Cánh đồng tuổi thơ.
Trần Chí Nhân – BCH Hội văn
học nghệ thuật tỉnh Hà Giang.
Tháng ba.
Cái nắng đầu mùa không chói chang, cứ
trong veo như nước giếng nhưng làm nhức cả mắt mỗi khi nhìn thật lâu và sâu thẳm
vào trong nó.
Nhà thằng Khanh nằm ngay dưới chân quả đồi
xum xuê cây cối của thôn Gò Đình. Sở dĩ có cái tên gọi là lạ như vậy là vì ngay
phía quả gò trước cửa nhà nó có ngôi đình Thọ Vực to tướng. Trước kia, thời chế
độ hợp tác xã nông nghiệp thì thôn Gò đình thuộc biên chế của Đội sản xuất số 3
HTX Hồng Lạc, từ năm 1985 khi giải thể mô hình HTX nông nghiệp thì xã Hồng lạc
bây giờ được chia nhỏ thành các thôn thì người ta tìm cho thôn cái tên gọi mới,
và cái tên thôn Gò Đình có từ ngày ấy. Ngay phía trước Gò Đình là cánh đồng trũng
chạy ngoằn nghèo, xen lẫn giữa những ruộng lúa là những khóm cây ắn, cây và mọc
lúp xúp mọc đầy những búp non tím ngắt. Dọc hai bên rộc ruộng là những vườn mía
xanh rì. Thi thoảng, những cơn gió cuốn theo mùi phấn mía, mùi hương của lúa
non quyện lẫn mùi nắng nồng nồng tạo lên thứ hương vị thật đặc biệt, mỗi khi ngửi
thấy thằng Khanh thường bảo: Mùi mùa hè đấy!
Vào những buổi trưa, cái nắng đầu hạ khiến
những lá lúa cuộn tròn lại ôm chặt lấy búp đòng đòng như người mẹ ôm đứa con để
chở che trước ánh nắng đầu mùa, ấy cũng là lúc thằng Khanh thường vác cái cần câu
và chiếc hộp mồi bằng ống bơ sữa bò ra bãi bềnh ở giữa dộc ruộng câu cá. Chui vào
một bụi cây và cành lá xum suê cạnh khoảng ao mọc đầy cỏ rôm nó móc một đoạn
giun đất vào chiếc lưỡi câu rồi thả xuống nước. Lũ cá rô và cá chê thường ngày
vốn thích ẩn mình trong bãi bềnh bị mùi
giun đất kích thích khiến chúng tranh nhau ăn mồi làm thằng Khanh giật mỏi cả
tay. Những con cá béo vàng thi nhau chui vào cái giỏ tre treo ngay dưới mép nước
cạnh gốc cây và khiến thằng Khanh vô cùng thích thú. Đi câu cá buổi trưa vẫn là
một thú vui của nó bởi nó luôn được sống trong cái cảm giác tò mò hồi hộp, nhất
là khi cá cắn câu khiến cái phao nhấp nháy rồi bị kéo trôi tuột vào phía trong
bãi bềnh và cái cảm giác sần sật nặng tay khi giật cái cần khiến con cá dãy dụa
ở phía cuối đoạn dây cước câu. Lắm hôm giở giời cá ra ăn nhiều nó câu được cả
giỏ. Giống cá chê mà nấu canh dưa hoặc măng chua thì không gì ngon bằng.
Câu cá chán, thằng
Khanh đi tìm trứng vịt, trứng chim quốc. Những gốc cây và, cây ắn mọc um tùm,
những vạt ruộng lúa nếp cao vút đầu thật là thiên đường lý tưởng cho bầy chim
quốc làm tổ, những đàn vịt bầu mải ăn quên cả đường về cũng tìm những búi cây dậm
rạp để ngủ và đẻ trứng. Giống chim quốc tuy to xác nhưng thật lười nhác, cả ngày
chỉ mải kiếm mồi đến nỗi quên cả làm tổ, đến khi sắp đẻ mới bẻ vội vàng vài cọng
lúa thấp tè hoặc mấy cái ngọn cây và để làm chiếc tổ tạm bợ thoáng nhìn trông
như cái tổ chuột, Có buổi thằng Khanh tìm được cả chục quả trứng hoa hoa vằn vằn
như trứng chim cút. Vào mùa mưa, cây cỏ mọc xanh mướt, tôm cá thi nhau đẻ trứng,
cào cào trâu chấu sinh sôi nảy nở hàng đàn làm mồi cho lũ chim quốc thoả sức ăn
đến béo múp.
Ở cái vùng quê này vào mùa hè không thể
thiếu tiếng chim quốc kêu, nhất là sau những trận mưa rào tiếng ếch ương, à uôm,
chẫu tràng, tiếng ếch vang lên cả đêm với nhiều cung bậc khác nhau tạo thành bản
nhạc đồng quê thật đặc biệt, và trong cái bản nhạc nhiều âm sắc đó tiếng quốc kêu
vang lên khô khốc như tiếng nấc. Ngày còn nhỏ, thằng Khanh thường nghe mẹ kể quốc
là giống chim rất chung thuỷ, sống có tình nghĩa, chúng sống thành từng đôi, có
một con vợ, một con chồng. Vào đầu mùa hè chúng làm tổ, đẻ trứng và ấp trứng nở
thành đàn con. Hàng ngày đàn quốc con quanh quẩn theo cha mẹ kiếm mồi. Theo thời
gian, đàn quốc con khôn lớn và cần nhiều thức ăn hơn, quốc bố, quốc mẹ phải nhường
hết những con mồi mà mình kiếm được cho lũ con háu đói và nghịch ngợm và chỉ ăn
những miếng mồi thừa của đàn quốc con khiến quốc bố quốc mẹ gầy dộc. Một ngày
kia, khi lũ quốc con khôn lớn thì cũng là lúc quốc bố quốc mẹ gần kiệt sức vì
luôn nhường nhịn thức ăn cho đàn con, hiểu ra sự thật, đàn quốc con đành phải dứt
lòng chốn đi kiếm ăn ở một nơi khác để nhường lại thức ăn cho quốc bố quốc mẹ.
Qua một đêm ngủ dậy, quốc bố quốc mẹ thấy mất đàn quốc con chúng gọi mãi, gọi mãi
mà lũ quốc con cũng không về, quốc bố quốc mẹ vô cùng ân hận vì nghĩ rằng chỉ vì
chúng ngủ quá say mà để đàn con lạc đi mất. Từ đó, quốc bố quốc mẹ quên ăn, quên
ngủ để gọi hy vọng đàn con nghe tiếng cha mẹ gọi mà quay về. Quốc bố, quốc mẹ gọi
mãi đến mất cả tiếng khiến cho tiếng gọi tắc nghẹn lại như tiếng nấc khóc đàn
con bội bạc. Gọi đến kiệt sức, cả quốc bố, quốc mẹ chết héo bên bờ ruộng. Một
ngày, đàn quốc con khi đã khôn lớn chúng quay về thửa ruộng nơi chúng đã sinh
ra để tìm bố mẹ nhưng tìm mãi mà vẫn không thấy, chúng ân hận vì đã nông nổi chốn
bố mẹ ra đi. Từ đó, hàng đêm đàn quốc con lại cất tiếng gọi như để tạ lỗi với
quốc bố quốc mẹ vì lỗi lầm của mình.
Chẳng biết chuyện đó có thật hay không nhưng
thằng Khanh thấy không tin lắm vì nó thấy hàng ngày vẫn có hàng toán người lạ
hoắc từ đâu đến dùng chiếc sáo bằng ống nứa thổi hệt như tiếng quốc kêu rồi giăng
lưới để dụ đàn quốc vào lưới. Những con quốc béo múp đen chũi to như nắm tay nằm
chật ních trong chiếc lồng chứng tỏ chúng chẳng nhớ bố mẹ đến nhịn ăn một chút
nào. Duy chỉ có một lần nó đi tìm trứng thì thấy một đàn quốc con màu nâu xám đang
bơi, nó đuổi theo và bắt được hai con về nhốt vào chiếc lồng, cả buổi trưa nó bỏ
câu cá để đi bắt cào cào bón cho hai con quốc vậy mà không hiểu sao cả hai con
chẳng con nào chịu ăn suốt ngày chỉ kêu chiêm chiếp, được mấy hôm thì lăn ra chết,
mẹ thằng Khanh bảo hai con chim đó chết
là do nhớ mẹ. Thương hai con chim, nó dủ Nhật - thằng bạn cùng xóm đào một chiếc
hố để chôn. Từ ấy chẳng bao giờ thằng Khanh bắt chim non để nuôi nữa.
Cánh đồng chiêm trũng trước cửa nhà thằng
Khanh vào mùa quốc kêu quả là một kho báu đối với nó. Cuối tháng ba khi những
trận mưa rào đầu mùa vừa đổ xuống là nó vác ngay mấy cái đó hai mang ra đặt ở
những lạch nước để đơm những con cá rô, cá chạch và cả những con cua vàng khè đang
rực trứng chờ đẻ, qua một đêm phải bắt được cả chậu. Ăn chán, mẹ nó đem nấu cho
lợn và phơi khô cất đến mùa đông ăn dần.
Giữa mùa mưa, khi những cơn lũ từ phía thượng
nguồn sông Lô cuồn cuộn đổ về đem theo vô số những hạt phù sa từ phía thượng
nguồn dâng ngập cả những cánh đồng mới gặt, từng đàn cá chép, cá chày theo dòng
nước vào kiếm mồi và vật đẻ quanh những khóm giạ và những bụi cây thì nó lại
theo Bố đi thả cụp bẫy cá. Khi nước rút, nó kiếm những cành cây tươi cắm vào những
thửa ruộng để lấy chỗ cho cá trú nắng chờ khi nước gần cạn mới be bờ tát cạn nước
bắt được vô số cá rô, cá diếc cho mẹ làm mắm.
Với thằng Khanh, việc đi đặt lờ tát cá
hoặc đặt ống đánh lươn là một thú vui không thể cưỡng lại, đi học về ăn vội miếng
cơm rồi quẳng bát đũa là nó vơ ngay cái cần câu hoặc cái giỏ và chiếc gầu sòng để
ra đồng bắt cá. Nhà nó đông anh em lắm, nó là đứa thứ tư trong bẩy chị em bốn
trai và ba gái, năm nó mười bốn tuổi mà các chị nó vẫn chưa chịu lấy chồng, đến
bữa cơm cả chín người ngồi vòng quanh chiếc mâm gỗ như buổi họp thôn, nhưng không
phải vì thế mà nó phải dầm mưa dãi nắng kiếm thức ăn cho gia đình vì ở cái vùng
đồng trũng này việc kiếm thức ăn tươi thật dễ như lên núi kiếm củi và chẳng tốn
nhiều công sức mà cái chính là do sở thích của nó. Dãi nắng nhiều khiến tấm lưng
nó đen bóng như đồng hun, chiếc áo ba lỗ xám ngoét rách như tổ đỉa chỉ còn hai
chiếc quai bám vào vai như hai chiếc dây súng cao su cả ngày nhấp nhô dưới ruộng.
Cũng may mà Ông trời phú cho nó sức khoẻ vì chẳng bao giờ thấy nó dùng một viên
thuốc. Nhiều khi nó bị bố vác roi đánh thừa sống thiếu chết vì sợ nó ốm nhưng cũng
chỉ được vài ngày rồi đâu lại hoàn đấy.
Cái cánh đồng trũng này gắn bó với nó như
máu thịt, nuôi dưỡng nó lớn lên từng ngày bằng con cua con ốc. Nhắm mắt lại nó
cũng nhớ được từng đoạn bờ, từng cái vũng, bãi bềnh gốc cây mà nó thường ngồi câu
cá. Nhớ cái dạo chú nó đưa nó về thăm Hà Nội, lúc đầu nó hăm hăm hở hở vì được
về thủ đô thăm Bác Hồ, nó bước đi trong ánh mắt ghen tỵ của mấy đứa bạn cùng xóm,
ấy vậy mà cũng chỉ được một tuần đã thấy nó mò về nhà. Bố nó tưởng là nó lỡ cắp
trộm hay làm điều gì xấu bị chú đuổi liền quay ra mắng cho một thôi khiến nó oà
khóc, một lúc sau mới phân trần rằng ở Hà Nội
buồn lắm, mấy con khỉ con rắn ở vườn Bách thú xem đi xem lại mãi cũng chán, ra đường
thì xe cộ đinh tai nhức óc và lúc nào cũng nơm nớp lo sợ vì bị xe tông nhưng điều
khiến nó nhớ nhà nhất chính là cánh đồng trũng ngay trước cửa nhà nó. Nó nhớ da
diết tiếng cuốc kêu, nhớ khoảng ao và gốc cây mà nó vẫn hay ngồi câu cá, nó nhớ
cả bữa cơm có món canh cua đồng nấu với rau đay mà cả nhà vẫn hay ăn, ngon hơn đứt
món canh xương hầm mà người Hà Nội nấu. Đi chơi với đám bạn bè sau khi kể cho
chúng nghe những chuyện về Hà Nội rồi nó chợt tỉnh bơ buông một câu nhận xét: Hà
Nội không vui bằng ở nhà quê khiến bọn bạn đứa nào đứa ấy trố mắt vì lạ.
Khoán 100 rồi khoán 10 đến với các vùng nông
thôn như một quy luật tất yếu của lịch sử. Cánh đồng trước của nhà nó được chia
thành các thửa ruộng nhỏ để phân cho các hộ gia đình. Người dân quê nó tập
trung đầu tư nhiều hơn cho nông nghiệp vì đó chính là miếng cơm manh áo của họ.
Những gốc cây và, cây ắn được các gia đình chặt sạch để đun bếp và nhường chỗ
cho những thửa ruộng lúa cao sản. Cái bãi bềnh mà nó vẫn hay ra câu cá được mấy
gia đình móc sạch bùn lên phơi khô để bón
vào vườn cho tốt đất. Đoạn đê phía bờ sông cũng được tôn cao để ngăn nước ngập
khiến cho lũ cá chẳng thể vào kiếm ăn đẻ trứng.
Thằng Khanh cũng lớn dần theo thời gian, học xong cấp 3 nó đi bộ đội sau
đó xin đi học và chuyển ngành về công tác một huyện vùng cao mãi tít trên biên
giới Hà Giang, các chị các em nó nay cũng mỗi người một nơi chỉ còn lại chú út ở
nhà chăm sóc hai bố mẹ già. Hàng năm vào dịp hè, cậu xin nghỉ phép về thăm gia đình,
Khanh đứng lặng hàng giờ trước cánh đồng trũng trước đây đầy những cây và cây ắn,
những bài bềnh đầy lau sậy giờ đã trở thành một cánh đồng phẳng phiu thẳng cánh
cò bay mỗi năm 3 vụ. Giữa tháng sáu mà ban đêm vắng lặng cả tiếng ếch nhái, tiếng
quốc kêu gọi hè, mẹ Khanh bảo những người ở ngoài phố Huyện hay vào đây bẫy
chim quốc lắm, có ngày bẫy được cả trăm con, không còn chỗ để trú ngụ sinh sôi,
đàn quốc bây giờ hầu như đã bị tận diệt.
Chiều ấy, Mẹ Khanh đi mua mấy lạng cua về
nấu canh cho cậu ăn, ngồi nhặt những con cua bé tí tẹo gầy nhom mẹ bảo bây giờ
cánh đồng này cua cá không còn vì mỗi năm cấy trồng ba vụ, thuốc trừ sâu, diệt
cỏ đã làm chúng chết sạch, muốn ăn thì phải đi mua ở nơi khác về.
Nghe mẹ kể mà Khanh thấy nhói trong lòng,
thấy thương cho cánh đồng tuổi thơ của mình.
Gò Đình, tháng 3 năm 2013
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét