MỞ ĐẦU
Người Cờ Lao xã Túng
Sán huyện Hoàng Su Phì là một trong hai nhóm người Cờ Lao hiện đang sinh sống
trên địa bàn tỉnh Hà Giang. Theo nhà nghiên cứu dân tộc học Nguyễn Văn Huy - viện
dân tộc học Việt Nam cùng một số tài liệu ghi chép và một số chi tiết trong các
bài cúng, truyện thơ được các nghệ nhân dân gian hiện sinh sống tại các thôn Tả
Chải, Khu Trù Sán xã Túng Sán còn lưu giữ thì nhóm người Cờ Lao xã Túng Sán thuộc
nhóm Cờ Lao Đỏ có nguồn gốc từ tỉnh Quý Châu (Trung Quốc) di cư sang Việt Nam đến
nay khoảng 150 năm đến 250 năm. Đây là một trong những nhóm dân tộc có trình độ
canh tác tương đối phát triển, đặc biệt là trồng lúa nước và trồng chè.
Mặc dù là dân tộc
có vốn văn hoá truyền thống khá phong phú và đặc sắc, đặc biệt là những tri thức
về văn hoá văn nghệ dân gian nhưng do số lượng dân cư không nhiều, địa bàn phân
bố hẹp và tương đối hiểm trở nên việc nghiên cứu một cách tổng thể và sâu rộng
về người Cờ Lao, đặc biệt là nghiên cứu tìm hiểu vốn văn hoá truyền thống của
người Cờ Lao chưa được các nhà khoa học lịch sử trong và ngoài nước quan tâm tìm
hiều mà chỉ có một số bài nghiên cứu được công bố chung trên các tác phẩm nghiên
cứu chuyên ngành hoặc được đăng tải rải rác trên các sách tạp chí và các phương
tiện thông tin đại chúng khác, ngoài ra còn một số tác phẩm báo chí được đăng tải
trên các báo, tạp chí của Trung ương và địa phương. Song, hầu hết các tác phẩm
nghiên cứu này đều mang tính phổ quát, đề cập đến những góc cạnh văn hoá mang tính
chất chung của các nhóm Cờ Lao là Cờ Lao đỏ, Cờ Lao trắng và Cờ Lao xanh, một số
bài viết khác đề cập đến vấn đề trong đời sống kinh tế, văn hoá xã hội hiện nay
của các nhóm người Cờ Lao. Trong khi đó, nhóm Cờ Lao đỏ hiện đang sinh sống tại
xã Túng sán huyện Hoàng Su Phì do nằm biệt lập ở một địa bàn cách xa đường quốc
lộ, giao thông không thuận tiện, dân cư sinh sống không nhiều nên ít được các
nhà nghiên cứu tìm hiểu sâu, đặc biệt là hệ thống ngôn ngữ, trang phục, âm nhạc
truyền thống, văn hoá ứng xử cùng các lễ thức dân gian độc đáo - những yếu tố có
thể giúp cho chúng ta cái nhìn tổng thể và chi tiết về tiến trình lịch sử - văn hoá của cộng đồng người Cờ lao nói
chung và người Cờ Lao ở huyện Hoàng Su Phì nói riêng. Từ lịch sử cội nguồn, ngôn
ngữ, hệ thống tôn giáo tín ngưỡng, trang phục, âm nhạc dân gian… Cũng như sự biến
đổi về tình hình kinh tế- xã hội ở giai đoạn hiện nay của họ. Trong khi hiện
nay, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, về việc xây dựng và phát triển đời
sống cho đồng bào các dân tộc ít người, các cấp uỷ chính quyền từ Trung ương đến
địa phương đã dành nhiều sự quan tâm đầu tư cho cộng đồng các dân tộc thiểu số
nên đã làm chuyển biến một bước cơ bản về đời sống kinh tế và văn hoá xã hội, tạo
cho họ có điều kiện hoà nhập với cuộc sống hiện đại, góp phần xoá dần khoảng cách
giữa miền núi với miền xuôi, điều đó đã và đang có tác động và ảnh hưởng đến
nhiều mặt của cuộc sống cộng đồng các dân tộc ít người trong đó có dân tộc Cờ
Lao, đặc biệt đã đẩy nhanh quá trình giao thoa tiếp biến văn hoá với các dân tộc,
các địa phương và các vùng miền khác, trong đó không tránh khỏi những tác động
tiêu cực trên lĩnh vực đời sống văn hoá. Theo khảo sát, hiện nay chỉ còn một bộ
phận rất ít người Cờ Lao còn có khả năng nói bằng tiếng Cờ Lao gốc và chủ yếu là
các thầy cúng trong khi đó bản thân những thầy cúng cũng không có khả năng hiểu
hết những từ ngữ trong các bài cúng đó. Số còn lại chủ yếu giao tiếp bằng tiếng
Hán thổ ngữ (Tiếng Quan Hoả), một bộ
phận nhỏ có khả năng giao tiếp bằng tiếng Mông hoặc tiếng Dao tiểu bản. Về cấu
trúc nhà ở cũng như những tập quán kiêng kỵ khác liên quan đến nhà ở của người
Cờ Lao trên địa bàn huyện Hoàng Su Phì cũng có sự giao thoa tiếp biến gần với sắc
thái văn hoá truyền thống của người Hoa - Hán vốn cư trú xen kẽ và lâu đời cùng
với các cộng đồng người Cờ Lao. Về tri thức văn hoá dân gian, ngoài việc còn lưu
trữ một số làn điệu dân ca cũng như những bài cúng mang tính sử thi có bản sắc
riêng rẽ mà chỉ có các nghệ nhân dân gian cao tuổi còn thuộc thì vẫn còn một số
bài dân ca mang âm hưởng của tộc người Hoa - Hán và hầu hết các thế trẻ em đều
không nhớ hoặc không học những tri thức dân gian quý báu này. Điều đó cho thấy
sự giao thoa tiếp biến văn hoá cũng như quá trình bào mòn vốn văn hoá dân gian
truyền thống của người Cờ Lao nói chung và các nhóm Cờ Lao sinh sống trên địa bàn
huyện Hoàng Su P hì đang diễn ra ở cường độ cao hơn bao giờ hết.
Từ những lý do
trên cho thấy, việc đi sâu nghiên cứu vốn văn hoá truyền thống của dân tộc Cờ
Lao ở huyện Hoàng Su Phì để trên cơ sở đó chúng ta chọn lọc cho việc bảo tồn gìn
giữ và phát huy bản sắc văn hoá của cộng đồng người Cờ lao, góp phần xây dựng đời
sống văn hoá cơ sở theo tinh thần nghị quyết hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành trung ương Đảng (khoá
VIII ) và Nghị quyết số 23 của Bộ chính trị BCH TW Đảng khoá X là việc làm hết
sức cần thiết. Xuất phát từ những vấn đề trên, nhóm nghiên cứu văn hoá dân gian
gồm các hội viên Hội văn học nghệ thuật tỉnh Hà Giang và Chi hội văn học nghệ
thuật tỉnh Hà Giang tại huyện Hoàng Su Phì đã triển khai thực hiện đề tài điều
tra khảo sát tìm hiểu những đặc trưng văn hoá của người Cờ Lao xã Túng Sán huyện
Hoàng Su Phì nhằm mục đích sưu tầm, mô tả một cách có hệ thống các vốn văn hoá
truyền thống của người Cờ Lao đỏ xã Túng Sán, nghiên cứu các yếu tố tác động đến
sự giao thoa tiếp biến văn hoá và những hệ quả của các tác động này đối với đời
sống kinh tế, văn hoá xã hội, cũng như đề xuất các ý kiến trong việc khai thác,
bảo tồn gìn giữ những giá trị văn hoá của dân tộc Cờ Lao xã Túng Sán nói riêng
và của người Cờ Lao nói chung để góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển
kinh tế xã hội của địa phương.
Do điều kiện có
hạn cả về không gian và thời gian nên nhóm tác giả thực hiện trong phạm vi các
gia đình thuộc các tộc họ người Cờ Lao xã Túng Sán huyện Hoàng Su Phì trong đó chủ yếu tại các
thôn Tà Chải, Khu Trù Sán là nơi những sắc thái văn hoá dân gian truyền thống của
các hộ gia đình người Cờ Lao còn biểu hiện tương đối đậm nét để sưu tầm nghiên
cứu các đặc trưng văn hoá dân gian như: Âm nhạc, lễ hội, trang phục, nhà ở, tín
ngưỡng, các lễ thức đặc thù mang tính tộc người, cấu trúc tộc họ làng bản cùng
một số đặc trưng kinh tế - văn hoá xã hội xưa và nay có liên quan đến quá trình
tồn tại và phát triển của người Cờ Lao xã Túng Sán huyện Hoàng Su Phì - Hà
Giang, đồng thời bước đầu lý giải một số ý nghĩa cơ bản của đặc trưng văn hoá
truyền thống của dân tộc Cờ Lao xã Túng Sán để làm cơ sở xây dựng những ý kiến đề
xuất trong việc bảo tồn gìn giữ và phát huy những bản sắc văn hoá truyền thống độc
đáo của người Cờ Lao xã Túng Sán huyện Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang.
Chương 1
ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CHUNG CỦA ĐỊA BÀN SINH SỐNG CỦA NGƯỜI
CỜ LAO.
Hoàng Su Phì là huyện vùng cao biên giới núi đất
phía tây tỉnh Hà Giang nằm trên lưu vực thượng nguồn sông Chảy và sông Bạc với
tổng diện tích tự nhiên là 63.303,34 ha. Trong đó:
Đất nông nghiệp: 11.075 ha.
Đất lâm nghiệp: 26.427,2 ha
Đất khác: 257,6 ha
Là địa
phương có kết cấu địa hình phức tạp chủ yếu là đồi núi dốc bị nhiều con suối
chia cắt, giao thông đi lại khó khăn. Toàn Huyện có 24 xã và 1 thị trấn với 191
thôn bản trong đó có 22 xã thuộc vùng 3 đặc biệt khó khăn, 4 xã có đường biên
giới giáp với Trung Quốc với tổng chiều dài đường biên 39,5 km. Đây là địa bàn
sinh sống của 12 dân tộc anh em với tổng số 10.056 hộ - 54.851 nhân khẩu, trong
đó: Dân tộc Dao chiếm 22,72 %, dân tộc Nùng chiếm 38,45 %, dân tộc Mông chiếm
13,42 %, dân tộc Tày chiếm 13,52 %, dân tộc La Chí chiếm 6,52 %, dân tộc Hoa Hán
chiếm 1,62 %, dân tộc Cờ Lao chiếm 1,38%, còn lại là các dân tộc khác chiếm
2,37 %.
Những năm trước đây, đời sống kinh tế xã hội của đông bào
nhân dân các dân tộc trên địa bàn huyện Hoàng Su Phì còn nhiều khó khăn, sống tự
cung tự cấp. Ngoài một số dân tộc có truyền thống làm nghề trồng lúa nước và trồng
chè như: Dao, Tày, Nùng... còn lại chủ yếu sống bằng nghề làm nương dẫy. Điều đó
đã dẫn đến tình trạng sống du canh du cư, chặt phá rừng làm nương dẫy trong cả
một thời gian dài. Sau khi hoà bình lập lại, nhất là từ khi thực hiện chủ trương
đổi mới của Đảng và Nhà nước, hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống
của nhân dân từng bước được đầu tư. Đến nay đã có 100% các xã trong Huyện có đường
ô tô đến trung tâm xã (Trong đó có 9 xã có
đường nhựa hoặc đường bê tông), hệ thống trường lớp học, trạm xá bệnh viện,
điện lưới Quốc gia được xây dựng đã làm thay đổi về cơ bản bộ mặt của nông thôn
huyện Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang. Song nhìn chung, nông - lâm nghiệp vẫn chiếm
tỷ lệ lớn trong cơ cấu kinh tế của Huyện (46%).
Từ năm 2004 đến nay, Huyện chủ trương kêu gọi đầu tư theo hướng liên doanh liên
kết trong chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, từng bước chuyển đổi tập
quán sản xuất nhỏ lẻ, tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá, đồng thời qua đó xây
dựng tác phong công nghiệp trong lao động sản xuất của nhân dân, từng bước thay
đổi cơ cấu kinh tế mang tính bền vững, mang lại hiệu quả thiết thực đối với cuộc
sống của nhân dân các dân tộc trong Huyện.
Trong năm 2010, nền kinh tế của Huyện đạt tốc
độ tăng trưởng khá, đạt 14%, tổng sản phẩm xã hội đạt 400 tỷ đồng, cơ cấu kinh
tế chuyển dịch đúng hướng, trong đó: Ngành nông lâm nghiệp chiếm 46%, công nghiệp
- xây dựng chiếm 24%, thương mại dịch vụ chiếm 30%. Năm 2010 tổng sản lượng lương
thực đạt trên 32.000 tấn tăng 8.500 tấn so với năm 2005, đậu tương đạt trên
7.000 tấn, chè búp tươi đạt trên 10.000 tấn, thảo quả đạt 250 tấn. Thu nhập bình
quân đầu người đạt 6,7 triệu đồng/năm, bình quân lương thực đầu người đạt
532kg/năm.
Về lĩnh vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp:
Huyện cũng đặc biệt chú trọng việc gắn sản xuất với chế biến hàng nông sản nâng
cao giá trị sản phẩm nông nghiệp, lắp đặt các dây chuyền chế biến nông lâm sản,
tăng cường quảng bá giới thiệu các sản phẩm chè, đậu tương và các mặt hàng nông
sản của Huyện thông qua việc thường xuyên tổ chức và tham gia các hội chợ triển
lãm hàng nông sản, vì vậy đến nay các mặt hàng nông sản đã có thị trường tiêu
thụ ổn định đem lại thu nhập cho nhân dân.
Lĩnh vực thương mại - du lịch và dịch vụ cũng
có mức tăng trưởng khá, từng bước đáp ứng nhu cầu sản xuất tiêu dùng trong nhân
dân. Thu hút được nguồn vốn đầu tư nước ngoài và các thành phần kinh tế tham
gia đầu tư vào lĩnh vực phát triển kinh tế du lịch sinh thái và du lịch văn hoá.
Đến nay, toàn Huyện đã có 8 thôn bản đăng ký xây dựng làng văn hoá du lịch cộng
đồng với tổng số vốn đầu tư gần 2 tỷ đồng theo phương thức Nhà nước và nhân dân
cùng làm, đồng thời Huyện chú trọng thành lập các làng nghề truyền thống để sản
xuất chế tạo các sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ như: Quần áo, nhạc cụ, đồ rèn đúc,
chạm khắc bạc, thổ cẩm... để phục vụ nhu cầu của khách du lịch. 9 tháng đầu năm
2010, toàn Huyện đã đón trên 750 lượt khách đến tham quan tại Huyện tổng doanh
thu từ du lịch đạt trên 4,7 tỷ đồng.
Về công tác văn hoá xã hội: Năm học 2010 -
2011 toàn Huyện có tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường đạt 98%. Hiện đã hoàn
thành chương trình phổ cập THCS ở 100% các
xã trong Huyện, năm 2006 Huyện đã được công nhận đạt chuẩn Quốc gia về Phổ cập
giáo dục trung học cơ sở. Công tác văn hoá thông tin tuyên truyền được duy trì
tốt thông qua việc duy trì hoạt động của 120 đội văn nghệ quần chúng, 160 đội
thể thao tại các cơ sở thôn bản, 25 tổ đội tuyên truyền tại cơ sở các xã, thị
trấn và 24 hội nghệ nhân dân gian tại các xã trong Huyện. Đến nay toàn huyện đã
có 194/194 thôn bản và 100% các hộ gia đình đăng ký xây dựng làng văn hoá, gia đình
văn hoá, trong đó đến tháng 6 năm 2009 đã có 71 làng văn hoá; 3.500 gia đình được
công nhận 3 năm liên tục đạt danh hiệu làng văn hoá, gia đình văn hoá.
Lĩnh vực an
ninh quốc phòng được đảm bảo, năm 2009 đã hoàn thành việc phân giới cắm mốc biên
giới với nước bạn Trung Quốc. Nhìn chung tình hình an ninh chính trị trật tự an
toàn xã hội của Huyện trong những năm qua được giữ ổn định.
Về hệ thống chính trị: Tính đến nay, toàn Huyện
có 3.518 Đảng viên sinh hoạt tại 67 tổ chức cơ sở đảng trực thuộc Đảng bộ Huyện
với 240 chi bộ, trong đó khối nông thôn có 210 chi bộ với 2.862 Đảng viên, khối
cơ quan có 30 chi bộ với 656 đảng viên.
Việc củng cố xây
dựng đảng, chính quyền các cấp từ Huyện đến cơ sở được thực hiện tốt theo cơ chế:
Đảng lãnh đạo toàn diện bằng chủ trương, HĐND giám sát và Chính quyền điều hành
hoạt động đến tận thôn bản,
Về hoạt động của
các đoàn thể: Ủy ban Mặt trận tổ quốc huyện và các đoàn thể luôn nêu cao vai trò
trách nhiệm tăng cường xuống cơ sở vận động, tuyên truyền nhân dân thực hiện các
chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, đi đầu trong cuộc vận động
“Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư”, công tác chống truyền đạo
theo đạo trái pháp luật di dịch cư tự do. Các đoàn thể như: Hội LHPN, Liên đoàn
lao động, Hội cựu chiến binh… còn tham gia tích cực trong việc xoá đói giảm nghèo
cho các hội viên.
II. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CHUNG CỦA XÃ TÚNG SÁN HUYỆN HOÀNG
SU PHÌ TỈNH HÀ GIANG.
Túng Sán là một
trong những xã vùng sâu của huyện Hoàng Su Phì tỉnh Hà giang, cách trung tâm
huyện lỵ 22 km. Phía đông của xã giáp huyện Vị Xuyên, Phía nam giáp xã Bản Nhùng,
phía bắc giáp xã Thèn Chu Phìn và phía tây giáp xã Tân Tiến của huyện Hoàng Su
Phì. Độ cao trung bình của xã so với mực nước biển là 1.052 m trong đó có đỉnh
núi cao nhất của giải núi Tây Côn Lĩnh (2032m so với mực nước biển). Toàn xã
chia thành 8 làng gồm: Khu Trù Sán, Túng Quá Lìn, Tà Chải, Chúng Phùng, Hợp Nhất,
Phìn Sư, Tả Lèng, Thượng Hạ. Toàn xã nằm trọn trong khu vực núi cao thuộc khu vực
thượng lưu Sông Chảy nên địa hình của xã có độ dốc lớn, bị nhiều con suối chia
cắt với tổng diện tích là 4.760 ha, trong đó chủ yếu là đất rừng chiếm 868,82 ha còn lại là đất nông nghiệp chiếm 408,32 ha và các loại đất chuyên dụng khác.
Địa hình xã Túng Sán nằm trên thượng nguồn sông chảy với những nhánh suối
nhỏ bắt nguồn từ dãy núi Tây Côn Lĩnh. Đây cũng là điểm được coi là trung tâm của
dãy Tây Côn Lĩnh hùng vĩ nằm trên địa bàn các huyện Vị Xuyên, Hoàng Su Phì và Xín
Mần của tỉnh Hà Giang. Ở một số thôn bản như: Chúng Phùng, Hợp Nhất hiện vẫn còn
những khu rừng nguyên sinh với trữ lượng lâm sản rất lớn và hệ sinh thái đa dạng,
nhiều tầng nhiều lớp, đặc biệt đây là địa bàn phù hợp cho các loại cây quý hiếm
như: Ngọc am, pơ mu, dổi... phát triển. Đất đai ở đây rất phù hợp với những loại
cây có giá trị kinh tế cao như: Chè san tuyết, thảo quả, đậu tương và các loại
cây ăn quả như: Lê, mận, đào, các loại dược liệu quý như ấu tẩu, xuyên khung,
thảo quả, cỏ nhung (Lan kim tuyến)... Tuy nhiên do địa hình bị chia cắt mạnh bởi nhiều
con suối đầu nguồn sông chảy nên giao thông ở đây đi lại rất khó khăn, khí hậu
khắc nghiệt chia làm 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 hàng
năm và thường xảy ra lũ ống lũ quét và sạt lở đất do địa hình có độ dốc lớn, mùa
khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau kèm theo hạn hán và rét đậm kéo dài, thỉnh
thoảng có mưa tuyết nên đây là một trong những trở ngại lớn đối với việc phát
triển kinh tế xã hội của địa phương.
Về thành phần dân tộc và động
thái dân số: Toàn xã hiện có tổng số 450 hộ 2.473 khẩu thuộc 6 dân tộc: Dao, Mông,
Cờ Lao, Nùng, Hoa Hán, La Chí, trong đó dân tộc Cờ Lao vẫn chiếm thành phần chủ
yếu với 133 hộ - 763 khẩu chiếm 30,85%. Tại một số thôn có tỷ lệ người Cờ Lao
chiếm đa số như: Tà Chải, Khu Trù Sán, Túng Quá Lìn thường có một số dân tộc sống
xen kẽ như: Dân tộc Mông, Dao tiểu bản, Hoa Hán, song hầu hết các gia đình thuộc
các thành phần dân tộc khác nhau đều chung sống hoà đồng và giữa các tộc người đều
có sự giao thoa văn hoá với nhau, thể hiện ở ngôn ngữ, nhà ở và một số tập quán
kiêng kỵ khác. Ví dụ: Mèn mén là món ăn truyền thống của người Mông nhưng hiện
nay vẫn còn một số gia đình người Cờ Lao sử dụng món ăn này trong bữa ăn hàng
ngày. Hoặc cách bài trí không gian trong các ngôi nhà của người Cờ Lao như: Vị
trí bàn thờ, bếp nấu... gần giống cách bài trí của người Hoa Hán. Một số bài hát
dân ca cổ của người Mông hoặc người Dao cũng được nhiều nghệ nhân dân gian người
Cờ Lao sử dụng trong các dịp lễ tết và ngược lại.
Về tên gọi: Những năm trước
đây, tên gọi các địa danh trong xã cũng như các thôn đều được gọi theo nghĩa tiếng
Hán và được gắn với một địa danh hay một sự việc nào đó, ví dụ: Túng Sán
................... tức là ngọn núi phía đông, hoặc Túng Quá Lìn
........... tức là “Làng bí đao”, Tả Lèng
............. tức là “dốc to” , Tà Chải ................... tức là “Làng to”...
song hiện nay sự biểu đạt này chỉ có một số ít người Cờ Lao còn biết hoặc quan
tâm tìm hiểu, còn lại hều hết đều gọi theo thói quen theo kiểu truyền khẩu.
Là xã có địa hình chủ yếu là đồi núi dốc nên đã gây khó
khăn cho việc phát triển nông nghiệp. Song do thiên nhiên ưu đãi nên đây cũng là
nơi phù hợp cho việc nuôi trồng các loại cây con giống chất lượng cao như: Chè
san tuyết đặc sản, thảo quả, ấu tẩu, xuyên khung, cá dầm xanh, anh vũ và những
cánh rừng pơ mu, ngọc am dưới chân ngọn núi Tây Côn Lĩnh hùng vĩ quanh năm mây
phủ. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển du lịch sinh thái, đồng thời
đây cũng là nguồn thu nhập bằng tiền chủ yếu của nhân dân các dân tộc trên địa
bàn Xã. Ngoài ra, cũng như hầu hết các dân tộc sinh sống trên địa bàn huyện Hoàng
Su Phì, các nhóm người Cờ Lao nói riêng và cộng đồng các dân tộc trên địa bàn xã
Túng Sán nói chung đều trồng lúa nước và các loại cây trồng khác như ngô, đậu
... trên các thửa ruộng bậc thang. Do địa hình nằm trên sườn núi với những cánh
rừng có tỷ lệ che phủ trên 55% xen kẽ giữa những khe suối rồi rào nguồn nước tưới
quanh năm, đất đai phì nhiêu màu mỡ nên rất thuận tiện cho việc canh tác nông
nghiệp. Những năm trước đây, nhân dân các dân tộc trong xã Túng Sán chỉ gieo trồng
mỗi năm một vụ lúa trong đó chủ yếu là giống lúa địa phương dài ngày, những lúc
nông nhàn thì chăm bón và thu hái chế biến chè vàng, trồng đậu tương, thảo quả,
dược liệu và một số cây trồng khác với quy mô nhỏ theo hướng quảng canh (Hô tỷ) chủ yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng
của các hộ gia đình theo hướng tự cung tự cấp. Song do kỹ thuật canh tác chế biến
chưa cao nên giá trị sản phẩm thấp. Những năm gần đây, việc áp dụng các mô hình
sản xuất xoá đói giảm nghèo được áp dụng có hiệu quả, đời sống về vật chất và
tinh thần của nhân dân trong xã được cải thiện một cách rõ rệt. Năm 2009 tổng
diện tích gieo trồng của toàn Xã có 610 ha trong đó: Cây lúa 140 ha, sản lượng
744 tấn, cây đậu tương 145 ha, sản lượng 1,668 tấn. Cây chè diện tích 172,9 ha,
sản lượng đạt 540,6 tấn, cây ngô diện tích 140 ha, sản lượng 280 tấn.
Để nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho nhân dân
trong xã, việc trồng và chế biến các sản phẩm nông nghiệp bản địa được chú trọng.
Năm 2001, từ nguồn vốn của Trung ương và Tỉnh, Huyện đã xây dựng một trạm thuỷ điện
nhỏ và xưởng chế biến chè san tuyết chất lượng cao tại khu vực trụ sở xã với công
suất 20 tấn chè xanh thành phẩm/năm, đồng thời khuyến khích nhân dân lắp đặt các
lò sao sấy chè mini để nâng cao chất lượng chè và đưa sản phẩm chè của Xã đi trưng
bày giới thiệu tại các hội chợ, do vậy đã kích thích thích nhân dân trong xã
tham gia các hoạt động trồng và chế biến chè. Hiện sản phẩm chè xanh của xã Túng
Sán đã có thị trường tiêu thụ ổn định đem lại thu nhập trên 4 tỷ đồng mỗi năm.
Ngoài ra, các hộ gia đình người Cờ Lao sinh sống trên địa bàn xã còn chú trọng
phát triển diện tích cây thảo quả là loại cây dược liệu quý có giá trị kinh tế
cao. Năm 2010 toàn xã có 137 ha, thu hoạch được 25 tấn quả khô trị giá gần 2 tỷ
đồng. Cá biệt, có hộ gia đình ông Sùng Seo Cáo thôn Chúng Phùng riêng cây thảo
quả đã cho thu nhập hơn 160 triệu đồng. Kết quả đó đã góp phần tích cực trong
việc tăng hộ giầu và khá giảm tỷ lệ hộ trung bình và hộ nghèo, không còn hộ đói.
Năm 2008, thu nhập bình quân đầu người của Xã đạt 3,9
triệu đồng tăng 1,1 triệu đồng, mức lương thực bình quân đầu người đạt 414 kg/năm.
Toàn xã hiện có 06 hộ giầu 102 hộ
khá, 311 hộ trung bình và 34 hộ nghèo. (********)
Theo thống kê, toàn xã hiện có 450 hộ gia đình - 2.473 khẩu
thuộc 6 dân tộc: Dao, Mông, Cờ Lao, Nùng, Hoa Hán, La Chí sinh sống tại thôn bản
của xã: 8 thôn bản. Trong đó: Dân tộc Cờ Lao: 133 hộ - 763 khẩu chiếm 30,85%, Dân
tộc Dao: 110 hộ - 624 khẩu chiếm 25,23%, Dân tộc Mông: 133 hộ - 690 khẩu chiếm
27,9%, Dân tộc Nùng: 47 hộ - 254 khẩu, chiếm 10,27%, Dân tộc Hoa Hán: 26 hộ -
144 khẩu chiếm 5,82%, Dân tộc La Chí: 1 hộ - 2 khẩu chiếm 0,08%. Trước đây, trên
địa bàn xã chỉ có 03 dân tộc sinh sống, từ những năm hoà bình mới lập lại ở Miền
Bắc, một số hộ dân tộc Nùng ở xã Tân Tiến và các xã lân cận đã đến nhập cư và
sinh sống tại thôn ....................... còn hộ dân tộc La Chí là cán bộ đến
công tác và nhập hộ khẩu tại xã trong vài năm gần đây.
Là xã vùng sâu vùng xa của Huyện, đường xá chủ yếu là đường
đất hay sạt lở về mùa mưa, đời sống kinh tế còn khó khăn, trình độ dân trí thấp,
sự giao thoa tiếp biến văn hoá diễn ra chậm nên hiện nay nhiều phong tục tập quán
phong phú độc đáo của nhân dân các dân tộc trên địa bàn Xã vẫn được lưu giữ bảo
tồn, đặc biệt là một số những phong tục tập quán
Nhìn chung, giữa các gia đình và giữa các dân tộc sinh sống trên địa bàn Xã
có mối quan hệ cộng đồng hài hoà, tương trợ. Tìm hiểu lịch sử phát triển của nhóm
người Cờ Lao xã Túng Sán cho thấy cuộc sống du canh du cư đã theo suốt chiều dài
lịch sử của họ. Cuộc sống du canh du cư nay đây mai đó, sống phụ thuộc vào thiên
nhiên đã bó chặt các cá nhân trong cộng đồng (làng bản, họ tộc) vào một mối và
tập trung quyền lực vào các trưởng họ hoặc thầy cúng - Là những người được coi
là có quyền năng và sức mạnh khác người. Đặc biệt, dù sinh sống ở các thôn bản
khác nhau nhưng nhóm người Cờ Lao xã Túng Sán đều thờ chung một nhân vật Hoàng
Vần Thùng (Tức Hoàng Văn Đồng). Qua
nghiên cứu các ghi chép cũng như các bài cúng của các thầy cúng cũng như trong
tâm thức của người Cờ Lao xã Túng Sán thì Hoàng Vần Thùng là người có công lớn
trong quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của cộng đồng người Cờ Lao ở
xã Túng Sán. Hiện nay, tại thôn Tà Chải xã Túng Sán vẫn có một ngôi miếu thờ nhân
vật này và được mọi gia đình người Cờ Lao tổ chức cúng tế vào dịp tháng 7 âm lịch
hàng năm với quy mô cộng đồng. Có thể nói, lễ cúng Hoàng Vần Thùng là một trong
những biểu hiện rõ nét nhất về tính cố kết cộng đồng và ý thức về nguồn cội của nhóm người Cờ Lao xã Túng Sán. Về vấn
đề này sẽ được đề cập chi tiết hơn ở phần sau.
III. VỀ TÊN GỌI, LỊCH SỬ TỘC NGƯỜI.
Theo nhà nghiên cứu
dân tộc học Nguyễn Văn Huy - viện dân tộc học Việt Nam cùng một số tài liệu ghi
chép hiện còn lưu trữ trong các hộ gia đình người Cờ Lao, đặc biệt là các bài cúng,
các bài hát dân ca cổ được các nghệ nhân dân gian hiện sống tại các thôn Tà Chải,
Khu Trù Sán, Phìn Sư xã Túng Sán thì người Cờ Lao gồm các nhóm: Cờ Lao đỏ, Cờ
Lao xanh, Cờ Lao trắng. Nhóm Cờ Lao tại xã Túng Sán huyện Hoàng Su Phì là thuộc
nhóm Cờ Lao đỏ. Cách gọi như trên căn cứ theo trang phục cổ của người Cờ Lao.
Trước đây phụ nữ Cờ Lao thường mặc váy đỏ được may một ống theo kiểu trang phục
của phụ nữ dân tộc Pà Thẻn với gam màu chủ đạo là màu đỏ. Ngày nay, trang phục
váy của phụ nữ Cờ Lao hầu như không còn được sử dụng mà thay vào đó bằng chiếc
quần hai ống may theo kiểu của phụ nữ dân tộc Tày ngày nay (**************).
Về tên gọi của tộc
người: Người Cờ Lao xã Túng Sán thường tự gọi là “Kề Lao” theo phiên âm Hán ngữ
là “Kưa Lảo” tức là Ngật Lão. Về ngôn ngữ: Người Cờ Lao xã Túng Sán thuộc nhóm
ngôn ngữ Ka đai.
Về nguồn gốc của người Cờ
Lao nói chung và người Cờ Lao xã Túng Sán nói riêng đã được đề cập nhiều trong
thư tịch cổ và các tài liệu ghi chép, đặc biệt là các chi tiết từ cuốn gia phả
của gia tộc ông Min Hùng Sài cũng như những bài cúng của các thầy cúng trong những
dịp lễ tết. Hầu hết các tài liệu đều cho thấy rằng các họ người Cờ Lao xã Túng
Sán đều có nguồn gốc từ tỉnh Quý Châu Trung Quốc, vào cuối thế kỷ 19 do chiến
tranh liên tục xảy ra, do đó làm mất mùa, đất đai bạc màu nên vua thời Đồng trị
thứ 3 đã đồng ý cho phép các tộc họ người Cờ Lao đi các nơi để kiếm sống, lập
nghiệp. Quá trình thiên di được diễn ra thành nhiều đợt. Dẫn đầu đoàn người thiên
di sang định cư ở xã Túng Sán khi đó là một người đàn ông tên là Chảo Lù Chín với
07 hộ gia đình xuất phát từ Quý Châu của 07 họ: họ Trảo, họ Min, họ Sú, họ Cáo,
Họ Giàng, họ Ly, họ Vương. Riêng ở Hoàng Su Phì, người Cờ Lao chỉ sinh sống tập
trung tại địa bàn xã Túng Sán huyện Hoàng Su Phì từ đó đến nay, song trong quá
trình tồn tại mấy trăm năm đến nay chỉ còn lại 05 họ, hai họ là họ Hồ và Họ Giàng
không còn tồn tại, nguyên do bởi trong đoàn người thiên di lúc đó chỉ có một người
họ Ly và một người họ Giàng. Do số lượng ít, con cháu không phát triển và nhiều
nguyên nhân khác nên đến nay họ Ly đã tuyệt tự, còn họ Giàng hiện chỉ có một người
là cụ bà Giàng Thị Tỷ 73 tuổi sinh sống tại thôn Khu Trù Sán là người cuối cùng
thuộc họ Giàng còn tồn tại. Như vậy hiện nhóm Cờ Lao tại xã Túng Sán hiện nay
chỉ còn tồn tại 06 họ đó là: họ Trảo, họ Min, họ Sú, họ Cáo, họ Vương còn họ Giàng
có thể coi như đã tuyệt tự.
Mặc dù ý thức về nguồn gốc
tộc người đã có phần mờ nhạt do thời gian và những biến động trải dài trong suốt
quá trình tồn tại sau quá trình thiên di đầy gian khổ nhưng trong tiềm thức của
người Cờ Lao nói chung vẫn còn lưu trữ những dấu vết về cội nguồn. Biểu hiện rõ
nét nhất là trong các bài cúng trong tang lễ có chi tiết đưa hồn người chết về
Quý Châu - tức là nơi phát tích của người Cờ Lao, hoặc trong một số bài dân ca cổ cũng nhắc đến chi tiết này. Tuy nhiên
hiện nay hầu hết thanh thiếu niên người Cờ Lao đều không nhớ đến nguồn gốc tổ
tiên mà chỉ có những người già nhất là những thầy cúng là nhớ rõ hơn cả.
VI. CẤU TRÚC TỔ CHỨC TỘC HỌ, LÀNG BẢN
Do địa hình tương đối
biệt lập, sự giao thoa văn hoá diễn ra chủ yếu giữa các dân tộc cùng sinh sống
trên địa bàn nên nhiều năm qua cấu trúc tộc họ của người Cờ Lao ở xã Túng Sán
huyện Hoàng Su Phì nhìn chung không biến đổi. Hiện nay, tại xã Túng Sán huyện
Hoàng Su Phì nhóm Cờ Lao gồm 04 họ là: Họ Min: 24 hộ, họ Sú: 13 hộ, họ Cáo: 9 hộ,
họ Vàng (Hay còn gọi là họ Vương): 5
hộ.
Mặc dù có sự phân
chia về tộc họ nhưng
Về tổ chức làng bản,
trong các thôn còn có Già làng là người có uy tín giải quyết những khúc mắc của
cộng đồng người và là người có quan hệ rộng rãi, hiểu biết với những dân tộc khác,
đồng thời có quyền giải quyết các việc liên quan đến đời sống tinh thần của cộng
đồng như: cưới xin, ma chay, tranh chấp, mâu thuẫn cá nhân... Ngoài ra trong cộng đồng người Cờ Lao xã Túng
Sán còn có các thầy cúng cũng là người có uy tín được nhân dân tôn trọng và thường
đến xin ý kiến tham khảo khi có công to việc lớn.
Trong đời sống xã hội
của người Cờ Lao vẫn còn một số luật lệ, tập tục được cộng đồng tộc người quy ước
bất thành văn như: khi một gia đình trong thôn có việc lớn như tang ma, cưới hỏi,
tế lễ thì các gia đình thuộc dòng họ, hay trong thôn bản phải đến giúp đỡ bằng
vật chất như (rượu, gạo, gà, thịt...) và sức lao động, hoặc quan hệ nam nữ trước
hôn nhân bị phát hiện thì đưa ra dòng họ hay già làng giải quyết.
Do đặc điểm và thói
quen sống quần cư nên người Cờ lao xã Túng Sán huyện Hoàng Su Phì sống theo làng
bản, mặc dù vậy trong các làng bản của người Cờ Lao vẫn có một số dân tộc khác
sống đan xen với một tỷ lệ nhỏ, trong đó chủ yếu là dân tộc Mông và dân tộc Dao
tiểu bản (Còn gọi là dân tộc Dao áo dài).
Điều đó đã tạo nên sự giao thoa văn hoá giữa các dân tộc với nhau, thể hiện qua
sự biến điệu, pha trộn về ngôn ngữ, trang phục, phong tục tập quán và một số lễ
thức văn hoá dân gian truyền thống. Điều này sẽ được đề cập ở phần sau.
Chương 2
ĐẶC TRƯNG VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI CỜ LAO XÃ TÚNG SÁN HUYỆN HOÀNG SU
PHÌ.
1. Tập quán canh tác.
Có thể nói, người Cờ Lao là một trong những dân tộc có trình
độ canh tác trên đất dốc đạt ở mức cao, những năm trước đây, nhân dân các dân tộc
trong xã Túng Sán chỉ gieo trồng mỗi năm một vụ lúa trong đó chủ yếu là giống lúa
địa phương dài ngày. Ngay sau khi gặt xong, người Cờ Lao tháo ruộng cho khô hết
nước rồi cày ải và phơi khô đất trong vài tháng. Vào tháng tư âm lịch hàng năm,
sau khi những cơn mưa đầu mùa bắt đầu trút xuống thì vụ gieo trồng mới chính thức
được bắt đầu, trước tiên, người ta tháo nước từ những khe suối hoặc ngăn bờ để
tích trữ nước mưa sao cho ngập hết các luống cày, sau lấy cày dùng trâu hoặc bò
cày lại những thửa ruộng
2.1. Trang phục.
2.1.1. Về chất liệu:
Trước đây, chất liệu
vải để may quần áo và các vật dụng đi kèm của người Cờ Lao được nhân dân tự dệt
bằng lanh hoặc sợi bông do nhân dân tự trồng sau đó đem nhuộm bằng nhựa củ nâu
và lá chàm. Ở mỗi gia đình đều có những chiếc xa để quay sợi lanh, một hoặc hai
chiếc khung cửi. Do đất đai màu mỡ, khí hậu ẩm thấp nhưng thời gian gần đây được
dệt bằng sợi nhập khẩu từ Trung Quốc, còn đối với phụ nữ được may bằng vải láng
Trung Quốc, có màu xanh dương, quần đen. Khăn đội đầu được thay bằng khăn len
nhiều màu có từng ô vuông màu xanh hoặc màu đỏ của Trung Quốc. Tuy nhiên về kiểu
giáng và hình thức trang phục của cả nam và nữ vẫn được giữ nguyên.
2.1.1. Trang phục nam cổ truyền
Về kiểu dáng áo: Người
Cờ Lao xã Túng Sán từ trước đến nay hầu hết đều mặc trang phục truyền thống do
nhân dân tự may. Trong đó đặc trưng nổi bật nhất của trang phục nam giới là áo
4 thân dài đến ngang mông, mở đằng trước, khuy bằng vải, cổ đứng, cáo có 3 túi
(1 túi ngực, 2 túi ở 2 bên vạt áo) áo chủ yếu đều khâu bằng vải đen, chất liệu
vải mộc nhuộm bằng lá chàm.
Kiểu dáng quần: quần
chân què lá toạ, không có cạp. Quần chủ yếu được thắt bằng thắt lưng. May cùng
chất liệu với vải áo.
2.1.2. Trang phục nữ cổ truyền.
Kiểu dáng áo: chất
liệu may bằng vải mộc tự dệt, nhuộm màu đen. áo may dài đến đầu gối, 4 thân, tà
xẻ dài 2 bên hông, cổ đứng, áo cài cúc chéo sang bên nách phải. Phần trên ngực áo
được trang trí vòng tròn trước, sau bằng những khoanh vải có màu sắc đẹp. 2 ống
tay áo được may đáp bằng một mảnh vải hoa rộng khoảng 2 cm hoặc có khâu nảy các
nét chỉ màu, cách gấu áo 3 - 5cm.
Kiểu dáng quần: Quần
màu đen thuộc loại quần chân què toạ. Hiện nay hầu hết phụ nữ dân tộc Cờ Lao xã
Tùng Sán vẫn mặc theo xu hướng này.
Theo lời ông Min Hùng
Diu thôn Tà Chài xã Túng Sán thì trước đây phụ nữ Cờ Lao dưới 40 tuổi thì mặc
trang phục như đã nêu trên, đối với những phụ nữ trên 40 tuổi mặc như sau:
+ Áo: may như đã nêu
trên nhưng không thêu hoặc không trang trí gì thêm, Về màu sắc: Chỉ có một màu đen.
+ Váy: Dệt bằng lông
cừu có 2 lớp: lớp trong màu đen, lớp ngoài trang trí màu đỏ xen màu đen, có 3 đoạn
màu đỏ. Váy rời, chun xoè phần dưới.
2.1.3 Các vật dụng đi kèm:
+ Mũ: Dành cho nam
giới:
Mũ khâu bằng vải mộc,
màu đen khâu 6 mảnh phía trong lót giấy bản.
+ Khăn: Phụ nữ có 2
loại khăn gồm:
- Khăn quấn tóc: dài
khoảng 1 - 1,5m rộng 20 cm, màu đen dùng để cuốn tóc phía trong vòng quanh đầu.
- Khăn đội đầu: hình
vuông mỗi chiều khoảng 50cm, gấp chéo, khâu xung quanh bằng chỉ màu phủ bên ngoài
khăn cuốn tóc.
+ Giày: dày mộc tự
khâu, mũi tròn, lót bằng mo cây tre mai hoặc bằng giấy bìa tốt. Hiện nay thường
đi dép nhựa hoặc dày Trung quốc.
+ Yếm: trước kia phụ
nữ Cờ Lao thường đeo 1 tấm yếm trước ngực yếm đeo bằng dây bạc vòng qua cổ và
ngang thắt lưng. Bên ngoài yếu có hoa văn hình xoáy trôn ốc ở 2 bên, các nét
hoa văn màu xanh ngọc, màu đỏ, màu trắng.
+ Áo mặc trong: thường
là chiếc áo may bó sát người màu đỏ, cúc cài chéo sang nách phải, dài ngang mông,
khi mặc thường để hở gấu áo ở phần xẻ tà của chiếc áo dài.
+ Tấm che: là 1 mảnh
vải có chiều rộng 50 - 55cm, dài 60cm xung quanh có viền hoa văn vải hoa hoặc
thêu đơn giản. Phía trên khâu liền với 1 mảnh vải dài khoảng 2m. Dùng để buộc
ngang lưng, tấm che này dùng để che đi phần mông. Tiếng Cờ Lao gọi là “gùi déo”.
Khi buộc 2 đầu của đai thắt ra phía sau.
+ Đồ trang sức: người
Cờ Lao thường đeo nhẫn, vòng tay, dây đeo chìa khoá và bật lửa thường làm bằng
nhôm trắng, săng săng, hợp kim đồng... và một số ít làm bằng bạc.
+ Túi: được khâu rộng
khoảng 20cm2 có quay đeo dài khoảng 1m túi có trang trí bằng những nét
hoa văn giữa túi và 2 góc được trang trí bằng cách buộc các sợi len màu hoặc các
loại hột hạt nhiều màu sắc.
Hiện nay nói chung
người phụ nữ vẫn chủ yếu sử dụng trang phục truyền thống. Riêng nam giới có một
số sử dụng trang phục người Việt. Song, đối với phụ nữ mặc trang phục truyền thống
là thể hiện sự khéo léo giỏi giang của phụ nữ, có cũng là tiêu chí để đánh giá
phẩm chất của họ.
2.2. Đặc trưng về nhà ở
2.2.1 Đặc điểm chung về nhà ở:
Nhà ở của người Cờ Lao là loại nhà đất, có cấu
trúc 3 gian 2 trái, mái thấp lợp gianh hoặc bằng móng vầu, vách đan bằng tre hoặc
vầu. Bếp nấu chung trong nhà. Các ngôi nhà đều có 2 cửa ra vào, một cửa chính mở
ở gian giữa, cửa phụ mở bên hồi trái nhà.
Nhà ở của người Cờ
Lao thường chọn địa điểm dựng tại ven các lũng khô, tựa lưng vào triền đồi. Thường
ở tập trung vào từng xóm nhỏ phân theo các dòng họ.
2.2.2 Vật liệu dựng nhà:
Nhà ở của người Cờ
Lao làm bằng cột gỗ rừng, mái lợp bằng cỏ gianh hoặc cây vầu bổ đôi, tường trình
bằng đất cao khoảng 1 m, phía trên bưng bằng gỗ hoặc tre, vầu, rào xung quanh
nhà bằng vách vầu. Hiện nay, thưck hiện chính sách hỗ trợ của Nhà nước, hầu hết
các gia đình hầu hết đã lợp bằng tấm Phipro xi măng, biết ghép ván xung quanh
nhà, song về cơ bản vẫn giữ nguyên hình giáng của ngôi nhà truyền thống.
2.2.3 Hướng nhà:
Hướng nhà phải
đảm bảo thuận tiện trong sinh hoạt như gần nguồn nước, gần ruộng nương, nhà dựng
thế lưng dựa vào núi, phía trước hướng ra ruộng hoặc suối nhưng không được nhìn thẳng vào vách sau của nhà trước.
2.2.4 Cấu trúc và quy mô nhà ở:
Nhà ở của người Cờ Lao xã Túng Sán có chung một
cấu trúc như sau:
+ Bốn vì cột
chính, mỗi vì 5 cột gồm 2 cột cái cao 5 m, 2 cột con cao 4 - 4,2m, 1 cột quân phía trong cùng cao 2,2 -
2,5 m, tại vị trí 2,2 m (Tức tầm đỉnh cột
quân phía trong cùng) có lỗ đục xuyên hình chữ nhật kích thước 5 x 20 cm
theo chiều cột để luồn xà nối các cột với nhau. Khoảng cách giữa các cột từ 1,5
– 2,2m.
+ 2 vì phụ đầu
hồi: mỗi vì 5 cột, cao 2,2 - 2,5 m, kèo và dui gác chéo hình tam giác lên vì kèo
chính.
+ Hệ thống cột
hình vuông, gồm 5 hàng song song, khoảng cách giữa các cột 2 - 2,3 m. Tại vị trí
2,4 - 2,6 cm phía trên cột có đục lỗ kích thước 5 x 25 cm để luồn xà nối hệ thống
cột với nhau.
2.2.5 Bếp:
Bếp của người
Cờ Lao xã Túng Sán thường đặt 1 bếp chính ở giữa gian bên trái, (Nhìn từ trong ra) đây là nơi sinh hoạt
chung của cả gia đình và cũng là nơi tiếp khách. Còn 1 bếp phụ thường ở gian đầu
hồi chái phía bên phải nhà cạnh 1 bếp lò (dùng để nấu cám hoặc nấu rượu).
2.2.6 Vị trí nguồn nước, giếng, sân, vườn, ao, chuồng gia
súc, gia cầm.
- Hầu hết người
Cờ Lao của xã Túng Sán không dùng nước giếng mà thường dùng nước lấy từ các khe
suối, mạch ngầm dẫn nước đến nhà bằng máng vầu, nứa hoặc ống nhựa.
- Sân: các
gia đình thường có 1 khoảng sân ở đầu hồi rộng khoảng 30 - 40m2.
- Chuồng gia
súc - gia cầm: thường cùng phía với đầu bếp cho tiện việc đi lại chăm sóc.
2.2.7 Những tập quán, kiêng kỵ liên quan đến nhà ở:
Người Cờ Lao
xã Túng Sán có rất nhiều kiêng kỵ chủ yếu liên quan đến cuộc sống trong sinh hoạt
hàng ngày. Riêng về nhà ở có những kiêng kỵ sau:
+ Hướng nhà
không nhìn thẳng vào vách sau của nhà trước.
+ Bố chồng
không vào buồng con dâu.
+ Không được
ngồi ở ngưỡng cửa chính.
+ Không được
gõ vào bếp lửa.
+ Con dâu (khi
sinh mở dưới 1 tháng) không được đi ngang qua bàn thờ, không được ra vào cửa chính.
+ Trước khi
làm nhà phải xem tuổi, nếu phải năm hạn, tháng hạn thì không được làm nhà.
2.3. Đặc trưng về sinh hoạt ẩm thực
Trong bữa ăn hàng ngày,
người Cờ Lao xã Túng Sán thường dùng các loại thức ăn chủ yếu được chế biến từ
ngũ cốc hoặc được chế biến từ thực vật. Trong các dịp lễ tết hội hè thì có thêm
các món chế biến từ động vật. Trong bữa ăn hàng ngày họ thường dùng cơm độn thêm
ngô khoai sắn... thực phẩm chủ yếu là rau củ quả được khai thác từ rừng hoặc chăn
nuôi. Thịt cá là món ăn chỉ xuất hiện trên mâm cơm sau những phiên chợ hoặc khi
nhà có đám hiếu hỉ. Các món trứng thường được giành cho trẻ em và người già hoặc
sản phụ, người ốm. Để bổ xung nguồn đạm cho cơ thể, người Cờ Lao chủ yếu trồng
nhiều đậu tương và sau đó chế biến theo nhiều cách như: giá đỗ, đậu phụ, xay nhỏ
nấu canh...
2.3.1 Thức ăn chế biến từ ngũ cốc:
Gồm các món: Cơm
(khay mô), bánh chưng, bánh dày (bêu)
và ngô được đồ thành xôi như món mèn mén của người Mông (chủa mô) Cách chế biến:
Các món ăn hầu như chế biến giống các dân tộc khác. Riêng bánh dày có nhân bằng
hạt đậu đỏ (nấu chín dã nhuyễn) bánh chưng gói bằng lá rong có phần gù lên ở giữa,
có nhân bằng thịt lợn và đậu xanh thêm gia vị (hạt thảo quả).
2.3.2 Thức ăn chế biến từ thực vật:
Gồm các món:
Rau xào, luộc, nấu canh. Măng xào, luộc, hầm. Các loại củ, quả (củ từ, củ mài, su su, bí, đậu các loại...). Cách
chế biến: Các món ăn này chủ yếu là xào, nấu canh, luộc và ăn vào lúc nóng.
2.3.3 Thức ăn chế biến từ động vật:
Gồm các món:
Thịt gà (man khay ố), thịt lợn (cà khay ố), cá. Ngoài ra còn có các sản phẩm
chim thú săn bắn từ rừng. Cách chế biến: chủ yếu được chế biến thành các món xào,
nướng, nấu canh (thắng cố).
2.3.4 Thức uống:
Rượu (Ta),
chủ yếu là rượu tự chưng cất từ nguyên liệu: Sắn, rong riềng, ngô và các loại
ngũ cốc khác được nấu chín và ướp men lá cây do nhân dân tự chế biến và đưa vào
chum vại ủ từ 5 đến 7 ngày, sau đó chưng cất bằng chõ gỗ phía trên đặt một chậu
nước cho rượu ngưng tụ và chảy ra ngoài bằng một chiếc vòi.
2.3.5 Các loại gia vị dùng trong bữa ăn:
Gồm: gừng, ớt, tỏi, hành hạt tiêu, rau thơm...
trong đó thảo quả và ớt là những gia vị không thể thiếu trong bữa ăn của người
Cờ Lao đỏ thôn xã Túng Sán.
2.3.6 Phong cách ẩm thực:
- Nghi thức
bữa ăn: Bữa ăn của người Cờ Lao đỏ xã Túng Sán thường có 2 mâm hình tròn bằng gỗ
đẽo từ thân cây gỗ phía dưới có đế. Một mâm đặt ở gian chính giữa nhà giành cho
người cao tuổi và nam giới hoặc cho khách (Nếu
có), một mâm đặt ở gian cạnh giành cho phụ nữ và trẻ em. Nồi cơm được đặt
phía dưới bàn thờ ai ăn hết thì tự lấy. Khi ăn mọi người thường nhường nhau gắp
thức ăn.
Người Cờ Lao
đỏ rất kỵ khi gắp thức ăn nhưng đũa vẫn có cơm hoặc thức ăn.Khi có khách cùng ăn
cơm với gia đình thì khách ngồi gần gia chủ. Gia chủ thường xuyên gắp thức ăn
cho khách và mời khách ăn. Họ có tục ép cơm khi thấy bát cơm của khách gần hết
họ sẽ múc thêm 1 bát khác úp vào. Họ quan niệm ăn nhiều thức ăn, bát cơm càng đầy
mới thể hiện lòng hiếu khách.
2.4. Đặc trưng về tín ngưỡng
2.4.1 Quan niệm về vòng đời con người.
Theo quan niệm của
người Cờ Lao xã Túng Sán thì con người là một trong chuỗi mắt xích của vòng luân
hồi trong đó tất cả các loại ma (Cui)
đều có nguồn gốc từ con người, nói cách khác tất cả mọi người khi chết đều hoá
thành ma, khi chết đi con người phải được làm ma khô thì mới được lên bàn thờ và
trở về Quý Châu - tức là nơi phát tích của
người Cờ Lao để sau đó sẽ tiếp tục đầu thai vào một loại động vật khác, đến kiếp
thứ 9 lại đầu thai trở lại thành người, trong khi đó những kiếp đầu thai thành
con vật phải là con vật có lông tròn như: Lợn, chó, trâu, dê, ngựa… thì mới có
thể luân hồi thành con người, nếu đầu thai thành các giống vật có lông bẹp như:
Gà, vị, ngan, ngỗng… thì vĩnh viễn sẽ không được đầu thai thành người (Cách nhận biết điều này sẽ được mô tả cụ thể
ở phần tang chế). đồng thời họ cho rằng ma chính là hiện thân của con người
khi sống, con người nếu khi sống mà lành hiền khi chết sẽ là ma lành, nếu là phạm
nhân hay có tội thì khi chết sẽ thanh ma ác, nếu có tài năng đức độ, cứu dân độ
thế thì khi chết sẽ trở thành ma hộ mệnh cho con người. Khi tổ chức cúng tế, người
Cờ Lao xã Túng Sán có 2 nơi cúng tế cố định, đó là: Bàn thờ của các giá đình để
cúng ma tổ tiên vào các ngày cúng thanh minh, rằm tháng 7 âm lịch và tại miếu của
làng (Củng Miẻu) được tổ chức vào các
ngày từ mùng 1 đến 14 tháng 7 hàng năm là dịp cúng thần Hoàng Vần Thùng là nhân
vật được coi như Thành Hoàng của tộc người Cờ Lao, ngoài ra các gia đình còn cúng
thần nông ngoài ruộng vào tháng 6 âm lịch hàng năm.
2.4.2 Một số lễ thức cơ bản.
+ Cúng đưa người chết
lên bàn thờ chung với tổ tiên (Làm ma khô)
Người Cờ Lao cho rằng:
Con người sau khi chết thường chưa sạch sẽ nên phải có một thời gian nhất định
mới được ở chung với tổ tiên và phải làm bàn thờ riêng, đến đời thứ 3 mới được ở
chung, vì vậy phải làm lễ để tổ tiên nhận người chết về chung sống với tổ tiên.
Lễ cúng này thường được tổ chức vào tháng chạp hoặc tháng giêng tại gia đình có
người chết cách đó 3 năm. Trước khi tổ chức cúng tế, gia đình phải chuẩn bị các
lễ vật: Gồm: Thịt lợn, thịt gà luộc chín, bánh, hương, giấy bản. Trước khi tổ
chức cúng một ngày gia đình mời một thầy cúng đến. Lễ vật được sắp trên 2 bàn
thờ: bàn thờ tổ tiên và bàn thờ riêng của người chết để thầy cúng thông báo cho
tổ tiên và cho người chết từ nay sẽ lên bàn thờ cùng với tổ tiên. Trong bài cúng,
thầy cúng thông báo cho tổ tiên và người chết đến nay đã sạch sẽ, nay trở về với
tổ tiên trên bàn thờ chung. Cúng xong thầy cúng lấy từ mâm lễ vật mỗi thứ một ít
và một chiếc gậy cho vào chiếc gùi sau đó để lên chiếc cối xay ngô hoặc cối giã
gạo và địu vào lưng rồi đi ra ngoài sân hoặc đầu nhà để đốt hương và giấy bản
thông báo cho người chết từ nay được về thiên cung với tổ tiên, đồng thời cầu
mong người chết phù hộ cho con cháu. Sau khi cúng xong thầy cúng mang lễ vật vào
nhà cho gia chủ sắp mâm để cùng ăn uống.
+ Lễ cúng tại miếu
Thành Hoàng:
Theo truyền thuyết của
người Cờ Lao xã Túng Sán, Hoàng Vần Thùng (Tức
Hoàng Tiến Đồng - Thành hoàng của làng)
là một người có công khai thiên lập địa và giúp nhân dân trong vùng mở mang
khai khẩn, đánh đuổi thú dữ kẻ thù để giành lại cuộc sống bình yên cho dân làng.
Vì vậy Ông được coi như vị Thành Hoàng của các tộc họ người Cờ Lao. Để tưởng nhớ
công ơn của Ông, vào đầu tháng 7 âm lịch hàng năm các tộc họ người Cờ Lao lại tổ
chức cúng tế tại miếu Thành Hoàng được lập tại đỉnh núi cao nhất của dài Tây Côn
Lĩnh. Trước khi cúng tế khoảng 10 ngày, già làng hoặc trưởng bản đi thông báo
cho các trưởng họ về thời gian tổ chức cúng tế để các trưởng họ thông báo cho các
gia đình chuẩn bị lễ vật. Đây là một quy định bất thành văn nhưng khi tham gia
cúng tế mỗi gia đình trong làng đều góp từ 1 đến 2 kg gà hoặc thịt lợn, gạo, rượu,
rau cỏ… Khi đến giờ cúng thì thầy cúng lấy tất cả các con vật làm đồ tế lễ để cúng
sống (Hiến tế), trong số lễ vật được
hiến tế, thầy cúng chọn lấy ra một con lợn khoảng 30 kg đem mổ sống không cắt
tiết cạo lông để lấy ra bộ lòng và để cả con lợn cùng bộ lòng lên tàu lá chuối
rừng làm lễ vật cúng tế. Sau khi cúng xong bước thứ nhất, các lễ vật sống được đem
đi làm lông, nấu chín và sắp ra mâm và tiếp tục cúng. Cuối cùng tất cả mọi người
cùng tổ chức ăn uống tại miếu, số còn lại được chia đều cho các gia đình lấy phần
mang về nhà.
+ Tang chế
Người Cờ Lao xã Túng
Sán cho rằng chết là một quy luật tất yếu của vòng luân hồi bởi họ cho rằng con
người khi sống có 3 hồn và 7 vía chi phối và do Nhiều Goắng (Tức Nam Tào) cai quản bằng một cuốn sổ và
mỗi buổi sáng Nhiều Goắng lại rà soát kiểm tra cuốn sổ này một lần, khi Nhiều
Goắng gạch tên một người nào đó trong cuốn sổ thì người đó sẽ chết và trở về Quý
Châu - tức nơi phát tích của người Cờ Lao sau đó sẽ đầu thai thành các loài vật,
cuối cùng lại trở lại thành người, đồng thời họ cho rằng nếu người chết đủ 12
tuổi trở lên và đầu thai thành con vật lông tròn (Con trâu, chó, dê, bò, lợn…) thì sau 9 kiếp luân hồi mới đầu thai
thành người, ngược lại nếu đầu thai thành con vật lông bẹp thì vĩnh viễn chỉ đầu
thai thành loài vật.
Thông thường, khi
trong nhà có người già thì gia đình thường chuẩn bị sẵn một bộ áo quan (Gọi là Sẩu mù hoặc Pan txư) và tìm nơi sẽ
chôn người chết. Khi chết, gia đình lấy một tấm vải mộc dài từ 1,5 đến 3 m đậy
lên người chết làm chăn và tắm rửa sau đó mặc cho người chết một bộ quần áo, dày
dép, gối mới rồi mới cho vào quan tài. Áo quan được đặt ngay dưới bàn thờ đầu
quay vào trong, đồng thời cử một người làm chủ tế - Thường là người biết phong
tục và ứng xử tốt.
Ngay sau khi khâm niệm
xong thì phát tang, tất cả những người anh em con cháu họ mạc đều được phát
tang là một mảnh vải mộc màu trắng. Riêng con dâu và con gái thì mặc bộ quần áo
trắng bằng vải mộc. Sau đó gia đình cho treo mảnh vải mộc dùng làm chăn lên một
cành tre hoặc trúc cao bằng chiều dài tấm vải như cành phướn để đốt và theo dõi:
Nếu vòng lửa có hình con vật gì thì người đó sẽ đầu thai thành con vật đó, đây
cũng là cách người Cờ Lao nhận biết xem kiếp sau người đó có được đầu thai thành
người hay không như đã nêu ở phần trên.
Cùng với việc tổ chức
khâm niệm cho người chết thì gia đình cử người mang hai chai rượu đi đón hai thầy
cúng (Gọi là Máu cúng) trong đó một
thầy chuyên cúng trong nhà và một thầy chuyên cúng trên đường đưa người chết ra
huyệt mộ. Khi nhận được lời mời, các thầy cúng thắp hương xin phép tổ tiên và
mang theo một chiếc quạt để làm phép, hai mảnh gỗ hoặc sừng trâu để xin âm dương
đến nhà người chết, riêng thầy cúng mở đường - tức thầy cúng trên đường đưa người
chết ra huyệt mộ thì mang theo một chiếc lưỡi cày.
Khi đến nơi thầy cúng
dẫn đường trèo lên nóc nhà và mở quạt ra để phù phép và ném chiếc lưỡi cày xuống
trước cửa để cúng mở đường cho người chết rồi đọc thần chú và hú to một tiếng,
lúc này thầy cúng trong nhà hú đáp lại một tiếng, khi nghe tiếng hú của thấy cúng
đang ở trong nhà thì thầy cúng mở đường mới xuống đất và mới được vào trong nhà.
Ngay khi khâm niệm
xong thì liên tục thổi kèn (Xa lá), đánh trống (Cu), riêng chiếc chiêng (Xoa)
thì chỉ dùng sau khi thầy cúng trên nóc nhà cúng mở đường xong và ném chiếc lưỡi
cày xuống đất và các thầy cúng tổ chức cúng tế dài từ 120 đến 160 phút nội dung
kể lại quá trình hình thành con người vũ trụ và trời đất; thông báo với tổ tiên
về người chết và đưa hồn người chết về Quý Châu.
Khi đến giờ đưa người
chết ra huyệt mộ - Thời gian do thầy cúng
ấn định bằng cách xem tuổi người chết thì thấy cúng dùng búa đinh gõ vào nắp áo
quan và gọi hồn người chết dậy và cho bạn bè hàng xóm dùng tay khiêng quan tài
ra cửa để buộc đòn khiêng, trong khi đó các con cháu chui qua gầm áo quan làm
thủ tục bắc cầu cho người chết về với tổ tiên. Sau khi chuyển quan tài ra khỏi
cửa thì các thủ tục cúng tế diễn ra bên ngoài đều do thầy cúng dẫn đường thực
hiện.
Khi đến chỗ chôn, mọi
người đặt quan tại xuống đợi thầy cúng tìm chính xác chỗ sẽ chôn người chết.
Khi tìm được, thầy cúng phù phép và bổ nhát cuốc đầu tiên sau đó cắm cọc để định
vị Tiếp theo, mọi người mới tham gia đào huyệt sâu khoảng 1m.
Khi đào huyệt xong,
thầy cúng nhảy xuống huyệt và ngăn thành 3 ngăn rồi dải gạo xuống, sau đó bỏ xuống
một con gà và theo dõi, nếu con gà đó ăn gạo thì sau khi hoá kiếp người chết sẽ
giàu có, ngược lại nếu con gà không ăn mà chạy hoặc bay đi thì kiếp sau người
chết sẽ nghèo khổ.
Sau khi tiến hành các
thủ tục trên thì thầy cúng cho mọi người đưa quan tài xuống huyệt, sau khi định
vị đúng hướng thầy cúng hô con cháu lấy tay vòng ra sau lưng bốc đất và đi vòng
quanh huyệt thả đất xuống để lợp nhà cho người chết, cuối cùng cho thanh niên
trai tráng lấp đất cao khoảng 60 - 70 cm và xếp đá xung quanh huyệt thành các vòng
tròn trồng lên nhau cứ mỗi vòng tương ứng với 10 tuổi của người chết và để lại
một vòng cuối cùng (Ví dụ: Người chết là
55 tuổi thì tương đương với 6 vòng) Chôn xong mọi người về nhà ăn uống để
chủ nhà cảm ơn mọi người.
Đến ngày thứ 3 sau
khi chôn con cháu trong gia đình tổ chức cúng 3 ngày cho người chết và xếp lượt
đá cuối cùng vào huyệt, đến 9 hoặc 10 giờ trưa cùng ngày lấy tro bếp sàng thành
một đống ở chỗ để quan tài người chết và quây kín lại sáng hôm sau mở ra xem trên
đống tro có dấu chân con gì, nếu đầu thai thành con vật lông tròn (Con trâu, chó, dê, bò, lợn…) thì sau này
mới đầu thai thành người, ngược lại nếu đầu thai thành con vật lông bẹp thì vĩnh
viễn chỉ đầu thai thành loài vật như đã trình bày ở phần trên.
Sau khi chôn xong
gia đình lập một bàn thờ riêng cho người chết bàn thờ này được lập ở góc phía bên
trái gian chính giữa, hàng ngày gia đình tổ chức cúng cơm cho người chết, cứ 7
ngày mổ một con gà để cúng và đến 49 ngày, 100 ngày thì cúng to sau đó làm bàn
thờ riêng hàng năm đều tổ chức cúng dỗ, đến đời thứ 3 mới được con cháu đưa lên
bàn thờ để thờ chung với tổ tiên. Đối với những người chết sau khi đủ 12 tuổi
trở lên thì trong thời gian này khi nào gia đình có điều kiện thì làm ma khô.
+ Tục lệ cưới hỏi.
Người Cờ Lao xã Túng Sán cho rằng cưới hỏi là điều kiện để duy trì nòi giống, việc
làm bắt buộc của mỗi người khi đến tuổi trưởng thành. Sau khi có sự thống nhất
của đôi trai gái (Một số do cha mẹ hai bên
chọn lựa hoặc do mai mối) thì nhà trai cho người đến hỏi ý kiến bố mẹ nhà gái
thành phần gồm có: bố mẹ, chú rể và bà mối (Nếu
nhờ người mối mai), khi đi mang theo
một bao thuốc lá hoặc một bó thuốc lá tự trồng. Sau khi gia đình nhà
trai đặt vấn đề với nhà gái thì bố mẹ cô gái gọi con gái đến và hỏi ý kiến trực
tiếp, nếu cô gái đồng ý thì nhà gái cho phép nhà trai được tiến hành các bước
tiếp theo trong đó điều quan trọng nhất là thống nhất thời gian nhà trai đến ăn
hỏi chạm ngõ.
Đến ngày ăn hỏi như
hai nhà đã thống nhất tại buổi mối mai, Nhà trai mang khoảng 5 kg gà và 5 ống gạo
đến nhà gái để ăn hỏi. Thành phần gồm có: Bố mẹ, chú rể và một thành viên trong
gia đình (Thường là em gái chú rể).
Khi đến nhà gái, nhà trai tự mổ gà nấu cơm cùng nhà gái ăn cơm vừa ăn vừa bàn
thời gian tổ chức đám cưới và các lễ vật nhà trai phải đem đến nhà gái trong ngày
cưới. (Bữa cơm này có cả anh em chú bác
nhà gái đến dự và bàn bạc) và sau bữa cơm này thì đôi trai gái đẫ được coi
như là vợ chồng.
Trước ngày cưới một
ngày nhà trai thành lập một đoàn gồm 10 đến 15 người trong đó bà mối làm trưởng
đoàn (Nếu không có bà mối thì chú ruột hoặc
một người trong họ tộc có khả năng giao tiếp làm trưởng đoàn) để mang lễ vật
đến nhà gái làm thủ tục xin dâu. Thành phần này không có chú rể hoặc bố mẹ chú
rể. Lễ vật thường gồm: Gạo, thịt lợn mỗi thứ 30 - 40 kg, rượu 30 chai, 2 đến 5
bộ quần áo mới cho cô dâu và một con trâu nghé (Nếu không có trâu thì được tính bằng 15 - 16 đồng bạc già). Khi đoàn
đón dâu đến nhà gái thì tổ chức giao lễ vật và trao lá thư viết trên tờ giấy đỏ
của bố mẹ chú rể nội dung thống nhất thời gian
mà cô dâu phải có mặt tại nhà trai để nhà gái tính toàn thời gian đưa dâu
cho khớp, đồng thời ngủ lại một đêm tại nhà gái để ăn uống, hát hò… Sau bữa cơm
tối, bà mối thắp hương cắm lên bàn thờ nhà gái và vái 3 vái, sau đó đến lượt cô
dâu thắp hương và vái tổ tiên, vái xong cô dâu rót lần lượt 4 chén rượu hoặc trà
pha đường để bố mẹ cô dâu đi mời khách dự lễ cưới theo thứ tự từ vai vế và tuổi
tác trên xuống dưới, sau đó đến lượt cô dâu đi mời và xin bố mẹ ông bà chú bác
dạy bảo lần cuối trước khi về nhà chồng đồng thời nhận tặng phẩm của mọi người
cho cô dâu nhiều ít tuỳ lòng mỗi người.
Đến hôm sau, đoàn đón
dâu đón cô dâu về nhà trai. Trên đường đi về nhà chồng, cô dâu được phù dâu che
bằng một chiếc ô phía trên có bọc một lớp vải màu đỏ.
Khi đoàn đưa dâu sắp
về đến cửa thì thầy cúng sắp một mâm gồm một chai rượu, 3 chiếc chén, 3 nén hương
và một con gà trống để cúng đuổi tà ma theo cô dâu, sau đó cắt tiết con gà và ném
ra xa. (Hai vợ chồng mới cưới không được ăn
thịt con gà này).
Sau khi thầy cúng làm
lễ đuổi tà xong thì cô dâu được vào nhà và chủ nhà - Thường là bố đẻ chủ rể -
thắp hương cho con trai vái tổ tiên trong khi cô dâu ngồi bên cạnh (Vị trí ngồi của cô dâu căn cứ theo tuổi, nếu
hợp hướng nào thì ngồi về hướng đó).
Sau khi chú rể vái tổ
tiên xong thì cô dâu được phù dâu và bà mối đưa vào buồng nhận buồng cưới. Ngay
sau đó các hoạt động ăn uống hát hò được diễn ra và kéo dài đến tối, Trong lúc ăn
mọi người thường hát những bài hát truyền thống như: Lương Sơn Bá - Trúc Anh đài;
Sáng cố (Kể về nguồn gốc loài người)… và các bài hát đối được ứng tác tại mâm rượu.
Lúc này bà mối thắp hương cắm lên bàn thờ và vái 3 lần, sau đó chú rể thắp hương
và vái tổ tiên rồi rót lần lượt 4 chén rượu hoặc trà pha đường để bố mẹ chủ rể đi
mời khách dự lễ cưới theo thứ tự vai vế và tuổi tác từ trên xuống dưới, sau đó đến
lượt chú rể cùng cô dâu đi mời và xin bố mẹ ông bà chú bác dạy bảo những điều
hay lẽ phải và nhận tặng phẩm của mọi người cho đôi trai gái nhiều ít tuỳ lòng
mỗi người.
+ Đặc trưng về tục lệ
trong sinh nở
Cũng giống như các dân tộc khác, người Cờ Lao cho rằng việc
sinh con là trách nhiệm và bổn phận của người phụ nữ. Việc đứa trẻ chào đời là
niềm vui, là sự kiện quan trọng của gia đình đặc biệt là sinh con trai. Khi
mang thai, người phụ nữ khi mang thai không được bước qua dây thừng buộc trâu bò,
không ăn thịt gà già, thịt ngan, vịt, khi sinh không được đi qua cửa chính, không
được bước qua trước bàn thờ. Trước khi người phụ nữ sinh từ 1 tháng hoặc 20 ngày
thì gia đình cho mời thầy cúng đến cúng ma để đẻ đúng thời gian, nếu đã đến ngày
sinh mà vần chưa trở dạ thì lại phải mời thầy cúng đến và mổ một con gà luộc lên
sau đó xem chân gà để biết nguyên nhân để cúng. Các thành viên nữ trong gia đình
và mẹ chồng chuẩn bị quần áo tã lót cho đứa trẻ, khoảng 10 ngày trước khi sinh
bà mẹ chồng phải nấu một nồi cơm nếp để ủ men làm rượu cho sản phụ ăn sau khi đẻ
10 ngày. Đồng thời đón một thầy thuốc và một bà đỡ để giúp sản phụ trong quá trình
sinh nở.
Khi sản phụ sinh, bà
đỡ cắt rốn và chuyển cho người mẹ đỡ đứa trẻ, nếu vì lý do nào đó mà sản phụ không
bế được (tàn tật, ngất xỉu… thì mẹ chồng
là người đỡ đứa trẻ). Sau khi cắt rốn, rau thai được chôn ngay tại phòng đẻ,
nếu trong thời gian từ khi sinh ra đến khi được 3 tháng tuổi mà đứa trẻ ốm hoặc
có rôm xảy thì gia đình đun một nồi nước sôi và đổ vào chỗ chôn rau thai để chữa
bệnh cho đứa trẻ.
Sau khi sinh được 3
ngày thì gia đình mời thầy cúng làm lễ mời đặt tên cho đứa trẻ (Củng Hoá Nhẳng - Tức cúng Hoa Nương là bà mụ
phù hộ cho đứa trẻ). Đồ cúng gồm hai con gà một con trống, một con mái và cơm
xôi, nếu trong ngày thứ 3 mà có người không phải thành viên trong gia đình đến
nhà chơi một cách tình cờ thì nhờ người đó (Người
đến nhà đầu tiên) đặt tên và nhận làm bố hoặc mẹ nuôi. Một tháng sau khi
sinh nếu trẻ khóc nhiều thì lại mời thầy cúng đến cúng lại và đun nước sôi đổ vào
chỗ chôn rau thai như đã nêu trên.
Việc đặt tên đệm cho
trẻ của người Cờ Lao thường theo chu kỳ (Sào,
Si Vần, Sử, Phà, Phủ, Tráng, Hùng, Pờ…) trong khi đó chu kỳ dài hay ngắn lại
căn cứ theo họ. Ví dụ: Họ Min thì chu kỳ này là 12, họ Cáo chu kỳ là 24… sau đó
lặp lại tên đệm đầu tiên.
2.5 Đặc trưng về âm nhạc.
Có thể nói, người Cờ
Lao xã Túng Sán hiện đang thừa hưởng và lưu giữ một kho tàng âm nhạc dân gian đồ
sộ gồm những bài hát dân ca được lưu truyền miệng trong cộng đồng người Cờ Lao.
Khác với các dân tộc khác, dân ca chủ yến được lưu truyền qua các thầy cúng còn
đối với dân tộc Cờ Lao chủ yếu được lưu truyền qua các nghệ nhân dân gian hoặc
các bậc cao niên, trong đó tiêu biểu là nghệ nhân Vương Thị Thảo (Nguyên đại biểu Quốc hội khoá X, hiện là phó
chủ tịch HĐND xã Túng Sán huyện Hoàng Su Phì). Theo thống kê, hiện có khoảng
trên 200 bài hát cổ được các nghệ nhân người Cờ Lao xã Túng Sán thuộc theo kiểu
truyền khẩu và thường hát trong các dịp lễ tết hoặc trong các đám cưới hỏi,
trong lễ cúng Hoàng Vần Thùng.
Với các dân tộc ít
người khác giai điệu âm nhạc thường theo một mô típ nhất định còn đối với người
Cờ Lao xã Túng Sán thì giai điệu và nội dung âm nhạc tương đối đa dạng và phong
phú, đề cập đến nhiều lĩnh vực của cuộc sống trong đó nhiều nhất là những bài hát
về tình yêu đôi lứa, hát giao duyên. Tuỳ theo từng hoàn cảnh mà các nghệ nhân dân
gian hát những bài hát có nội dung và giai điệu khác nhau. Ví dụ: Khi các đôi
trai gái lần đầu tiên đến chơi nhà thì thường hát bài “mời rượu” nội dung ca từ
ý tứ bay bổng sâu xa nói nên tâm trạng của chủ nhà muốn lưu giữ khách thông qua
chén rượu:
- Một chén rượu
Đầy lại đầy
Hai chúng ta gần cùng năm với nhau
Anh sinh đêm ba mươi tháng Chạp năn trước
Em sinh vào buổi sáng mười lăm tháng Giêng năm sau.
- Hai chén rượu
Đầy lại đầy hơn
Nhờ em, nói hộ lòng anh
Đang tràn đầy nhiều điều như mười chén rượu
Rượu ở trên môi, tâm sự ở trong tim.
- Ba chén rượu
Lá trúc vàng
Trên nhờ bố, dưới nhờ mẹ
Anh có dại thì có anh chị dâu nâng đỡ
Em có dại thì có người thân dạy bảo.
- Bốn chén rượu
Lá trúc xanh
Cầm khăn tay đứng đợi ở đầu chợ
Tay trái đón lòng về buồn buôn.
- Năm chén rượu
Vào tết Đoan Ngọ
Rượu cay như cây hẹ rừng pha với hùng hoàng
Anh uống ba chén đã thấy say say
Em thử nửa chén đã thấy ngả nơi đầu giường.
- Sáu chén rượu
Thấy vội vội
Bố mẹ nói anh không theo hàng lối
Quyền cao chức trọng anh chẳng mơ
Chỉ mong về sau có em giúp anh mọi sự.
- Bảy chén rượu
Là rằm tháng Bảy
Sao em lại gây nhung nhớ cho anh
Hôm qua em đã nói những gì
Thế mà hôm nay đã xa nhau bảy lần bảy rồi.
- Tám chén rượu
Thấy cô đơn
Hai chúng ta tấm lòng như sông Trường Giang
Lòng em cũng trong tráng như sông Trường Giang
Còn lòng anh nhớ em không kể xiết.
- Chín chén rượu
Chín lần nhớ
Hai chúng ta cùng nhau bắc cầu
Anh như nước chảy bên cầu
Em như nước đục ở dưới cầu.
- Mười chén rượu
Mười lần nhớ
Chén vàng đã để dưới chân bàn thờ rồi
Chén vàng đã để trên bàn thờ rồi
Bây giờ nói niềm vui mới đúng thật là vui.
Mười chén rượu
Thấy bầy trời trong sáng
Có con gà trống đã gáy vang giúp chúng ta
Có con gà trống đã gáy vang rất sớm
Em đã đồng ý với anh rồi.
Hoặc khi đôi trai gái
yêu thương nhau mà không lấy được nhau thì khi gặp nhau họ thường hát bài hát về
sự tích Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài. Hoặc trong các đám cưới hỏi hoặc các dịp hội
hè lễ tết để tỏ tình thì người con trai thường hát:
Mưa rơi
xuống đất tụ thành sông
Kết tình
chưa lâu trời đã sáng
Lại sắp
xa nhau ở cách làng
Để thay lời chào thì khách thường hát:
Vào rừng đốn cây động đến đất
Xuống
nước chèo thuyền động đến sông
Vào làng ca hát động làng xóm
Náo động người
già ngủ yên không
Và chủ nhà thường đáp lại;
Vào rừng đốn cây không động đất
Xuống nước bơi
thuyền yên bến sông
Vào làng ca hát
vui hàng xóm
Cả già lẫn trẻ kéo
nghe đông….
Âm nhạc có thể dùng
trong đám cưới, hội hè, cúng tế hoặc tang ma và sử dụng các nhạc cụ kèm theo như:
Kèn, trống, chiêng, kèn lá, tù và...
Chương III
MỘT SỐ Ý NGHĨA CƠ BẢN CỦA ĐẶC TRƯNG VĂN HOÁ
TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC CỜ LAO XÃ TÚNG SÁN.
3.1. NHỮNG BIỂU HIỆN CƠ BẢN.
3.1.1. Thể hiện đặc trưng văn hoá riêng rẽ của tộc người.
Như đã trình bày
ở phần trước, người Cờ Lao xã Túng Sán vốn là một bộ phận của người Dao di cư
sang Việt Nam
muộn nhất. Vì vậy trong bản sắc văn hoá của họ mang rất nhiều những nét đặc trưng
riêng biệt. Mặc dù có sự giao thoa với vốn văn hoá của những người bản địa, nhưng
sự giao thoa đó lại đem lại những giá trị văn hoá độc đáo mới - đặc biệt là lĩnh vực văn hoá tinh thần,
thể hiện qua những lễ thức hết sức đặc thù mang tính tộc người như: Tang ma, cúng
Thành Hoàng hoặc những làn điệu dân ca giao duyên độc đáo và phong phú. Có thể
nói rằng bao trùm trong những đặc trưng văn hoá đó là vô số những lớp phong tục,
tín ngưỡng, văn hoá nghệ thuật và cả các sự kiện lịch sử của tộc người được tích
tụ và bảo lưu.
3.1.2 Là bảo tàng
văn hoá - lịch sử sống động của người Cờ Lao xã Túng Sán.
Xét cho cùng,
những biểu hiện văn hoá của người Cờ Lao còn lưu giữ đến ngày nay, đặc biệt là
những bài cúng trong các lễ thức được coi như những tài liệu ghi chép về quá trình
phát triển của lịch sử tộc người Cờ Lao nói chung và người Cờ Lao xã Túng Sán nói
riêng, đồng thời đây cũng chính là nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hoá nghệ thuật
dân gian phản ánh các hoạt động sinh hoạt vật chất và tinh thần của dân tộc Cờ
Lao xã Túng Sán trong đó đề cập đến các quan niệm về cuộc sống, về lao động sản
xuất, tình yêu nam nữ… một cách phong phú đa dạng. Các hoạt động này đã đáp ứng
nhu cầu đòi hỏi của đời sống tinh thần và tâm linh của con người, giúp họ tồn tại
và dung hoà trong mối quan hệ THIÊN - ĐỊA – NHÂN trải dài suốt quá trình lịch sử
của mình.
Trong lễ cúng
thần Hoàng Vần Thùng với những vật phẩm là sản phẩm của lao động canh tác nông
nghiệp cũng như cách chế biến đã thể hiện rõ nét những đặc trưng văn hoá của nền
văn minh nông nghiệp nhiệt đới. Mặt khác nếu xét về bản chất cũng như phạm vi
không gian và thời gian và cách thức tổ chức buổi lễ thì đây cũng là dịp để cộng
đồng người Cờ Lao xã Túng Sán tăng cường tinh thần gắn bó cấu kết cộng đồng trên
nền tảng quan niệm về đạo đức của tộc người - một điều tối quan trọng để họ tồn
tại trong một xã hội cổ xưa vốn đầy dẫy những bất trắc hiểm hoạ luôn rình dập.
Cũng trong các
bài cúng và các lễ thức trong lễ cúng Hoàng Vần Thùng (Tức Hoàng Tiến Đồng - tên gọi khác của thần rừng hoặc vua Gia Long của
các dân tộc khác) ta thấy có một mối
liên hệ rất rõ nét về một nhân vật lịch sử mà hiện nay chỉ có các dân tộc thuộc
các xã trong hai huyện Hoàng Su Phì và Xín Mần hiện vẫn thờ phụng, hiện nay, tất
cả các dân tộc trên địa bàn 2 huyện này đều lưu truyền các huyền tích về nhân vật
lịch sử Hoàng Vần Thùng hoặc vua Gia long với những di tích, những địa danh và
những câu truyện kể miệng hiện vẫn còn được lưu truyền trong dân gian. Mặc dù
thời điểm tổ chức tế lễ của mỗi dân tộc có khác nhau đồng thời có những dân tộc
có sự khác biệt hoàn toàn về văn hoá như dân tộc Dao, dân tộc Mông, dân tộc Tày,
Nùng nhưng trong các bài cúng thần rừng hoặc cúng trong lễ tết thanh minh, cúng
mùng 5 tháng 5 âm lịch hàng năm đều nhắc đến tên một nhân vật chính là Hoàng Vần
Thùng (Hoặc vua Gia Long hay Thần rừng như
đã nói ở trên) nhưng hiện chỉ có dân tộc Cờ Lao xã Túng Sán huyện Hoàng Su
Phì là có một lễ hội với quy mô tộc người dành riêng cho vị thần này (Củng Miẻu). Phải chăng đây là một nhân vật
lịch sử đại diện cho một thời kỳ văn minh chung của các tộc người hiện vẫn sinh
sống trên địa bàn hai huyện Hoàng Su phì và Xín Mần của tỉnh Hà Giang? Có lẽ đây
là một bí ẩn của lịch sử đang cần sự quan tâm nghiên cứu và giải đáp cuả các nhà
khoa học lịch sử.
3.1.3. Tính sử thi của các bài cúng.
Các bài cúng của
Cờ Lao xã Túng Sán nếu xét về thực chất thì đó chính là một bộ sử thi ghi lại một
cách tương đối đầy đủ quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Cờ Lao xã
Túng Sán. Đồng thời nó cũng chứa đựng phản ánh một phần tư tưởng về thế giới
quan duy tâm của người phương đông thời trung cổ (thần thánh sinh ra vũ trụ, bốn
mùa, thuyết luân hồi, thế giới thần ma...) và nhân sinh quan với những cách thức
ứng xử một cách dung hoà giữa con người với thiên nhiên, giữa người với người và
giữa người với thế giới thần trong mối quan hệ THIÊN - ĐỊA - NHÂN.
3.2 Ý KIẾN ĐỀ XUẤT NHẰM DUY TRÌ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NHỮNG
GIÁ TRỊ VĂN HOÁ CỦA NGƯỜI CỜ LAO XÃ TÚNG SÁN
3.2.1: những vấn đề đặt ra.
Vì nhiều nguyên
nhân lịch sử mà quá trình phát triển của dân tộc Cờ Lao xã Túng Sán diễn ra một
cách chậm chạp, nhưng nhiều năm trở lại đây dưới sự quan tâm của Đảng và nhà nước
cũng như chính quyền địa phương trong việc tăng cường đầu tư khoa học kỹ thuật
và xây dựng cơ sở hạ tầng như hệ thống điện - đường - trường - trạm, áp dụng
gieo trồng chăn nuôi các loại cây - con
giống mới có năng xuất sản lượng cao nên cuộc sống của đồng bào Cờ Lao xã Túng
Sán đã có sự thay đổi cơ bản. Sự chuyển biến mạnh mẽ về kinh tế đã tạo điều tích cực cho đồng bào mở mang giao lưu với các
dân tộc khác khiến cho sự tiếp biến văn hoá đã diễn ra ở cường độ cao, vì vậy đã
góp phần xoá dần khoảng cách giữa miền núi với miền xuôi.
Tuy nhiên, sự đổi
thay về kinh tế đã khiến cho đồng bào dân tộc Cờ Lao ở đây đang đánh mất dần những giá trị văn hoá
truyền thống độc đáo của mình mà trong đó việc duy trì và hát những làn điệu dân
ca truyền thống là một thí dụ. Thực tế hiện nay những bài hát đang có xu hướng
mất dần bởi chỉ còn một vài nghệ nhân cao tuổi nắm được. Vì vậy, trong xu thế
chung của sự vận động theo cơ chế phát triển của nền kinh tế thị trường thì việc
duy trì bản sắc và sự đa dạng văn hoá của dân tộc Cờ Lao xã Túng Sán cùng với
việc tạo ra cho họ cơ hội tiếp thu những giá trị văn hoá của các dân tộc khác
trên cơ sở sự lựa chọn của chính họ để từng bước đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hưởng
thụ văn hoá và góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế là một việc làm cần
thiết.
3.2.2: Ý kiến đề xuất nhằm duy trì bảo tồn và phát huy những
giá trị văn hoá của dân tộc Cờ Lao xã Túng Sán.
Từ những kết quả
nghiên cứu khảo sát đặc trưng văn hoá của dân tộc Cờ Lao xã Túng Sán, xin đề xuất
một vài ý kiến nhằm duy trì bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá của người
Cờ Lao xã Túng Sán, tập trung ở một số điểm sau:
+
Các cơ quan hữu quan như ngành Văn hoá thông tin, cấp Uỷ Chính quyền cơ sở cần
tổ chức nghiên cứu tổng thể văn hoá truyền thống của người Cờ Lao xã Túng Sán,
trên cơ sở đó có biện pháp bảo tồn gìn giữ những vốn văn hoá độc đáo của họ, nhất
là những làn điệu dân ca và những bài cúng hiện đang có nguy cơ mất dần.
+ Tiếp tục duy trì và phát huy những yếu tố tích
cực của các trưởng họ, trưởng tộc trên cơ sở tranh thủ uy tín của họ trong việc
quản lý xã hội của địa phương.
+ Tiến hành nghiên cứu lễ cúng thành hoàng Hoàng
Vần Thùng để làm rõ nhân thân cũng như mối liên hệ về nhân vật này trong truyền
thuyết của các dân tộc trên địa bàn 02 huyện Hoàng Su Phì và Xín Mần bởi đây là
nơi duy nhất còn tổ chức cúng tế nhân vật này.
KẾT LUẬN
Trong đời sống cộng đồng,
bất kỳ một dân tộc nào cũng đều có những giá trị văn hoá riêng biệt. Đối với người
Cờ Lao xã Túng Sán, mặc dù có sự giao thoa tiếp biến văn hoá với một số các dân
tộc khác cùng sinh sống trên địa bàn do sự chi phối của thời gian và nhiều yếu
tố khác, nhưng bao trùm lên những sắc thái biểu hiện của những đặc trưng văn hoá
của cộng đồng người Cờ Lao xã Túng Sán là một sắc thái văn hoá độc đáo và riêng
rẽ với những quan niệm về nhân sinh quan, thế giới quan. Những đặc trưng này được
đúc kết, được tích tụ mà biểu hiện của nó là những khía cạnh văn hoá độc đáo như
đã phân tích ở trên, nó vừa chứa đựng những nét tương đồng của dân tộc Cờ Lao nói
chung vừa chứa đựng những yếu tố sắc thái riêng biệt của người Cờ Lao xã Túng Sán, tạo thành sự thống nhất
trong đa dạng của nền văn hoá Việt Nam nói chung và các dân tộc thiểu số miền núi
phía bắc nói riêng, nó tồn tại từ cội nguồn khởi thuỷ được biến đổi lựa chọn
qua thời gian và tồn tại đến ngày nay chính là những phiên bản của quá trình đấu
tranh gian khổ và chung sống hài hoà với thiên nhiên để tồn tại của người Cờ Lao xã Túng Sán mà dấu ấn văn hoá của nó với
những chất nhân văn được biểu hiện rất rõ nét trong các đặc trưng văn hoá của họ.
Trong giai đoạn hiện nay,
do sự tác động về nhiều mặt khiến quá trình tiếp biến đó xảy ra tương đối mạnh
mẽ mà bên cạnh những giá trị tốt đẹp nó đã mang lại thì sự đánh mất dần những
giá trị văn hoá truyền thống của người Cờ Lao xã Túng Sán cũng đã và đang xảy
ra. Vì vậy việc duy trì bản sắc và sự đa dạng của người Cờ Lao xã Túng Sán, đồng
thời tạo ra những cơ hội để họ giới thiệu với cộng đồng rộng rãi cũng như tiếp
thu những giá trị văn hoá của các dân tộc cùng chung sống trên địa bàn là điều
hết sức cần thiết.
Từ trước đến nay, Đảng và
nhà nước ta luôn quan tâm đến việc xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên
tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Văn kiện hội nghị lần thứ 5 BCH Trung ương Đảng cộng
sản Việt Nam (khoá 8) Đã nêu rõ: “Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa
là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội ” và: “Di sản văn hoá là tài sản vô giá gắn kết cộng
đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, là cơ sở để sáng tạo những giá trị
mới và giao lưu văn hoá… hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa phát huy những giá
trị văn hoá truyền thống, văn hoá cách mạng, bao gồm cả văn hoá vật thể và phi
vật thể”. Điều đó cũng có nghĩa rằng: Chăm lo phát triển văn hoá là chăm lo
củng cố nền tảng tinh thần của xã hội trên cơ sở hết sức coi trọng và bảo tồn,
phát huy những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc. Đó cũng là mục tiêu và
định hướng cho việc bảo tồn gìn giữ những giá trị văn hoá truyền thống của người
Cờ Lao xã Túng Sán huyện Hoàng Su Phì tỉnh
Hà giang.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét