Huyện Hoàng Su Phì có tổng số 3.720,6 ha ruộng bậc thang trải đều khắp 25/25 xã, thị trấn của huyện. Các thửa ruộng bậc thang của huyện Hoàng Su Phì uốn lượn trùng điệp và chạy dài từ ven suối lên đỉnh núi và xen lẫn những cánh rừng nguyên sinh, những nương chè cổ thụ và những dòng sông, khe suối, tạo thành bức tranh thiên nhiên hài hòa, nhiều màu sắc. Cảnh quan ruộng bậc thang của huyện đẹp nhất là vào mùa cấy từ tháng 4 đến tháng 6 hàng năm và mùa lúa chín từ tháng 8 đến giữa tháng 10 hàng năm.
Hiện nay, toàn huyện Hoàng Su Phì có 1.380 ha ruộng bậc thang tại 11 xã gồm Bản Phùng, Bản Luốc, Sán Sả Hồ, Hồ Thầu, Thông Nguyên, Nậm Ty, Tả Sử Choóng, Bản Nhùng, Pố Lồ, Thàng Tín, Nậm Khòa đã được Bộ Văn hóa Thể thao & DL đã ra quyết định xếp hạng danh thắng cấp Quốc gia. Đây là những khu ruộng đẹp nhất của huyện Hoàng Su Phì và từ lâu đã được khách du lịch trong và ngoài nước biết đến với một sự hấp dẫn đặc biệt.
Qua quá trình tìm hiểu tại các hộ gia đình của huyện Hoàng Su Phì cho thấy hình thức canh tác trên ruộng bậc thang xuất hiện ở vùng này vào khoảng trên, dưới 100 năm. Lúc đó việc khai phá để làm ruộng bậc thang rất ít do rừng còn nhiều, dần dần, việc canh tác nương rẫy không còn thuận lợi do rừng ngày một ít đi nên đồng bào chuyển dấn sang canh tác trên ruộng bậc thang ngày một nhiều hơn. Hiện nay việc canh tác trên ruộng bậc thang đã là hình thức chủ đạo trong sản xuất nông nghiệp của đồng bào nơi đây. Theo định nghĩa của đồng bào ruộng bậc thang là những mảnh đất được khai phá tạo thành mặt bằng, xung quanh đắp bờ ngăn nước trồng lúa. Để có được mảnh ruộng bà con đã phải bỏ nhiều công sức, tích luỹ nhiều kinh nghiệm, hoàn thiện và nâng cao kỹ thuật trong các khâu khai phá, tạo mặt bằng, đắp bờ, ngăn giữ nước...
1. Lựa chọn vùng đất:
Trước kia do đất đai còn nhiều việc chọn nơi làm ruộng đối với đồng bào nơi đây đòi hỏi nhiều yêu cầu hơn. Khu vực đáp ứng đủ yêu cầu phải là nơi đất đai tơi xốp, màu mỡ, không có đá to, trước kia từng là rừng nguyên sinh. Độ dốc của đất không lớn, có khả năng tạo được mặt bằng ruộng có độ rộng, dài. Điều quan trọng nhất khi lựa chọn vùng đất để khai phá là trong khu vực hoặc gần đó phải có nguồn nước, phải là nơi có thể đưa nước về ruộng được dễ dàng và không mất nhiều công sức. Hiện nay, do đất đai ngày một ít dần đi, những mảnh đất màu mỡ nhất cũng đã khai phá thành ruộng bậc thang, việc lựa chọn vùng đất không đòi hỏi nhiều yêu cầu như trước nữa. Chính sách giao đất giao rừng của nhà nước cũng phần nào giới hạn việc lựa chọn nơi khai phá làm ruộng của đồng bào. Hằng năm gia đình nào thấy thiếu đất canh tác sẽ lựa chọn trong khu vực đất rừng, nương rẫy của gia đình mình lấy vị trí thích hợp, gần nguồn nước để khai phá thành ruộng. Thông thường nếu khu đồi của năm trước khai phá còn đất họ sẽ làm nối tiếp theo đó, nếu hết đất mới đi tìm khu đồi khác để khai phá. Mỗi năm họ chỉ mở thêm 2 - 3 thửa ruộng mới và tập trung vào cải tạo ruộng cho màu mỡ.
2. Công việc khai phá ruộng:
Mùa khai phá được tiến hành ngay sau khi ăn tết xong, trong tháng 1 và tháng 2 âm lịch. Đầu tiên là việc tạo mặt bằng ruộng, công cụ để khai phá ruộng hết sức đơn giản chỉ có cuốc, cuốc chim, bừa gỗ và con dao. Quy trình khai phá ruộng được bắt đầu từ nơi cao nhất xuống thấp. Công việc đầu tiên là dùng dao phát cỏ và các loại cây nhỏ rồi dọn sạch quang mặt đất, sau đó dùng cuốc đánh bật các gốc cây to, vần đá ra khỏi khu vực làm ruộng. Để san ruộng phải cuốc đất, xẻ núi tạo mặt bằng, khi đã có mặt bằng nếu gặp đá to không lăn đi được họ dùng cuốc đào một hố lớn, sâu ngay cạnh viên đá rồi vần viên đá xuống, sau đó lấp đất lên. Việc chôn đá này phải đảm bảo đủ độ sâu, sao cho khi cày lưỡi cày ko thể chạm đến. Khi đã có mặt bằng họ dùng bừa gỗ, là một tấm ván gỗ dài khoảng 60 cm, có cán cầm phía sau, hai đầu buộc dây cho hai người đi trước hoặc trâu kéo, người đi sau điều chỉnh để san đất sao cho phẳng đều mặt ruộng. Tùy vào địa hình và độ dốc của quả đồi mà độ cao và độ rộng của ruộng bậc thang được tạo ra cũng khác nhau. Khi đã có mặt bằng họ tiến hành đắp bờ rồi đưa nước vào ngâm chân ruộng. Thông thường phải sang mùa vụ của năm sau họ mới tiến hành cày cấy.
3. Làm bờ ruộng:
Công việc này được tiến hành ngay sau khi đã có mặt bằng ruộng. Trong quá trình khai phá tạo mặt bằng ruộng, tới vị trí dự định làm bờ đồng bào sẽ để lại một dải đất rộng chừng 20 cm làm thành bờ ruộng, mặt ruộng sẽ san thấp xuống. Sau khi khai phá ruộng xong đồng bào đưa nước vào ngâm chân ruộng, bờ ruộng chỉ được chỉnh sửa qua để giữ nước. Công việc làm bờ chỉ thực sự bắt đầu khi chuẩn bị bước vào mùa vụ mới. Khi đất đã được cày ải và cho nước vào ruộng ngâm, các gia đình sẽ chia nhau ra đi đắp bờ ruộng và tu chỉnh lại những đoạn bờ đã hư hỏng từ năm trước. Bờ ruộng của đồng bào ở đây thường nhỏ, chỉ rộng vừa một bàn chân, cao khoảng 15 cm. Khi đắp bờ bà con lấy cuốc cào sạch cỏ sau đó lấy đất ngay trong ruộng đắp lên rồi dùng mặt sau của lưỡi cuốc vuốt cho tròn, ở thành ruộng thì dùng xẻng cán dài đứng ở mép bờ bên trên nạo sạch cỏ, riêng đoạn thành bờ cao hơn mặt ruộng thì không làm sạch cỏ mà chỉ phát qua cho sạch, mục đích để hàng cỏ đó giữ cho bờ có sự liên kết chắc chắn và không bị vỡ khi có mưa lớn, nước chảy mạnh. Khi hoàn thành công việc làm bờ cũng là lúc đồng bào chuẩn bị cho một vụ cấy mới. Ruộng sẽ được đưa nước vào cho đủ rồi cày, bừa lại lần cuối và bón lót phân chuồng sau đó mới tiến hành cấy.
4. Làm đất:
Đây là khâu quan trọng nhất trong quá trình canh tác, có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa. Đối với những thửa ruộng canh tác hai vụ lúa hoặc một vụ lúa xen một vụ ngô thì quá trình làm đất thường được tiến hành ngay sau khi thu hoạch. Một năm làm đất hai lần và vụ chính phải lùi lại chậm hơn khoảng nửa tháng so với ruộng cấy một vụ, công việc làm đất trở nên gấp gáp hơn tuy nhiên dù là ruộng một hay hai vụ thì việc làm đất bao giờ cũng phải đảm bảo đủ các bước và đúng kỹ thuật. Đối với những thửa ruộng chỉ cấy một vụ công việc làm đất thường bắt đầu ngay sau tết. Cũng như các dân tộc có truyền thống canh tác trên ruộng bậc thang khác công việc làm đất bao giờ cũng do những người đàn ông trong gia đình đảm nhiệm. Tuỳ thuộc vào từng gia đình mà sức kéo có thể là trâu hoặc bò. Các loại công cụ liên quan đến việc làm đất gồm có cày, bừa và cuốc.
Về kỹ thuật cày, bừa, đồng bào người ở đây thường làm 3 lần. Lần đầu trong khoảng từ tháng giêng đến tháng 3 âm lịch, tuỳ vào sự bố trí thời gian của từng gia đình. lần đầu này là cày khô hay còn gọi là cày ải, lúc này ruộng chưa có nước. sau khi cày song thì bừa qua một lượt để vơ cỏ. Sau đó để đất cho ải. Lần thứ hai không phụ thuộc vào thời gian, cứ ruộng nhà nào đưa được nước vào thì gia đình đó bắt đầu cày, bừa lần hai. Song song với việc cày, bừa lần thứ hai này các đồng bào cũng bắt đầu tiến hành đắp lại bờ để giữ và điều tiết nước trong ruộng. Lần cày, bừa thứ ba được tiến hành khi ruộng đã đủ nước và gieo mạ gần đến ngày cấy. Lần này nếu gia đình nào có nhiều phân chuồng, trước khi bừa lần cuối họ đem một lượng phân chuồng rải đều lên mặt ruộng sau đó bừa lại rồi mới tiến hành cấy lúa.
5. Gieo mạ và cấy:
Cũng giống như việc làm đất, gieo mạ và cấy lúa là công việc có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất của mùa vụ, chính vì vậy việc gieo mạ và cấy được đồng bào đặc biệt chú trọng.
Kỹ thuật gieo mạ: Đây là công việc thường dành cho những người phụ nữ. Nếu dùng giống địa phương thì thóc giống cũng được lựa chọn cẩn thận, thường phải được chọn từ những đám ruộng tốt nhất, gặt về sàng bỏ những hạt lép sau đó được cất kỹ trên gác bếp. Khi những người đàn ông bắt đầu bận rộn với việc cày bừa dưới ruộng thì những người phụ nữ cũng tiến hành làm đất gieo mạ trên nương. Việc chọn mảnh nương phù hợp để gieo mạ là rất quan trọng, thường thì mảnh nương đó phải nằm ở khu đồi thoải, đất tơi xốp, có độ màu và ít đá. Trước khi gieo mạ đồng bào phát sạch cỏ, phơi khô rồi đốt, tro được giữ lại làm tăng độ màu cho đất. Sau khi làm sạch đất, dùng cuốc bướm cuốc lật đất lên, dùng gáy cuốc đập cho tơi đất rồi vơ bỏ những rễ cây còn sót lại. Sau đó san phẳng và cào cho đất thật mịn, rồi mới reo hạt xuống, hạt reo xuống rồi lại phải tiếp tục cào phủ một lớp đất mỏng lên trên để mưa không làm trôi hạt đồng thời tránh bị chim, chuột đến ăn. Xung quanh mảnh nương đồng bào còn đào rãnh thoát nước để tránh những cơn mưa làm trôi đất. Hiện nay với những giống lúa lai đồng bào đã dần chuyển xuống gieo mạ ngay trên ruộng, tuy nhiên qua khảo sát hiện còn thấy một số gia đình vẫn giữ tập tục gieo mạ trên nương. Theo đồng bào cho biết gieo mạ nương vất vả hơn gieo dưới ruộng nhưng do cây mạ ở trên nương bị háo nước khi cấy xuống gặp nước sẽ phát triển nhanh hơn, cây mọc khỏe hơn, đẻ nhánh nhiều nên năng suất cũng cao hơn mạ gieo dưới ruộng. Việc gieo dưới ruộng tuy không vất vả bằng gieo trên nương nhưng cũng phải đảm bảo đầy đủ các bước như ngâm giống, làm đất mạ và gieo.
Kỹ thuật cấy: Vào khoảng giữa tháng 5 âm lịch, khi gieo mạ được chừng 25 đến 30 ngày, cây mạ lúc này đã cao 25 đến 30 cm và có từ 4 đến 5 lá. Đồng bào bắt đầu nhổ mạ đi cấy, khi nhổ mạ phải nắm sát gốc, nhổ từng cụm nhỏ rồi dùng dây chuối hoặc lạt tre bó thành từng bó đem xuống ruộng cấy. Khi cấy mạ được ném đều ra khắp mặt ruộng, đồng bào đeo theo người một giỏ phân chuồng đã ủ kỹ ở bên sườn, trước khi cắm cây mạ xuống phải chấm gốc dạ vào giỏ phân để cây mạ trực tiếp nhận được chất dinh dưỡng. Đối với đồng bào ở đây việc cấy đổi công giúp nhau đã thành nếp, bởi vậy khi cấy thường có rất đông người, họ xếp hàng và đi giật lùi từ đầu bờ tới cuối bờ. Khoảng cách giữa các khóm lúa khi cấy được áng chừng bằng một gang tay.
6. Chăm sóc và bảo vệ lúa.
Công việc chăm sóc và bảo vệ cây lúa diễn ra không thường xuyên nhưng nó được duy trì trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển cho tới khi thu hoạch. Việc chăm sóc và bảo vệ bao gồm các khâu như bón phân, làm cỏ và diệt trừ sâu.
Bón phân: Nguồn phân bón chủ yếu mà đồng bào ở đây sử dụng trong canh tác là phân chuồng và phân xanh, hàng ngay họ gom số phân tươi ở chuồng trâu, lợn, gia cầm... lại dồn vào thành đống riêng, dùng nilon hoặc bao tải phủ kín và để cho phân thật khô, sau đó đập cho tơi xốp, khi nào cần sử dụng thì vận chuyển đến ruộng. Phân xanh được làm từ cây chó đẻ cắt nhỏ ra rồi trộn với một lượng phân chuồng tươi nhất định sau đó cũng được ủ kỹ rồi mới đem ra sử dụng. Về kỹ thuật bón phân, trước khi bừa lần cuối đồng bào đem một lượng phân chuồng hoặc phân xanh ra rải đều lên mặt ruộng sau đó mới bừa lại, mỗi khi cấy lại chấm gốc mạ vào phân để rễ mạ trực tiếp nhận được nguồn thức ăn. Sau khi cấy xong đồng bào còn bón phân thêm hai lần nữa, một lần khi cấy được khoảng 15 ngày đồng bào cho phân chuồng vào chậu rồi đem ra bón từng nắm nhỏ vào khóm lúa, lần cuối là sau khi cấy khoảng một tháng. Hiện nay ngoài việc sử dụng ngồn phân chuồng, phân xanh là chủ yếu thì một số gia đình cũng đã sử dụng cả nguồn phân hóa học như đạm, lân, kali, tuy nhiên phân hóa học chỉ bón thúc một lần sau khi đã cấy mạ xuống ruộng, thường là bón vào lần cuối cùng.
Làm cỏ: Công việc làm cỏ được tiến hành sau khi cấy khoảng 40 ngày và chỉ được làm một lần duy nhất. Các loại cỏ thường thấy trên ruộng bậc thang là cỏ ấu, cỏ lác, cỏ gianh... Đây là những loại cỏ có rễ bán rất sâu nênviệc làm cỏ phải làm bằng tay. Khi thấy cỏ mọc trong ruộng đồng bào phải lội vào nhổ trực tiếp.
Trừ sâu: Do đặc điểm của ruộng bậc thang là cây lúa ít bị sâu, bệnh đặc biệt với những giống lúa địa phương giống khoẻ nên việc chống chọi với sâu bệnh rất tốt. Các loại sâu bệnh y ở cây lúa trên ruộng bậc thang là sâu cuốn lá, sâu đục thân và một số loại sâu ăn ngọn lúa, tuy nhiên rất hiếm khi xảy ra.
7. Thu hoạch và bảo quản.
Trước kia, người dân của huyện Hoàng Su Phì chủ yếu cấy giống lúa thuần địa phương nên thời gian sinh trưởng của cây lúa kéo dài khoảng hơn 4 tháng. Khoảng gần 10 năm trở lại đây tỷ lệ lúa lai cao sản được trồng đại trà thì thời gian sinh trưởng ngắn hơn. Tuỳ theo điều kiện khí hậu và độ chiếu sáng của từng năm mà thời gian từ khi cấy đến khi thu hoạch vào khoảng 100 -120 ngày.
Khi chuẩn bị đến ngày thu hoạch đồng bào tháo cạn nước để bắt cá chép ruộng và để ruộng khô cho dễ gặt và thuận tiện cho việc vận chuyển. Để thuận tiện cho việc đập lúa khi gặt thường được cắt sát gốc để dài thân. Lúa gặt xong được bó thành từng bó và đập hoặc tuốt hạt ngay tại ruộng. Sau khi gặt xong lúa được phơi ngay trên ruộng từ một đến hai ngày rồi mới đóng bao đem về cất vào bồ đựng thóc để trên gác. Đối với các loại lúa địa phương đồng bào sẽ chọn lúa giống cất riêng ra, bảo quản cẩn thận hơn để dành làm giống cấy vào vụ sau. Rơm được đồng bào phơi ngay tại ruộng cho khô rồi đem về cất lên mái chuồng gia súc dành làm thức ăn cho trâu bò. Gốc rạ được để luôn tại ruộng cho tự phân huỷ làm màu cho đất.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét