bàn chân của Vàn Tồng lại xoè ra hệt như vết chân trên cát ở cửa
hang. Không những thế trên tấm văn bia kia cũng lại nhắc đến việc chỉ những ai
có ba điểm giống nhau thì mới vào được nơi này.
Chợt
nhớ ở trong hang đã quá lâu, đèn pin cũng sắp hết điện, Vàn Tồng nhặt mấy thỏi
bạc định đem về, song tìm quanh không có gì để đựng đành dứt cái dây cao su của
súng bắn cá buộc túm lại được gần chục thỏi và đeo vào thắt lưng và leo xuống cửa
hang. Sau một hơi dài Vàn Tồng nổi lên mặt nước, quên hết đàn cá dầm xanh, Vàn
Tồng leo lên thang dây rồi chạy một mạch về nhà.
Vừa
vào đến cửa, Vàn Tồng liền kể lại và khoe với bố mấy thỏi bạc. Nghe xong câu
chuyện, ông Mềnh Quyên lúc đầu chưa tin lắm nhưng cầm trên tay mấy thỏi bạc còn
dính đầy bùn đất rêu mốc thì đúng là sự thật hiển nhiên không tin không được, cả
đời ông chưa bao giờ thấy số bạc nhiều đến thế.
Xem
đi xem lại mấy thỏi bạc, ông trầm ngâm:
-
Thế là đúng rồi, không phải tự nhiên mà ông bà tổ tiên lại gọi đó là thác Xoang
Vèng tức là suối vàng. Đây ắt hẳn là kho vàng của Hoàng Vần Thùng rồi. Nghĩ một
lát ông hỏi lại Vàn Tồng:
-
Thế mày đã xem kỹ cái hang chưa?
-
Chưa bố ạ - Vàn Tồng trả lời.
-
Cái hang đó chắc chắn sẽ còn nhiều bạc nhiều vàng lắm chứ không chỉ có một tý ở
chỗ bộ xương đâu.
-
Sao bố biết - Vàn Tồng hỏi lại bố.
-
Các cụ tổ tiên kể lại rằng ngày xưa Hoàng Vần Thùng có nhiều vàng bạc của cải lắm,
cả một đoàn người với hàng trăm con ngựa chở mới hết. Mấy thỏi chỗ bộ xương là
do hai người đó lấy ra được như thế thôi, còn lại chắc chắn vẫn ở trong đó -
Ông quả quyết.
Nghe
vậy mắt Vàn Tồng sáng lên, nhưng nhớ lại hai bộ xương xám ngoét trong cái hang
tối tăm chật hẹp trong đầu Vàn Tồng thấy sờ sợ và nói với bố.
-
Hay là ngày mai bố với con cùng vào đó xem sao.
-
Để xem sao đã, nhưng việc này quan trọng lắm, lộ ra cho mọi người biết là họ
vào lấy hết đấy, nên mày không được nói với ai, kể cả mẹ mày, chỉ bố với mày biết
thôi, nghe chưa.
-
Được rồi, biết rồi - Vàn Tồng cằn nhằn.
Lấy
chiếc ống nứa đựng chè trên gác bếp, ông Mềnh Quyên bỏ mấy thỏi bạc vào và đem
ra chôn dấu dưới tảng đá trước nhà, vừa lúc bà Mùi Viện đi chơi nhà hàng xóm về.
Vàn Tồng cùng mẹ nấu cơm tối, cầm con dao thái miếng thịt treo mà tay cứ run
lên bần bật.
Cả
đêm đó Vàn Tồng và bố hầu như thức trắng vì những thỏi vàng thỏi bạc cứ nhảy
múa loạn xị trong đầu. Nửa đêm tiếng sấm nổ đì đoàng báo hiệu cơn mưa đầu mùa sắp
đổ càng khiến hai bố con Vàn Tồng trằn trọc không thể ngủ nổi vì sợ trời mưa thác
nước Xoang Vèng chảy mạnh sẽ không vào được hang để kiểm tra lại kho báu.
Sáng
hôm sau trời càng vần vũ, những đám mây cõng đầy hơi nước từ hướng đông kéo tới
bị đỉnh núi Khau Chang và núi Hô Sán giữ lại ngày càng dày và mọng nước báo hiệu
cơn mưa lớn sắp đổ xuống. Dù cảm thấy nguy hiểm nhưng bị những thỏi vàng thỏi bạc
thôi thúc, hai bố con Vàn Tồng thay đôi pin mới vào chiếc đèn pin và lấy hai chiếc
kính lặn cho vào bựa púi rồi bí mật đi lên thác Xoang Vèng.
Xuống
đến hố nước, Vàn Tồng thấy là lạ vì không thấy có một con dầm xanh nào nổi lên
tìm mồi như hôm trước. Buộc chiếc bựa púi vào thắt lưng và đeo chiếc kính lặn che
kín mắt, hai bố con Vàn Tồng nhảy xuống hố nước và lặn xuống rồi lần vào cửa hang
sau đó men lên theo đúng lối đi mà hôm qua Vàn Tồng đã vào.
Bước
qua cái vết chân kỳ quái đến chỗ cái văn bia, Vàn Tòng lấy đèn pin soi cho bố đọc.
Vốn là thầy cúng, đọc thông viết thạo chữ nho lại nắm chắc ngữ pháp câu cú nên sau
khi đọc các chữ khắc trên tấm văn bia ông Mềnh Quyên tái mặt lẩm bẩm:
-
Không hay rồi, bố con mình gặp họa lớn rồi…
-
Họa lớn là sao, chẳng phải mình bắt được vàng à - Vàn Tồng hỏi lại.
Im
lặng một lát để trấn tĩnh lại ông Mềnh Quyên giảng giải cho Vàn Tồng. Nội dung
trên tấm văn bia viết về ngày mất của một vị Tân vương vào mùa thu năm Kỷ hợi
năm thứ 40 đời vua Cảnh Hưng, còn dòng chữ nhỏ phía dưới văn bia nói rằng tên
huý của vị Tân vương là thổ quan đất Đô Long là Văn Đồng.
Như
vậy đây chắc chắn là nơi cất giữ kho báu của Hoàng Vần Thùng và có thể cũng là
nơi quàn thi hài của ông sau khi mất. Song điều đáng sợ nhất là ba dòng chữ ở
cuối văn bia ghi rõ rằng những ai có ba điểm giống nhau thì có thể, ngoài ra
không ai được đến nơi này, nếu cố tình thì đương nhiên sẽ chết.
Chiếu
theo nội dung khắc trên tấm bia, ông Mềnh Quyên thấy có nhiều điều trùng hợp đến
kỳ lạ. Trước nhất là tên tuổi và ngày sinh của Vàn Tồng trùng khớp với những
câu chuyện truyền thuyết về Hoàng Vần Thùng, thứ nữa là đôi bàn chân của Vàn Tồng
giống hệt vết chân hằn trên bãi cát trong hang. Rồi những câu chuyện kể về
Hoàng Vần Thùng và kho báu của ông. Dù vậy ông nghĩ dù sao thì hai bố con đã
vào đến nơi này cũng như đang ở thế cưỡi trên lưng cọp, một là bám vào đến khi
nó mệt lử mà tìm cách tiêu diệt để tìm đường sống, hoặc là nhảy xuống để làm mồi
cho nó. Nghĩ vậy ông nói ngắn gọn với Vàn Tồng:
-
Thôi, ta lên kia xem sao.
Dò
dẫm bước qua hai bộ xương và những thỏi bạc thỏi vàng, hai bố con Vàn Tồng đi
vào sâu trong hang, được một đoạn thì thấy hang chạy ngược lên phía trên, tiếp
tục đi qua hai ngách thì lòng hang lại mở rộng ra như gian nhà.
Lia
chiếc đèn pin xung quanh chợt cả hai bố con giật bắn người khi thấy ở một góc
hang xếp một dãy hơn chục cái toàn chum với lọ, có cái to một người ôm không hết,
cái thì nhỏ như chiếc hũ đựng rượu. Ở hai đầu có hai bộ xương chết ngồi đã mục
nát chỉ còn mỗi hai chỏm xương sọ và mấy đốt xương cẳng tay và xương ống chân.
Lấy
hết sức can đảm, Vàn Tồng cùng bố leo lên chỗ mấy cái chum, nhấc những phiến đá
làm lắp đậy thì thấy chum nào cũng đầy ắp toàn là vàng là bạc. Lùi lại vài bước
ông Mềnh Quyên quỳ xuống đất chắp tay vái lia lịa còn Vàn Tồng ngồi thụp xuống
một tảng đá, đầu choáng váng như muốn ngất vì lần đầu tiên thấy nhiều của cải
vàng bạc như thế.
Một
lúc sau, trấn tĩnh lại ông Mềnh Quyên bảo Vàn Tồng lấy một ít bạc cho vào hai
cái bựa púi, thấy ít, Vàn Tồng bảo:
-
Bố! lấy thêm một ít đi.
-
Không được đâu, tý bơi ra sao được, nặng thế chìm xuống nước là chết đấy, ta lấy
ra rồi quay trở vào lấy tiếp thôi.
Nghe
thấy có lý, Vàn Tồng cùng bố mỗi người lấy mỗi túi cũng gần chục cân rồi lần mò
bước xuống. Vừa đến chỗ cái văn bia thì chợt nghe thấy rầm một tiếng rõ to
trong lòng đất, đi được vài bước thì thấy nước dâng cao hơn so với trước vài
mét. Ngạc nhiên vì không hiểu chuyện gì xảy ra, Vàn Tồng bảo bố ngồi chờ rồi
đeo kính lặn xuống dưới hang để kiểm tra trước. Đến chỗ cái cửa hang thì thấy một
tảng đá to tướng chèn kín khiến hang tối thui không thấy lối ra bên ngoài tiếng
nước chảy ầm ầm. Hoảng hốt, Vàn Tồng vội bơi ngược trở lại bảo bố:
-
Bố ơi, cửa hang bị lấp mất rồi…
Nghe
vậy ông Mềnh Quyên biết ngay điềm dữ đã đến và lẩm bẩm trong mồm:
-
Chết rồi, mình gặp hạn to thật rồi…
-
Là sao hả bố? Vàn Tồng hỏi.
-
Đá lấp như vậy chắc không ra được, giờ bố con mình phải tìm đường khác thôi,
may ra có lối lên hang Tham Kỳ…
Nghe
vậy, nỗi sợ bất chợt tràn đến khiến Vàn Tồng đứng không vững.
-
Đi thôi kẻo đèn hết pin - Ông Mềnh Quyên giục. Thấy Vàn Tồng nhấc cái bựa púi định
đeo lên lưng ông bảo:
-
Để lại đi, đường xa khó đi không mang theo được đâu, khi nào có dịp bố con mình
quay lại lấy sau.
Thấy
tiếc của, Vàn Tồng lấy một thỏi giắt vào cạp quần rồi cùng bố soi đèn pin đi
vào trong hang, thi thoảng gặp đường cụt lại phải quay lại tìm lối khác, càng
đi càng thấy tối và sâu hun hút mà vẫn không thấy lối ra. Đến khi cả hai chiếc
đèn pin gần hết điện chỉ còn ánh sáng le lói thì chợt thấy một phiến đá to,
phía trên có một cỗ quan tài cũng bằng đá, xung quanh xếp đầy gươm giáo và đồ
tùy táng đã gỉ sét, cán bằng tre gỗ đã mục nát. Không ai bảo ai, cả Vàn Tồng và
ông Mềnh Quyên đều hiểu rằng đây chính là nơi yên nghỉ của Hoàng Vần Thùng.
Đúng lúc đó thì cả hai chiếc đèn pin đều tắt ngấm vì hết sạch điện.
Do
ở trong hang núi nên hai bố con Vàn Tồng không biết được những gì xảy ra ở bên
ngoài. Số là sau khi hai người đi vào hang thì trời đổ mưa rất to và kéo theo một
cây cổ thụ ven suối phía trên thác đổ xuống đúng vào một tảng đá to như gian
nhà, sau đó tảng đá bị dòng nước hung dữ kéo xuống thác và lấp kín cửa hang.
Ở
nhà, mẹ Vàn Tồng nấu cơm trưa xong rồi đợi mãi, đợi mãi cũng không thấy hai bố
con về ăn, đến tận mấy hôm sau cũng không thấy. Đi hỏi các gia đình trong làng
ai cũng không biết. Cho rằng hai bố con đi săn cá bị lũ cuốn, mẹ Vàn Tồng nhờ
dân làng đi tìm mấy ngày dọc khắp con suối Hò Piên rồi đến chân thác Xoang Vèng
cũng không thấy xác.
Chuyện
xảy ra đã mấy chục năm, bây giờ hai làng Thượng và làng Hạ đã được nhiều hộ gia
đình nơi khác đến khai hoang sinh sống và trở thành khu dân cư đông đúc với hơn
năm chục hộ. Suối Hò Piên cũng ít nước hơn trước, thác Xoang Vèng giờ chỉ còn hai
tầng vì một tầng đã bị hòn đá to chèn kín như cái nút ở miệng chai rượu.
Bây
giờ mọi người mỗi khi đi qua chỗ mấy con voi đá, ngựa đá cũng không còn sợ đến
mức phải bó mũ nón ra hoặc không dám nói to như trước, nhưng những câu chuyện về
Hoàng Vần Thùng, về hang vàng hang bạc thì vẫn được những người già trong làng
kể lại cho lũ trẻ nghe. Riêng câu chuyện về hai bố con Vàn Tồng là không ai biết
để kể lại mà chỉ biết rằng hai người bị lũ cuốn mất tích khi đi săn cá.
Hoàng Su Phì, tháng giêng năm 2024