Chè shan
tuyết là một trong những cây thế mạnh của huyện Hoàng Su Phì. Do điều khí hậu và thổ nhưỡng phù hợp
nên sản phẩm chè của huyện có chất lượng thơm ngon, được thị trường cả trong và
ngoài nước chấp nhận. Năm 2020 toàn huyện có tổng diện
tích 4.625,8 ha, trong đó diện tích chè cho sản phẩm là 3.599 ha (Bao
gồm 2.018 ha chè sản xuất theo tiêu chuẩn hữu cơ Việt Nam), tổng sản lượng
14.028 tấn chè búp tươi, giá bán bình quân 15.000 đồng/kg/búp tươi, tổng giá trị hoạch ước đạt 210,4
tỷ đồng. Ở Hoàng Su Phì, cây chè tập trung chủ yếu ở các xã Thông Nguyên, Nậm
Ty, Nậm Khòa, Nam Sơn, Hồ Thầu, Bản Luốc và Túng Sán, trong đó có những cây chè
cổ thụ trên 500 trăm năm tuổi, đường kính gốc tới hai người ôm không xuể, đã
được Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam phong danh hiệu Cây di sản
Quốc gia. Theo các cụ già làng người dân tộc Dao ở xã Hồ Thầu, Nậm Ty thì cây
chè shan tuyết đã được các hộ gia đình người dân tộc Dao đem theo trong quá
trình di cư đến sinh sống ở khu vực này. Ban đầu cây chè được các gia đình trồng
cạnh những vạt nương với mục đích để đánh dấu quyền sở hữu khu đất, đồng thời
để phục vụ nhu cầu sử dụng của các gia đình. Về sau khi giao thương phát triển thì
các tiểu thương ở miền xuôi mới lên để trao đổi mua bán và chế biến thành chè
xanh, rồi được Nhà nước quan tâm thành lập các nhà máy chế biến và hỗ trợ phát
triến. Từ đó sản phẩm chè shan tuyết của huyện Hoàng Su Phì mới được nhiều
người biết đến và nổi tiếng như ngày nay.
Ở Hoàng Su Phì hiện có 3 giống chè chủ yếu, đó là chè
shan tuyết lá to, với đặc điểm phiến lá to, hơi nhẵn, mép lá răng cưa nông và
có xu hướng mọc ngang, trên búp non chưa nở thành lá có một lớp nhung trắng mịn
bao phủ, giống chè này có vị chát đậm, hương thơm dịu. Giống chè thứ hai cũng
là chè shan tuyết, song phiến lá nhỏ, dài, mép lá răng cưa sâu hơn. Giống chè
này ít chát, nhiều tuyết, hương thơm tự nhiên, vị đậm ngậy rất độc đáo. Địa bàn
phân bố chủ yếu ở các xã Hồ Thầu, Tả Sử Choóng và Túng Sán, trong đó chè shan
tuyết Túng Sán là có giá trị cao nhất, từ lâu đã được giới sành chè biết đến.
Giống chè thứ ba đó là chè rừng búp đỏ chỉ sinh trưởng ở khu vực núi Chiêu Lầu
Thi và Tây Côn Lĩnh là những nơi có độ cao trên 1.500m so với mực nước biển. Giống
chè này có vị ngọt nhẹ, hương thơm mát, song nước thường có màu đỏ. Một điểm
khác biệt của cây chè Hoàng Su Phì đó là mỗi năm chỉ thu hái được 4 vụ
Trước đây, đồng bào Hoàng Su Phì chủ yếu chế biến
và sử dụng chè vàng. Chè sau khi thu hái về được cho vào chảo ghênh để sao qua
cho héo rồi dùng chân vò cho bớt nhựa, sau đó đem phơi nắng hoặc cho vào lò sấy
đắp bằng đất để sấy cho khô rồi bán cho cửa hàng mậu dịch. Một phần thì để lại
và đựng vào ống tre treo trên gác bếp để dùng dần. Cách uống loại trà này của
đồng bào cũng hết sức độc đáo. Mỗi khi có khách đến nhà thì sẽ được chủ nhà mời
ngồi quây quần quanh bếp khách là bếp lửa nhỏ ở gian cạnh ngôi nhà, khi đó chủ
nhà mới khơi cho bếp lửa cháy to và đun siêu nước cho sôi sùng sục, đồng thời lấy
một nắm chè trong ống nứa sao cho vừa đủ một ấm và để vào một mảnh gang hoặc
nhôm rồi đặt trên đám than hồng để sao lại cho đến khi búp chè nổ lách tách thì
mới cho vào ấm để pha. Ấm pha trà thường là loại ấm tích to chừng 1 lít, đối
với đồng bào Dao và Cờ Lao ở xã Túng Sán thì lại dụng loại ấm bằng thân cây tre
già vừa có tác dụng giữ nhiệt, vừa tăng hương vị cho trà. Giữa không gian ấm
cúng, nước từ ấm siêu đang sôi ùng ục được đổ vào ấm tích kêu đánh sèo, cùng
với đó là mùi thơm sực của chè shan tuyết bốc lên hòa quyện với hơi sương, hơi
gió của vùng núi. Chỉ với một chiếc bát hoặc chén, nước chè đặc sánh nóng rẫy được
rót ra và uống quay vòng lần lượt từng người khiến cho chủ và khách hòa vào làm
một và tan biến đi nỗi mệt mỏi sau những giờ trèo đèo lội suối.
Từ khoảng những năm 1970 trở lại đây một số cán bộ
và tư thương người Kinh dưới xuôi lên công tác hoặc làm ăn đã phát hiện ra giá
trị và chất lượng của chè shan tuyết Hoàng Su Phì nên đã du nhập và hướng dẫn
cho người dân bản địa cách chế biến chè xanh hay còn gọi là chè mạn, từ đó trở
thành đồ uống phổ biến và không thể thiếu trong mỗi gia đình. Đặc biệt là từ
khoảng năm 1995 tỉnh Hà Giang và huyện Hoàng Su Phì đã triển khai nhiều cơ chế,
chính sách khuyến khích hỗ trợ người dân và các doanh nghiệp trong việc chế
biến và tiêu thụ chè nên đến nay hầu hết sản lượng chè shan tuyết của huyện đều
được chế biến thành chè xanh, gắn với đó là việc quảng bá, giới thiệu, cải tiến
bao bì mẫu mã, đa dạng hóa sản phẩm. Vì vậy đã góp phần nâng cao giá trị, đẩy
mạnh tiêu thụ cho sản phẩm chè của huyện. Toàn huyện hiện có 12 hợp tác xã chế
biến chè và hơn 150 cơ sở chế biến bằng mái sao sấy mini quy mô hộ gia đình.
Trong đó đi đầu là các hợp tác xã chế biến chè Phìn Hồ Trà, hợp tác xã Chiến Hảo, hợp tác xã Hạnh Quang... Năm 2020, toàn
huyện đã chế biện được 2.805,6 tấn chè xanh thương phẩm, trị giá trên 340 tỷ đồng.
Chè shan tuyết Hoàng Su Phì giờ đã đi khắp các vùng
miền trong và ngoài nước với nhiều sản phẩm, nhiều thương hiệu, nhiều cách
thưởng thức khác nhau. Song cách uống trà theo phong cách truyền thống hiện vẫn
được bà con lưu giữ và cũng là một trong những nét đẹp văn hóa để mời gọi và
níu giữ khách du lịch muốn tìm hiểu những giá trị văn hóa của vùng biên cương
Hoàng Su Phì.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét